Markus Wolf - Người không chân dung
Lượt xem: 7698

Tùy bút nhân đọc Hồi ký Người Không Chân Dung*  của Tướng Markus Wolf – VIPEN 2015)

nguoikhongchandung_markuswolf01
Bìa sách "Người Không Chân Dung“ của Họa sĩ Thai Gottsmann

Rốt cuộc ấn bản tiếng Việt cuốn Người Không Chân Dung của Tướng Markus Wolf  đã được VIPEN xuất bản nhân dịp hai nước CHLB Đức và CHXHCN Việt Nam kỷ niệm 40 năm (1975-2015) thiết lập quan hệ ngoại giao.

Cuốn sách cũng ra mắt nhân dịp người Đức kỷ niệm 25 năm thống nhất nước Đức (1990-2015) và nước CHXHCN Việt Nam vừa trải qua lễ kỷ niệm 40 năm thống nhất Bắc Nam (1975-2015) và lễ kỷ niệm Quốc khánh lần thứ 70 (1945-2015). Dù VIPEN tình cờ hay cố ý để “nhân dịp” thì trước hết độc giả Việt ngữ rất muốn biết vị Tướng này là ai?

1. Markus Wolf là ai?

Makus Wolf tuổi Nhâm Tuất. Ông sinh ngày 19 tháng 01 năm 1923 mất ngày 09 tháng 11 năm 2006. Vị Đại tướng trùm tình báo của cộng sản Đông Đức lại sinh ra ở Tây Đức - tại Hechingen, một thành phố nhỏ ở Würtenberg. Ông là con trai cả của nhà văn, nhà bi kịch Friedrich Wolf, một người Do Thái ngưỡng mộ chủ nghĩa Mark – là một nhà văn Đức tầm cỡ tới mức: nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh của ông (23/12/1888 – 23/12/1988) - người ta đã đặt tên Friedrich Wolf  cho một con đường gần sông Rhine ở phía Nam thành phố Bonn.

Mẹ ông, tên là Else. Bà “là người điềm đạm và hiền hậu nhưng không thiếu can đảm cho dù phải chịu đựng những lục soát thô bạo của Quốc xã trong nhà hoặc của công an mật vụ Stalin.“( Người Không Chân Dung-Chương 2- Thoát khỏi ác bóng Hittler- NGT dịch)

Cả hai đều là các thành viên cốt cán của Đảng cộng sản Đức. Từ khi Đức quốc xã lên ngôi gia đình Wolf lọt vào danh sách bị truy nã. Bố ông, chạy trốn sang Pháp. Sau đó, 1934 cả hai vợ chồng cùng hai cậu con trai Markus Wolf và Konrad Wolf chạy sang Moskau và xin tỵ nạn chính trị tại đó. Để rồi suốt mười năm sau (1934-1944), hai anh em ông được giáo dục và uốn nắn theo khuôn mẫu giáo dục của Đảng cộng sản Nga.

Khác với em trai Konrad Wolf, không trở thành người lính trong hàng ngũ Hồng quân để trở về Đức vào năm 1944, Markus Wolf theo học Đại học hàng không tại Moskau từ năm 1940. Mùa hè năm 1942, ông được cử đi học ở Trường đặc biệt của Quốc tế Cộng sản ở Ufa như là bước chuẩn bị cho hoạt động điệp báo. Năm 1945, chàng Markus Wolf 22 tuổi được Đảng cộng sản Đức biệt phái về thành phố Berlin hoang tàn đổ nát để xây dựng và điều hành một Đài phát thanh.

Nhờ vốn tiếng Nga, chàng giao lưu thân mật với hầu hết các cấp lãnh đạo quân đội Xô Viết trong vùng chiếm đóng của Liên Xô và những người Đức lưu vong nhờ sống sót mà sau này được đưa lên hàng thủ lĩnh. Năm 1949, nước CHDC Đức ra đời. Tháng 08 năm 1951, Cục tình báo chính trị Đông Đức được thành lập bởi quyết định của Bộ chính trị BCHTW Đảng XHTN Đức. Ngày 16 tháng 08 năm 1951, Cơ quan Tình báo đối ngoại của CHDC Đức được lập ra ẩn dưới danh xưng là Viện Nghiên cứu Kinh tế. Những khởi sự đầy tài năng của Markus Wolf lập tức được các lãnh đạo phát hiện. Họ lập tức gửi chàng sang Moskau vài năm liền để hoạt động như  là một nhà ngoại giao của CHDC Đức. Sau đó, tháng 12 năm 1952, năm bản mệnh chàng mang số Một, Markus Wolf được trao quyền lãnh đạo Cục Tình báo Hải ngoại của CHDC Đức. Lúc đó, chàng mới suýt soát 30 tuổi. Chàng tuổi Nhâm Tuất. Quả là Nhâm biến vi Vương. Ngày tháng năm sinh của chàng (19/01/1923) có tới ba số 1. Hai số 9. Một số 2. Một con số 3. Cho nên cả đời chàng thường xuyên là kẻ đứng đầu, hay đạt tới hoàn hảo, đôi khi cô đơn cùng cực vì cũng đa tình. May mà sự thông thái tiềm tàng luôn bừng sáng ở những bước ngoặt cho nên chàng đã thành danh, đạt nghiệp trong thời đại tàn bạo mà vẫn bảo toàn sinh mệnh. Chỉ có điều chàng không ngờ CHDC Đức đã chỉ tồn tại và phát triển tới năm thứ 40.  

Ngay trong Lời mở đầu, Markus Wolf đã khẳng định: “Trong vòng ba mươi tư năm tôi đã giữ chức vụ giám đốc cơ quan tình báo hải ngoại của Bộ công an của nước CHDC Đức. Ngay cả những kẻ thù gay gắt nhất của tôi cũng công nhận đây có lẽ là cơ quan năng lực nhất và hiệu dụng nhất lục địa Châu Âu”.

2. Markus Wolf – một bậc thầy lớn của tình báo thời Chiến tranh Lạnh


Markus Wolf  & phu nhân Andrea ( trái) 27 tháng 5 năm 1997
– Photo. rnd

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia cũng đã thừa nhận: “Dưới thời Markus Wolf, Cơ quan tình báo đối ngoại Đông Đức trở thành một trong những tổ chức hiệu quả nhất trên thế giới.

Năm 1986, Đại tướng Markus Wolf nghỉ hưu. Nhân sự trong bộ máy công an của Đông Đức được báo chí, chính khách và quan tòa coi là kẻ thù của nhân dân. Ngày 15 tháng 1 năm 1990 Bộ nội vụ Đông Đức bị dân chúng tấn công và phanh phui một số tài liệu cho thấy cảnh sát chính quyền Đông Đức  đã theo dõi từng người dân Đông Đức như thế nào làm cho dân chúng càng thêm phẫn nộ. Sau khi bức tường Berlin và chủ nhân của nó là chế độ Đông Đức sụp đổ, ông chạy sang Nga”.

Sự thật là “sáu ngày trước ngày 03 tháng 10 năm 1990, ông Wolf và bà Andrea, người vợ nhỏ hơn ông 13 tuổi, đào thoát khỏi Đông Berlin, trốn qua biên giới Áo, và một vài  tuần sau tìm đường tẩu thoát – dù sao thì ông Wolf cũng biết khá rõ kỹ thuật này – sang Hungaria, rồi sang Ukraine và đến Nga.“( Theo Graig R. Whitney-Lời Tựa cho Người Không Chân Dung-xuất bản tại Hoa Kỳ 1997). Bởi ông biết rất rõ mình sẽ bị đi tù vì nước Đức thống nhất sẽ đòi ông trả những món nợ thời cuộc. Người ta đoan chắc: lúc 12 giờ đêm ngày nước Đức thống nhất, ông đã nhấc điện thoại gọi tới bạn bè của ông ở KGB để bàn tính kế hoạch xin tỵ nạn chính trị tại Moskau. Tuy nhiên, chỉ hơn một tháng sau, ông phải trở lại Đức khi cay đắng nhận ra rằng nước Nga đã không còn muốn chứa chấp ông. Lúc đó trong mắt Gorbachev, người đang đặt cược tương lai của nước Nga vào mối giao hảo với Helmut Kohl và CHLB Đức thì dù M.Wolf có là bạn thiết của KGB thì ông cũng chỉ còn là “biểu tượng của một quá khứ không đáng tin cậy”. Với bản lĩnh một vị tướng tình báo, ông ra đầu thú tại biên giới Áo và bị bắt tức thì. Nhờ sự can thiệp của bè bạn và các cộng tác viên cũ tại Đông Berlin, sau đó ông được tại ngoại để hậu tra.

Thực ra ông đã có thể không bị bắt nếu chấp nhận hợp tác với CIA . Nguyên do: “Năm 1990, CIA chỉ biết là có một người đang bán những bí mật sâu kín nhất của họ và đã gây thiệt hại chí mạng. CIA lúc đó nghĩ rằng ông Wolf có thể giúp họ tìm ra tên phản bội.

Ngày 22 tháng 05, Gardner A.Hathaway, gần đây đã về hưu rời  chức phụ tá giám đốc phán gián, đến căn nhà an dưỡng của ông Wolf… Hathaway đưa ra một đề nghị rất đặc biệt: xin ông giúp chúng tôi và chúng tôi sẽ đưa ông ra khỏi nước Đức để sang Hoa Kỳ trước khi họ đến bắt ông vào tháng Mười. Đưa tôi sang Hoa Kỳ trước đã và chúng ta sẽ nói chuyện tại đó, ông Wolf đáp lời đề nghị; nhưng ông Hathaway nhấn mạnh: Không có thỏa thuận hợp tác thì không có vé máy bay. Ông Wolf nhìn nhận rằng lời mời rất hấp dẫn mặc dù ông chỉ ước định những gì mà CIA muốn ông giúp đỡ. CIA đã có một danh sách ghi vào phim của tất cả những nhân viên của ông. Ông biết chắc chắn như vậy; vì danh sách này đã được bí mật thu thập do các tay chiêu hồi hoặc tham lợi thuộc thành phần viên chức HVA cung cấp (CIA sau này xác nhận là họ có những thông tin này nhưng vào năm 1999 họ từ chối trao lại danh sách này cho chính quyền Đức khi chính quyền Đức yêu cầu). Nhưng có lẽ CIA muốn biết thêm tin tức nằm ngoài danh sách này. Có lẽ họ cũng muốn học hỏi ông Wolf về những phương thức hành động của Xô Viết với mục đích huy động nhân viên phản gián tại Langley (Trụ sở tình báo CIA tại Hoa Kỳ) để truy tìm những nhân viên của Moskau“

Khi ông quyết định không tiết lộ những gì ông biết có nghĩa là ông đã gây bực tức cho Washington và ông từ chối việc đào thoát sang Mỹ. Đương nhiên, như vậy thì Markus Wolf  không thể thoát khỏi sự truy đuổi ráo riết của Bonn khi mà Gorbachev đã lạnh nhạt với ông.

Ông  điềm nhiên đối diện nhiều lần với Pháp đình CHLB Đức trong tư thế điêu linh của kẻ thua cuộc suốt từ mùa Xuân năm 1993 đến tháng Năm 1997. Ông và các luật sư của ông luôn luôn kháng án và thành công từng bước. Cuối cùng Markus Wolf  được tự do sống một đời sống thường dân. Nhưng tự do của ông khiến các kẻ thù cũ của ông tại Đức phải nghiến răng vì họ quyết tâm muốn ông phải khai báo“ (Tư liệu đã dẫn Graig R.Whitney).

Có thể nói, trong những bước đường cùng, Markus Wolf vẫn luôn ứng xử một cách chủ động để tự vệ và thoát hiểm để tiếp tục sống như ông muốn. Ví dụ, ngày 12 tháng Ba năm 1996,  Tổng lãnh sự Hoa Kỳ tại Berlin đã tố cáo Markus Wolf về tội phạm liên quan đến những hành động khủng bố - (một tội danh mà ngay cả chính quyền Tây Đức cũng không dám cáo buộc) để  yêu cầu Sở Di Trú và Quốc Tịch Hoa kỳ không cấp cho ông giấy phép đặc biệt để ông vào Mỹ. Lập tức, một tuần lễ sau (19/03/1996),  Markus  Wolf đã yêu cầu Bill Clinton can thiệp trong một lá thư bằng tiếng Anh gửi trực tiếp cho Tổng thống Mỹ. Tuy nhiên, lá thư này cũng không giúp gì cho Markus Wolf.  Một năm sau (1997) cuốn Người không chân dung đã được xuất bản tại Hoa Kỳ. Kết thúc lời mở đầu của cuốn sách Markus Wolf khẳng định: bất cứ lịch sử nào có danh xưng là lịch sử không thể chỉ do kẻ thắng trận viết ra”.

Graig R.Whitney, một chuyên gia người Mỹ - tác giả  Lời Tựa cho ấn bản tiếng Anh của cuốn sách đã nhận định: “Mặc dù sống trong sự điêu tàn của một thất bại chính trị lớn hơn, ông Wolf vẫn tỏ ra hãnh diện một cách ngoan cố về những thành tích nghề nghiệp của ông …Những điều không nói ra trong sách sẽ làm thất vọng những độc giả mong muốn tìm thấy lời khai thú trong đó. Nhưng những lời khai thú trong nghề điệp báo thường là táng mạng; và ông Wolf là một con người cũng muốn thụ hưởng cuộc đời. Đọc ông Wolf để có một thoáng nhìn khâm phục, chỉ một thoáng thôi, để đi sâu vào tâm não đầy sức thu hút của một trong những bậc thầy điệp báo lớn của thời đại chúng ta, một người mang dấu ấn của cuộc Hỏa diệt Do thái do Đức quốc xã phát động và sau đó là của cuộc phân tranh ý thức thức hệ thời chiến tranh lạnh…“ ( Lời Tựa- Graig R.Whitney -Nguyễn Gia Thưởng dịch)

3. Một nhân cách trí thức kiệt xuất

markus_and_andrea_wolf
Markus Wolf và vợ Andrea

Ngoài lời vào sách của dịch giả Nguyễn Gia Thưởng, lời mở đầu của Markus Wolf và Lời tựa của Graig R.Whitney nội dung cuốn sách do VIPEN xuất bản bao gồm trọn vẹn 17 Chương:

1. Cuộc đấu giá  2. Thoát khỏi ác bóng Hitler  3. Học trò của Stalin

4. Công hòa dân chủ Đức lớn mạnh và tôi lớn theo 5. Vừa học vừa làm

6. Khruschchev mở mắt cho chúng tôi  7. Giải pháp bê tông  8. Làm gián điệp vì tình

9. Hình bóng của Thủ tướng 10. Nọc độc của sự phản bội 11. Tình báo và phản gián

12. “Những biện pháp tích cực” 13. Phong trào khủng bố và  nước CHDC Đức

14. Trong lòng địch 15. Cu Ba 16. Chấm dứt trật tự cũ   17. Lời kết

Không chỉ tựa vào các cột mốc thời gian sự hồi tưởng của tác giả khởi sự từ chiều sâu những chủ đề. Cách cấu trúc Hồi ký  bộc lộ rõ lối tư duy mạch lạc, sâu sắc của một vị tướng tình báo chiến lược. Dù sao đi nữa, chính quyền Stalin đã cứu gia đình ông thoát khỏi sự hủy diệt của Đức quốc xã cho nên ngay từ khi còn trẻ ông nhận trách nhiệm và quyền lực mà Cộng sản Đông Đức giao phó một cách say mê và tận tụy. Tuy vậy, trong chương 6, ông đã tâm sự “Chúng tôi cảm nhận ngôn ngữ tố cáo Stalin của Khrushchev có vẻ mơ hồ và thiên kiến. Nhưng vào lúc đó, chẳng khác gì chúng tôi bị một nhát búa trên đầu. Khi tôi đọc xong bản diễn văn trên báo chí phương Tây (của Khrushchev) phản ứng đầu tiên của tôi là đem bức chân dung của Stalin treo trên tường xuống và đá nó vào một góc. Tôi không thể nói rằng những gì tôi vừa đọc gây chấn động cực kỳ nơi bản thân - vì tôi biết quá nhiều qua những kinh nghiệm cá nhân của tôi trong cuộc sống ở Liên Xô. Nhưng từ đó xuất phát nỗi đau khi tôi nhìn xuống vực thẳm hiển hiện những tội ác của ông.“ (Người không chân Dung-Chương 6 – Khrushchev mở mắt cho chúng tôi – Nguyễn Gia Thưởng dịch).

Theo như Hồi ký Mùa thu 1989 của Egon Krenz, khi Markus Wolf còn tại nhiệm, Honecker xếp ông vào diện người tài, 75 lăm tuổi mới được nghỉ hưu. Cho nên, dù đệ đơn từ năm 1986 lúc mới 63 nhưng mãi tới 1987, 64 tuổi Markus Wolf mới được  Bộ chính trị CHDC Đức chính thức đồng ý cho ông từ nhiệm với lý do cá nhân và gia đình. Thực tình là ông có tham vọng hoàn tất những cuốn sách. Cũng theo Egon Krenz, ngày 26/06/1989, Wolf đề nghị Honecker cho phép ông được trả lời phỏng vấn trên các phương tiện truyền thông của CHDC Đức và phương Tây. Do lúc bấy giờ Honecker đang nghỉ phép nên Egon Krenz hứa với Wolf sẽ xin Honecker phê chuẩn. Nhân dịp đó, Egon Krenz đã đề nghị Wolf: “Tiện dịp anh ở đây, tôi muốn nghe anh nhận định tình hình CHDC Đức hiện tại ra sao?”. ”Thực ra tôi không được chuẩn bị“- Wolf trả lời. “Mischa, anh đi giới thiệu sách nhiều nơi, có quan hệ với nhiều người. Hãy cho tôi biết anh có ấn tượng gì. Tôi rất muốn biết. Wolf bắt đầu kể: “Tôi lo lắng khi nghe những tin tức tiêu cực về Liên bang Xô viết trên các phương tiện truyền thông của ta. Tự chúng ta làm hỏng hình ảnh Chủ nghĩa xã hội. Chúng ta không tận dụng cho mình làn sóng cảm tình do Gorbachev tạo ra. Một điều tệ hại lớn trong phong trào cộng sản quốc tế là chủ nghĩa chủ quan. Trung ương Đảng cần phải quyết định chứ không phải bộ máy quan liêu của nó. Quan trọng là phải đưa ra được nhiều lựa chọn. Vai trò của các Đảng liên minh và Công đoàn ở ta cần phải được đề cao. Trong những vấn đề về chính sách văn hóa, Đảng không được phép là người điều hành trong khủng hoảng. Phải nghiên cứu chính xác việc công dân rời bỏ CHDC Đức. Chúng ta phải hiểu rõ tại sao mọi người từ bỏ chúng ta”. (Mùa Thu 1989-Herbst 1989-Edition ost -2014- trang 105 –Thế Dũng dịch). Egon Krenz đồng ý và chia xẻ với các nhận xét của Wolf.  Tuy vậy, lúc đó ông đã không nói ra một điều hệ trọng (mà ông vừa tuyên bố ở Moskau mấy hôm trước) với Egon Krenz. Mãi đến năm 1991,  trong cuốn“Nhiệm vụ tự trao” , Wolf thuật lại, ở Moskau ông đã nói thẳng thừng với các đồng nghiệp KGB của mình là ông không trông mong gì được nữa vào các vị  lãnh đạo SED.(Herbst 1989- Egon Krenz –Edition 2014 -Tr.106- TD dịch).

Từ tháng Năm năm 1990, Markus Wolf đã không bán danh dự để có thể có một chuyến sang Hoa Kỳ trong sự bảo đảm của CIA khi CIA yêu cầu ông ra tay giúp họ. Năm 1996, hy vọng nhập cảnh vào Mỹ theo con đường công chính nhân việc xuất bản cuốn sách của ông cũng tiêu tan. Vừa đối diện với Tòa án CHLB Đức, ông vừa điềm nhiên tiếp tục sống và làm việc như một người cầm bút để hoàn thành những cuốn sách của đời mình. Cho đến khi ông qua đời vào ngày 09 tháng 11 năm Binh Tuất (2006) số tác phẩm mà ông để lại cũng như số tác phẩm người khác viết về ông đã khẳng định Markus Wolf là một nhà văn giàu tri thức chính khách. Trong lời dẫn nhập nhân dịp tái bản Cỗ Xe Tam Mã (Die Troika –xuất bản lần đầu 1989 tại Aufbau-Verlag và tái bản tại Rororo Verlag năm 1991) ông đã  chân thành bộc lộ: “rõ ràng chủ nghĩa xã hội đã thất bại trên đất Đức, tôi đã nhìn điều đó với sự tuyệt vọng. Và luôn đau đớn tự hỏi mình trong khi làm việc với bản thảo của cuốn sách về một lối thoát có thể tìm cho tôi và gia đình một vị trí trong nước Đức thống nhất.

Tôi đã viết trong những bức thư gửi tới Tổng thổng CHLB Đức Richard von Weizsäcker, tới Willy Brandt và ông Hans-Dietrich Genscher rằng không gì có thể dứt thâm tâm tôi ra khỏi nước Đức. Đó là xứ sở của cha mẹ tôi. Tại đây họ đã tìm thấy cuộc sống hiệu quả sau những năm tháng lưu vong dằng dặc, mộ của họ, mộ của em trai tôi đang nằm ở Berlin. Với tôi nước Đức là nơi mọi nỗ lực, mọi nghị lực, tình yêu và mọi hoạt động của tôi đã diễn ra một cách tích cực trong sáng suốt và trong sai lạc. Cho nên, lưu vong lần thứ hai với tôi là một sự vô ơn.(Geleitwort zur Taschenbuchausgabe –Februar/Oktober 1990- TD dịch).

Lời lẽ của vị tướng tình báo trong Chương Lời Kết của cuốn Hồi ký cho ta thấy bản lĩnh tự thanh lọc của ông: “Kể từ những biến cố quan trọng năm 1989, tôi đã tự hỏi nhiều lần tại sao nước CHDC Đức đã thất bại một cách thảm não và ngoạn mục như vậy. Tôi đã tự hỏi là tôi đã chờ đợi quá lâu để lớn tiếng nói lên những gì tôi thực sự suy nghĩ và cảm nhận. Không phải vì thiếu can đảm mà vì tính chất vô bổ của những lời phản đối trong suốt quá trình lịch sử của nước CHDC Đức đã khiến cho tôi phải tĩnh lặng. Đã quá nhiều lần tôi chứng kiến những lần phản kháng mãnh liệt chỉ đi đến việc gia tăng đàn áp và tước bỏ quyền tư duy độc lập hơn nữa. Tôi tin rằng những cuộc thương thuyết kiên trì và bình lặng cuối cùng sẽ hiệu quả hơn trong một nước mà mọi thảo luận công khai sẽ bị bóp nghẹt vì giới lãnh đạo xem ra quá kích động và bất an để hành xử một cách tế nhị.

…Thực tế phũ phàng của nước CHDC Đức liên quan nhiều đến những lạm dụng quyền hành hơn là chế độ dân chủ và xã hội chủ nghĩa và chính vì vậy Đông Đức cuối cùng đã chết ngộp.Tôi thành thật thú nhận là chế độ của chúng tôi thua kém xa phần lớn các nền dân chủ đa nguyên của Phương Tây, kể cả sự tiện lợi về hệ thống an sinh xã hội của chúng tôi.(Chương17. Lời Kết- Nguyễn Gia Thưởng dịch).

Ngoàì hồi ký Người Không Chân Dung (The Man Without a Face - bản tiếng Anh in ở Mỹ năm 1997, và bản tiếng Đức in ở Econ & List Müchen 1998), bạn đọc có thể tìm đọc những cuốn sách nổi tiếng của Markus Wolf như: Cỗ xe tam mã (hay là một truyện không thể quay phim – Aufbau Verlag 1989), Nhiệm vụ được giao (In eigenem Auftrag - Schneekluth, München 1991), Những bí mật của Bếp Nga (Geheimnisse dẻ rusischen Küche - Rotbuch, Hamburg 1995); Nghệ thuật của sự xắp đặt (Tư liệu, đối thoại và phỏng vấn – Die Kunst der  Verstellung: Dokumente, Gespräche, Interviews – Schwarzkopf und Schwarzkopf, Berlin 1998); Bạn bè không chết (Freunde sterben nicht (Das Neue Berlin 2002). Ngoài ra, dù không còn tại nhiệm (từ năm 1987) nhưng từ khi ông được Honecker phép trả lời phỏng vấn báo chí Đông Đức, Tây Đức cũng như báo chí phương Tây (tháng 06 năm 1989), đã xuất hiện khá nhiều cuốn sách viết về ông và thời ông sống do kết quả của những cuộc giao lưu ấy. Đặc biệt, sau năm ông qua đời (09/11/2006), cuốn Markus Wolf. Đối thoại cuối cùng (Markus Wolf. Letzte Gespräche) của tác giả Hans – Dieter Schütt xuất bản tại Berlin năm 2007 đã chuyển tới người đọc những tâm sự của ông trước khi ông nhắm mắt xuôi tay. Rõ ràng, người không chân dung không muốn mang theo quá nhiều điều bí mật sang thế giới bên kia.

Không chỉ là một bậc thầy lớn của tình báo thời chiến tranh lạnh, trong tư thế nhà văn, Markus Wolf còn là một trí thức kiệt xuất.

4. Phong trào khủng bố và nước CHDC Đức.

Trong Chương 13 mang chủ đề: Phong trào khủng bố và nước CHDC Đức, Markus Wolf đã tự biện hộ cho mình và cho cơ quan tình báo hải ngoại của ông (HVA) một cách thấu đáo: “…Bởi vì tôi là giám đốc của cơ quan  tình báo của Bộ, cho nên không ai lấy làm ngạc nhiên là tôi phải biết tất cả về những mối liên hệ của chính quyền của tôi với nhóm khủng bố. Trên thực tế, tôi biết Đông Đức có mối liên hệ với các tổ chức mà phương Tây cho rằng họ là khủng bố. Nhưng, như tôi giải thích sau đây: tôi không được biết những chi tiết công tác quan trọng. Trách nhiệm hàng đầu của tôi là tình báo, là thu thập tin tức, nhất là tin mật. Đó là điệp báo chứ không phải là khủng bố. Cá nhân tôi chưa hề can dự trong việc lập kế hoạch hoặc thực hiện những hành động khủng bố.

…Những giải thích trên không phải là để tìm cách bào chữa cho những gì đã xảy ra và tôi muốn mọi người thấy rõ mục đích của tôi không phải là để chạy tội. Thực tế là nước CHDC Đức và các cơ quan tình báo hỗ trợ kỹ thuật và tài chính cho những tổ chức mà chúng tôi xem là chính đáng, và một vài tổ chức đi vào con đường khủng bố giết hại thường dân trong chính sách của họ. Nước này cũng bảo vệ những kẻ khủng bố trốn chạy sự truy đuổi của CHLB Đức. Tôi không tham gia vào việc này. Những người khác đều nhúng tay. Họ làm việc của họ, tôi làm việc của tôi. Có lẽ may mắn cho tôi là Mielke, Bộ trưởng Bộ công an, không muốn cho tôi biết; bởi vì điều này sẽ làm tôi sao nhãng không tập trung công tác thu thập những bí mật ở hải ngoại.

Có quá nhiều trách nhiệm cần được chia sẻ và rất nhiều hối tiếc cần phải bầy tỏ. Tôi phải nhấn mạnh tất cả những sai trái chúng tôi đã làm không thể bào chữa được với những gì phương Tây đã làm dưới chính ngọn cờ của họ trong cuộc chiến chống lại chủ nghĩa cộng sản, đã khiến cho Việt Nam và một vài nước Trung Mỹ và Châu Phi phải điêu tàn sau khi cuộc chiến địa lý chính trị đã kết thúc. Đây là phương cách cuộc chiến đã diễn ra trên một vài chiến tuyến. Tôi không tiếp tay cho kẻ khủng bố theo đường hướng này; nhưng chúng tôi chắc chắn đã huấn luyện và đào tạo những con người theo những phương pháp mà sau này họ đã lạm dụng…

Thử hỏi chúng tôi có ý thức được những gì chúng tôi cung cấp có thể được dùng theo những đường hướng mà chúng tôi không đồng ý? Lẽ cố nhiên, nhưng tôi không tin rằng Honecker và ngay cả Mielke tìm cách chế tài những hành vi khủng bố hoặc vũ lực đối với dân thường. Với tư cách giám đốc của một cơ quan tình báo hải ngoại, tôi chấp nhận trách nhiệm về những lạm dụng này – nhưng không phải là nhận tội. Đây là một phân biệt về đạo đức mà tôi hy vọng độc giả chấp nhận để chấm dứt những thái quá của thời buổi đó…

…Tội ác thuộc phạm vi xét xử của luật pháp, trách nhiệm thuộc phạm vi của lương tâm. Nếu chiếu theo pháp luật, chỉ cần nói tất cả những hồ sơ lưu trữ được đội ngũ cần mẫn của những Ủy viên Công tố của CHLB Đức xem xét-họ đã không đưa ra được chứng cứ nào, chưa nói đến tang chứng về sự đồng lõa của tôi trong những hành động bạo lực. Tôi cũng đệ ba đơn kiện những tờ báo nói rằng tôi biết CHDC Đức chứa chấp những kẻ khủng bố Tây Đức khi Bộ công an làm việc này; tôi không hề biết. Hơn thế nữa, tôi bị Bộ ngoại giao Hoa Kỳ từ chối không cấp chiếu khán nhập cảnh viện cớ là tôi đã có lần thương thảo với bọn khủng bố. Tôi không thấy họ trưng bày chứng cớ để hỗ trợ cho những lời kết án này. (Cũng nên chú ý là CIA không hề thắc mắc khi họ mời tôi sang Hoa Kỳ năm 1990; mặc dù Bộ ngoại giao hầu như không biết chuyện này.)

Như câu chuyện của tôi sẽ làm sáng tỏ, các bộ trong cùng một chính quyền, ngay cả những ngành có liên lạc mật thiết với nhau như Cục đối ngoại và Cục tình báo hải ngoại, không nhất thiết cục này phải biết cục kia làm gì”.( Người Không Chân Dung-Chương 13-Nguyễn Gia Thưởng dịch)

Trong suốt thời gian lãnh đạo cơ quan tình báo hải ngoại dưới sự giám sát của Mielke, người đứng đầu bộ máy Công an mật vụ của CHDC Đức, Markus Wolf luôn luôn phải nỗ lực một cách quyết liệt trong cuộc đấu trí với các đối thủ. Tuy nhiên ông và Mielke luôn là hai đối cực. “Do bị ám ảnh bởi mối đe dọa bị khuynh đảo ngay trong nội bộ, Bộ trưởng Mielke đã biến CHDC Đức thành một quốc gia Công an trị hữu hiệu và tàn bạo nhất Đông Âu. Khi chủ nghĩa Cộng sản sụp đổ, Mielke đã trở thành một đối tượng mà mọi người kinh tởm. Cả ông Wolf cũng không có chút cảm tình nào với y. Ông mô tả Mielke là một tên bạo chúa, một cấp lãnh đạo mà ông luôn luôn phải đối đầu vật lộn trong những thủ tục hành chính để bảo vệ tính cách độc lập và tự trị của ngành điệp báo của ông.“( Trích Lời Tựa của Graig R. Whitney-do Nguyễn Gia Thưởng dịch).

Dù đã thừa nhận Markus Wolf là một bậc thầy tình báo chiến lược nhưng có vẻ như người Đức đương đại ít khi còn nhắc đến ông. Một phần có lẽ vì người ta cho rằng ông đã mồ yên mả đẹp; mặt khác có lẽ cũng vì dù ông đã là một kẻ chiến bại tài giỏi và thông tuệ thì chân dung bi tráng của ông cũng đã là dĩ vãng. Nhưng với người Việt thì mặc dù đã từng là người thân quen nhưng dường như ông vẫn là một chân dung lạ; cho nên việc đọc kỹ Hồi ký của Markus Wolf vẫn rất bổ ích dù họ đang là người có quyền lực đàn áp hay họ đang là kẻ bị theo dõi - khủng bố. Chắc chắn, hồi ký của ông sẽ giúp bạn đọc Việt Nam hiểu rõ thêm lịch sử phát triển của phong trào khủng bố tại nhà nước Công an trị - CHDC Đức đã bắt nguồn từ thời kỳ chiến tranh lạnh như thế nào với Phái Hồng quân (Red Army Faction) và Tổng cục XXII.

Hiểu được Phong trào khủng bố và nước CHDC Đức - người Việt sẽ dễ nhận ra bộ mặt đa dạng gớm guốc của chủ nghĩa khủng bố toàn cầu hiện đại. Và sau những thao tác siêu kết nối của tư duy thời @ họ sẽ tự cắt nghĩa được bản chất của các bạo lực được tàng hình trong những kịch bản dùng côn đồ lưu manh để đàn áp và khủng bố người bất đồng chính kiến trong các chế độ độc tài - độc đảng - độc công an.

5. Dù ông đã đem theo một ít bí mật xuống mồ.

markus_konrad_wolf_tomb
Mộ của Konrad & Markus Wolf tại
nghĩa trang trung tâm Friedrichsfelde ở Berlin

Trong Lời Tựa, Graig R.Whitney, người từng ở phía bên kia chiến tuyến của Markus Wolf, luôn tỏ ra thán phục ông khi viết: "Không như các đồng nghiệp Stasi của ông, ông Wolf không bao giờ dùng hoạt động tình báo để làm giàu cho cá nhân mình. Bản thân ông Wolf có một sức quyến rũ mạnh, ông cao 1 thước 83, người gọn ghẽ, đầu tóc mầu xám, một khuôn mặt cởi mở, và thon dài, đôi mắt nâu sâu sắc, bàn tay với ngón dài thon và thanh nhã của người trí thức. Giọng nói Đức của ông lịch lãm hùng hồn. Ông nói chuyện về Goethe và Bertolt Brecht hoặc về Tolstoi, Mayakovski cùng một vẻ lưu loát”.

Graig R.Whitney cho rằng đọc Hồi ký của Markus Wolf là để đi sâu vào tâm não đầy sức thu hút của một trong những bậc thầy điệp báo lớn của thời đại chúng ta.

Dịch giả Nguyễn Gia Thưởng, (nguyên là một cán bộ tình báo của Chế độ Việt Nam Cộng hòa, trước năm 1975 đã từng làm việc tại Phủ Đặc ủy trung ương Tình báo tại số 03 – bến Bạch Đằng) đã nhận định: “Đọc Hồi ký của Markus Wolf để hiểu sự thành công của ông là do sức ủng hộ mãnh liệt của những thành phần trí thức thời đó ủng hộ chủ nghĩa Mác–Lê, đồng thời cũng để hiểu sự bất lực của một cơ quan tình báo tài giỏi vào bậc nhất thế giới trước sự tàn lụi của một chế độ hoang tưởng. Bao nhiêu hy sinh để cuối cùng chẳng thể giúp cho nước CHDC Đức tồn tại. Tất cả chỉ vì hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa đã hư hỏng từ trong nội tạng, dẫn đến sự sụp đổ hoàn toàn khối xã hội chủ nghĩa Liên bang Xô viết và khối Đông Âu“ .

Với tôi, Hồi ký của ông cho đến bây giờ không những là chân dung lớn của một nhà tình báo bậc thầy, một trí thức kiệt xuất mà còn là một nguồn sử liệu quý báu. Đặc biệt, ngoài giá trị  văn sử - Người Không Chân Dung đã và sẽ mang lại những sự thật sinh động chứa đựng nhiều ứng xử thông tuệ và biến thái phũ phàng của lịch sử để độc giả Việt nhận diện sâu sắc sự chuyển hóa đau đớn và tất yếu của chế độ  Công an trị của Cộng sản Đông Đức.

“…Tôi biết nước CHDC Đức đã làm rất nhiều điều sai trái; trong đó có việc đàn áp chiếm một số lượng khủng khiếp. Tôi biết tôi có một phần trách nhiệm về việc này. Tôi là một bộ phận của chế độ, và nếu người ta tấn công tôi (như họ thường làm) như thể tôi là lãnh tụ quốc gia, như thể tôi có quyền kiểm soát tuyệt đối trên hết mọi sự việc xảy ra tại nước CHDC Đức, trong trường hợp này đây là một điều mà tôi sẽ phải gánh chịu...Điều quan trọng là có can đảm tranh đấu cho ý kiến của mình nếu cần, ngay cả khi đối đầu với đàn áp. Tôi đã học được bài học là cá nhân mình phải biết tôn trọng lối suy nghĩ của người khác và không bao giờ ép buộc người khác vào khuôn khổ. Nhưng trong phần lớn đời tôi và sự nghiệp của tôi, tôi đã lựa chọn kiên nhẫn chờ đợi thay đổi...”  Markus Wolf đã cay đắng chiêm nghiệm về mình trong Chương Lời kết như vậy.

Ngâm khúc đau thương cùng các khuôn mặt luật sư bị côn đồ hành hung, nghe  tiếng thét đả đảo của dân oan ba miền trên nước Việt, tôi đã ứa lệ và cũng cay đắng thừa nhận: VIPEN cùng bạn đọc Việt ngữ vô cùng cảm tạ Markus Wolfdù ông đã đem theo một  ít bí mật xuống mồ thì ông vẫn đã để lại quá nhiều bài học cho người Việt đương đại, dù  Cộng sản hay không Cộng sản.

Thế Dũng
Berlin 10 tháng 12 năm 2015 –
Kỷ niệm lần thứ 67 ngày Quốc tế Nhân quyền

*****

*Sách  mới  của VIPEN:

 NGƯỜI  KHÔNG  CHÂN  DUNG - Hồi ký của Tướng Markus Wolf - Trùm Tình báo Cộng sản Đông Đức

(Hồi ký trùm gián điệp Đông Đức - Markus Wolf)

Dịch giả: Nguyễn Gia Thưởng  dịch từ nguyên tác tiếng Anh: THE MAN WITHOUT A FACE

(This translation published by arangement with Crown Publishers, an imprint of the Crown publishing Group, a division of Penguin Random House LLC) Do VIPEN Edition xuất bản theo hợp đồng chuyển nhượng bản quyền giữa Crown Publishers, tên chính thức của Crown Publishing Group, một chi nhánh của Penguin Random House LLC & Buchverlag VIPEN (www.vipen.de) năm  2015

ISBN: 978-3-945257-11-1   

Thiết kế Bìa: Họa sĩ Thai Gottsmann Sách dầy: 648 trang   khổ: 21 cm x 14cm Bìa 4 mầu

Giá bán: tại Đức & Châu Âu: 21,90 Euro. Phát hành tại Đức và Châu Âu trong quý IV năm 2015.

Bạn đọc tại Đức có thể chuyển tiền vào tài khoản của:

Buchverlag VIPEN Dipl.-Phil. Vũ Thế Dũng - Konto-Nr.: 6603222106

IBAN:DE 10 1005 0000 6603 2221 06  BIC: BELADEBEXXX-Ust.Id.Nr: DE 184461724

Sau đó thông báo địa chỉ cá nhân cho Chủ tài khoản qua: +49(0)171 8316874 hoặc qua các Email: the.dung@vipen.de  

Email: peter.knost@berlin.de

Hoặc liên lạc với Thông Luận qua

Email : phamdinh44@gmail.com , sách sẽ tới tận tay bạn qua đường bưu điện.

Tiến trình hình thành Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên
Lượt xem: 3542

LTS: Trên 20 năm qua Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên vẫn luôn trung thành với ba giá trị nền tảng Dân chủ Đa Nguyên, Hòa Giải Hòa Hợp Dân Tộc và Bất Bạo Động. Nhưng gần đây trong tổ chức đã có người khẳng định tuyên bố “Đa nguyên hay đối lập chỉ có ý nghĩa và cần thiết trên phạm vi quốc gia. Trong một tổ chức chỉ có nhất nguyên chứ không thể có đa nguyên”. Vì muốn bảo vệ ba giá trị cốt lõi của tổ chức, chúng tôi đã phải lấy quyết định không đồng hành với những ai ủng hộ lời tuyên bố trên. Chúng tôi xin gởi đến quý độc giả một tài liệu ghi lại theo thứ tự thời gian những bước đi của tổ chức trong nỗ lực tìm kiếm những giải pháp để đưa đất nước vào kỷ nguyên dân chủ đa nguyên, hòa nhịp với đà tiến của thế giới, mưu cầu hạnh phúc cho người Việt Nam. Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên

Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên được hình thành do sự kết hợp của nhiều người và nhiều nhóm, đặc biệt là hai nhóm: Thông Luận – hậu thân nhóm thảo luận Cơ Sở Tư Tưởng – và Lực Lượng Thanh Niên Việt Nam Tự Do Âu Châu. Trong bài viết này chúng tôi sẽ trình bày những diễn tiến của tiến trình hình thành Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên từ lúc khởi đầu cho đến năm 2016.


I. Việc hình thành nhóm thảo luận về hướng đi cho Việt Nam đưa đến tài liệu Cơ Sở Tư Tưởng

Vào cuối năm 1982 tại Paris, một số những anh em – cùng chí hướng – đã họp với nhau để bàn về tình hình đất nước và có ý lập một nhóm thảo luận chính trị kiểu thinktank, chứ không có ý định lập đảng. Nhóm này đã họp vào tối thứ năm, hai tuần một lần, nên trong bài viết này chúng tôi tạm gọi là nhóm thảo luận Cơ Sở Tư Tưởng. Tất cả đều thấy rằng trước tình trạng bế tắc của đất nước, cần phải có đường hướng, nguyên tắc và chủ trương nhất định để hướng dẫn nhóm đi vào những cuộc thảo luận sâu rộng về mọi mặt của quốc gia như kinh tế, xã hội, chính trị, quốc phòng, giáo dục v.v…

Không kể một vài tháng đầu tìm cách quy tụ người, có thể nói những ngưởi khởi xướng chính thức ngồi lại với nhau thảo luận về vấn đề Việt Nam gồm các ông: Nguyễn Gia Kiểng, Trần Thanh Hiệp, Dương Kích Nhưỡng, Nguyễn Trọng Kha, Nguyễn Văn Lộc, Vũ Tiến Vượng, Phạm Ngọc Lân và bà Quản Mỹ Lan. Ngoài ra, còn một số người khác, trong đó có hai anh em ông Chu Vũ Hoan và Chu Vũ Ca, nhưng chỉ vài ba tháng sau họ thấy không thích hợp với tinh thần thảo luận của nhóm nên đã rút lui.

Nhóm khởi xướng thảo luận như vậy trong gần 2 năm. Và ông Kiểng đã ghi chép lại những gì anh em đã bàn luận. Bản viết tay đó lại được nhóm mổ xẻ, sửa chữa, góp ý và cuối cùng ông Nguyễn Gia Kiểng đã đúc kết và chấp bút tài liệu này, mang tên là Cơ Sở Tư Tưởng.

Anh em trong nhóm đưa ra ba khái niệm chính về một nước Việt Nam, muốn được ổn định để phát triển, thoát khỏi nghèo đói và tụt hậu là:

1. Việt Nam sẽ là một nước với thể chế Dân Chủ Đa Nguyên, nơi tiếng nói của mọi cộng đồng dân tộc đều phải được lắng nghe;

2. Để tiến tới một nước Việt Nam Dân Chủ Đa Nguyên trước hết nhà nước Việt Nam phải xóa bỏ mọi yếu tố gây chia rẽ và thực tâm thi hành chính sách Hòa Giải để Hòa Hợp Dân Tộc hầu đưa đất nước tiến lên;

3. Để hướng tới 2 mục tiêu trên, chúng ta cần đấu tranh trong tinh thần bất bạo động vì máu người Việt Nam đã đổ nhiều rồi nên chúng ta không có quyền đòi hỏi người dân phải hy sinh tánh mạng nữa mà cần phải đấu tranh bằng chính trị, bằng tư tưởng.

II. Lực Lượng Thanh Niên Việt Nam Tự Do Âu Châu

Vào năm 1981, khi Lực Lượng Thanh Niên Việt Nam Tự Do Âu Châu sinh hoạt ở Strasbourg, một số thành viên trong nhóm đã đi thăm Quốc hội Âu Châu. Trong dịp này, ông Nguyễn Văn Thế đã thấy một tờ giấy giới thiệu (flyer) với tựa đề L’unité dans la différence (Đồng nhất trong sự khác biệt). Trong tờ giấy giới thiệu này, có nói về khái niệm Đa nguyên (Pluralisme).

Từ ý tưởng này, vào năm 1982, nhóm Lực Lượng Thanh Niên Việt Nam Tự Do Âu Châu đã thảo luận về tinh thần Đa Nguyên trong dân chủ trong kì sinh hoạt học tập "Tìm một tư tưởng và hướng đi mới cho Lực Lượng” ở Lausanne – Thuỵ Sĩ. Đồng thời anh em nhóm Lực Lượng đã chấp nhận tinh thần đa nguyên trong dân chủ là nền tảng cơ sở của tổ chức. Từ đó, các thành viên Lực Lượng Thanh Niên Việt Nam Tự Do Âu Châu đã thảo luận về đề tài “Làm thế nào để áp dụng tính đa nguyên vào thực tế của cuộc sống và trong sinh hoạt dân chủ”. Trong nhiều kì sinh hoạt học tập sau đó, các thành viên Lực Lượng Thanh Niên Việt Nam Tự Do Âu Châu đã bàn về thuyết âm dương, phép biện chứng của Hegel và Karl Marx cũng như những diễn biến xảy ra trên thực tế của các nước dân chủ Tây và Bắc Âu và cuối cùng đã đi đến bốn kết luận cho việc áp dụng tính đa nguyên của dân chủ vào thực tế: một là tôn trọng và chấp nhận các khác biệt, dù có thể rất đối kháng nhau, cũng là chuyện bình thường của cuộc sống và là động lực làm cho xã hội phát triển; hai là vì lợi ích tập thể, trong đó có lợi ích cá nhân của mỗi người cho nên dù khác biệt thế nào đi nữa, chúng ta vẫn phải hợp tác với nhau để làm việc chung. Vì hợp tác chính là sức mạnh của xã hội dân chủ đa nguyên, giúp xã hội tồn tại và phát triển; ba là để có sự hợp tác giúp tập thể tồn tại và phát triển, chúng ta phải đối thoại và thảo luận để tìm ra những khác biệt của nhau với mong muốn có thể dung hoà và thoả hiệp; bốn là trong xã hội, theo dân chủ đa nguyên, luôn luôn có mâu thuẫn, vì vậy hoà giải là một bắt buộc để có thể hợp tác và làm việc chung với nhau.

Đồng thời trong kì sinh hoạt học tập này, Lực Lượng Thanh Niên Việt Nam Tự Do Âu Châu cũng chấp nhận phương pháp tranh đấu bất bạo động là phương pháp mà Lực Lượng sẽ áp dụng để tranh đấu thay đổi chế độ hiện nay. Có ba lí do để các thành viên Lực Lượng Thanh Niên Việt Nam Tự Do Âu Châu chấp nhận phương pháp này: một là vì nguyên tắc dân chủ không cho phép bạo động, hai là vì bạo lực chỉ làm cho đất nước thêm đổ vỡ và ba là bạo lực không thích hợp với chủ trương của Lực Lượng Thanh Niên Việt Nam Tự Do Âu Châu. Cũng trong kì họp học tập này, thành viên Lực Lượng Thanh Niên Việt Nam Tự Do Âu Châu đã đồng ý về một bản nhận định về lịch sử loài người với tựa đề “Lịch sử loài người là lịch sử của những giao ước xã hội thành văn và bất thành văn”.

Ban Chấp Hành Trung Ương và Ban Chấp hành các Phân bộ của Lực Lượng Thanh Niên Việt Nam Tự Do Âu Châu vào thời điểm năm 1982, gồm có các ông Nguyễn Trọng Kha, Phan Phúc Vinh, Đặng Minh Kỷ, Phạm Xuân Cảnh, Trần Văn Răn, Đinh Văn Ban, Nguyễn Văn Thế, Vũ Đình Thọ, Nguyễn Gia Thưởng, Nguyễn Xuân Thuấn, Nguyễn Thế Vũ, Nguyễn Phú Lộc, Đặng Vũ Chính, Võ Trung Trực, Nguyễn Văn Đang, Hồ Thành Hiệu và Trần Bá Thành.

III. Sự liên kết giữa nhóm thảo luận Cơ Sở Tư Tưởng và Nhóm Lực Lượng Thanh Niên Việt Nam Tự Do Âu Châu

Sợi dây liên kết giữa hai nhóm là ông Nguyễn Trọng Kha.

Ông Kha là thành viên Lực Lượng Thanh Niên Việt Nam Tự Do Âu Châu – trụ sở trung ương đặt tại Lausanne Thuỵ Sĩ – sinh sống ở Paris và cũng có chân trong nhóm thảo luận Cơ Sở Tư Tưởng tại Paris. Chính vì thế ông Nguyễn Trọng Kha đã làm trung gian mang những suy nghĩ, ý kiến thảo luận trong nhóm Lực Lượng qua nhóm Paris và ngược lại những ý kiến của anh em Paris cũng được ông Kha đóng góp lại trong những buổi thảo luận trong nhóm Lực Lượng.

Chính sự trùng hợp về tư duy của hai nhóm về vấn đề đất nước đã đưa đến sự hợp tác tự nhiên giữa hai tổ chức. Điều này là mấu chốt cho sự kết hợp tốt đẹp giữa hai nhóm sau này dù có những thành viên ở những quốc gia xa nhau. Sự kết hợp chưa chính thức lúc ban đầu giữa hai nhóm chính là tiền thân của tổ chức Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên sau này.

Năm 1984, Lực Lượng Thanh Niên Việt Nam Tự Do Âu Châu tổ chức một buổi học tập phối hợp với trại hè dành cho gia đình thành viên Lực Lượng tại Fontenette, một làng nhỏ cách Paris hơn 300 cây số về phía Nam, để học tập về dân chủ đa nguyên và tiếp tục bàn về việc làm thế nào để áp dụng tính đa nguyên vào thực tế sinh hoạt dân chủ. Trong dịp này Lực Lượng đã mời ông Nguyễn Gia Kiểng thuộc nhóm thảo luận Cơ Sở Tư Tưởng đến tham dự. Lúc đó, ông Kiểng đã trình bày một chủ đề trong bản Cơ Sở Tư Tưởng bàn về bốn điều kiện cần có để cuộc cách mạng thành công. Điều kiện thứ nhất là mọi người trong nước đồng ý rằng chế độ hiện hữu là tệ hại và phải thay đổi. Điều kiện thứ hai là đảng hay giai cấp cầm quyền, vì mất đồng thuận trên lý tưởng chung hay vì bị ung thối, đã chia rẽ, phân hóa và đã mất bản năng tự tồn của một đoàn thể. Điều kiện thứ ba là đại đa số quần chúng đạt tới đồng thuận về một chế độ mới và những mục tiêu quốc gia mới. Điều kiện thứ tư là có một tập hợp chính trị xuất hiện phù hợp với nguyện ước của toàn dân làm điểm hội tụ cho những khát vọng đổi mới.

Khi Cộng Đồng Người Việt Tị Nạn Cộng Sản tại Hoà Lan tổ chức trại hè Hùng Vương năm 1987, Lực Lượng Thanh Niên Việt Nam Tự Do Âu Châu đã đề nghị Cộng đồng mời ông Nguyễn Gia Kiểng đến trình bày về dự án chính trị có tên Cơ Sở Tư Tưởng này.

IV. Việc hình thành nhóm Thông Luận và tờ báo Thông Luận

Sau khi có bản in Cơ Sở Tư Tưởng, một số người trong nhóm mới nghĩ đến việc phổ biến những tư tưởng này đến với quần chúng bên ngoài. Từ đó mới nẩy sinh ra ý kiến phải cần có một tờ báo!

Nói đến báo thì cho đến thời điểm đó mọi người chỉ biết báo dưới dạng báo ngày, báo tuần, báo tháng như ngày xưa ở Việt Nam hay sau này ở Mỹ. Ai cũng biết làm một tờ báo như vậy thì vô cùng tốn kém, trong khi mọi người trong nhóm dự định làm báo – mới qua Pháp tỵ nạn – không có tiền để thực hiện việc này!

Trong khi đó, tại Paris và vào thời gian đó, bà Quản Mỹ Lan thường nhận được một loại tài liệu của nhóm ông Raymond Barre, cựu Thủ Tướng Pháp. Đây là một loại “thư” 4 trang do nhóm ông R. Barre đưa ra để trình bày về đường lối hoạt động của nhóm mình. Việc này đã khiến bà Mỹ Lan suy nghĩ: Tại sao mình không làm báo dưới hình thức đó? Vì thế, Bà Mỹ Lan đã đưa ra ý kiến này và được anh em chấp thuận. Rồi mọi người trong nhóm góp tiền lại và quyết định ra một tờ báo với hình thức rất đơn giản nhưng có nội dung như các độc giả đã biết. Với số tiền đóng góp của nhóm lúc đó, những người làm báo quyết định phải ra được báo trong vòng ít nhất một năm dù có độc giả mua báo hay không. Tất cả những người trong nhóm đều đồng ý với nhau là tờ báo phải mang nội dung như sau đây:

1. Chỉ đăng những bài vở có tính cách chính trị, có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến Việt Nam. Không có các tiết mục văn nghệ, truyện ngắn, truyện dài hoặc thơ phú v.v…;

2. Không đăng quảng cáo, nói rõ hơn Thông Luận sẽ không sống bằng quảng cáo. Chính vì thế, sau này khi tờ Thông Luận “nổi tiếng”, nhiều nơi muốn đăng quảng cáo trên Thông Luận nhưng theo nguyên tắc đã đề ra từ đầu, nhóm làm báo đã phải từ chối;

3. Sẽ là tờ báo bán, không phải báo biếu hay cho không;

4. Sẽ không đăng lại những bài vở đã đăng trên những báo khác;

5. Với số tiền đóng góp được, anh em làm báo tiên liệu sẽ ra báo được ít nhất là một năm. Sau đó, nếu không có độc giả, không thu được  tiền vào thì ít ra tư tưởng của nhóm cũng đã được phổ biến đến đồng bào!

Quyết định là thế nhưng trong tất cả anh em, không ai có kinh nghiệm làm báo tuy kinh nghiệm viết bài đăng báo thì có! Vả lại, cũng vào thời đó, những người làm báo chuyên nghiệp cũng chỉ viết chữ không dấu rồi đánh dấu bằng tay. Ông Phạm Ngọc Lân là người làm việc trong ngành điện toán đã tạo ra bộ chữ tiếng Việt có dấu trên máy vi tính cá nhân Apple SE để làm báo Thông Luận.

Sau khi giải quyết được vấn đề tài chính và phương tiện kỹ thuật, tờ báo Thông Luận số 0 ra đời!

thongluan_so0

Cuối cùng, được sự ủng hộ của quần chúng, báo bán được!

Khi Thông Luận đã được biết đến, một số những người lâu nay im tiếng đã gia nhập nhóm như các ông Lê Văn Đằng, Huỳnh Hùng. Kế đó, ông Phạm Ngọc Lân giới thiệu ông Tôn Thất Long. Tiếp theo, bà Quản Mỹ Lan giới thiệu ông Nguyễn Văn Huy. Và sau đó ông Vũ Thiện Hân, Nguyễn Văn Khoa vv… cũng vào làm việc chung. Nhóm Thông Luận càng ngày càng vững mạnh với sự cộng tác đắc lực của những người biết trách nhiệm của mình trước vận nước.

Nhóm làm báo chủ trương chỉ gửi báo qua đường bưu điện, chứ không bán tại các sạp báo và tiệm sách. Với khuôn khổ của tờ A4, mọi người có thể photocopy dễ dàng để phổ biến. Người đầu tiên phổ biến Thông Luận dưới dạng photocopy là cựu ký giả Nguyễn Thái Lân ở miền Nam California. Ở Houston, các cảm tình viên của Thông Luận cũng phổ biến tờ báo dưới cùng một hình thức.

Đến đầu năm 1990, qua hội Nhân Quyền Việt Nam tại Hoà Lan, các thành viên Lực Lượng Thanh Niên Việt Nam Tự Do Âu Châu đã phát hành ấn bản Hòa Lan có thêm phụ trang để loan tin tức của Cộng Đồng Người Việt Tị Nạn Cộng Sản tại Hòa Lan.

Sau đó, tại một số những nước khác, nhiều người cũng cho in báo Thông Luận có thêm phụ trang. Thí dụ như vào năm 1995, hội An Vi của Linh Mục Kim Định do ông Vũ Khánh Thành tại Luân Đôn đại diện, đã xuất bản báo An Việt, trong đó vừa đăng nguyên văn báo Thông Luận vừa đăng thêm phần bài vở, tin tức của Cộng Đồng người Việt bên Anh.

Chủ nhiệm đầu tiên trong vòng 3 năm đầu của tờ nguyệt san Thông Luận là ông Bùi Quang Hiếu, 3 năm tiếp theo là ông Phạm Ngọc Lân, sau ông Lân là ông Vũ Thiện Hân. Sau đó, là các ông Diệp Tường Bảo, Nguyễn Văn Huy tuần tự phụ trách.

Dưới đây là danh sách chủ nhiệm của tờ Thông Luận, theo thứ tự thời gian:

1. Tháng 11/1987, nguyệt san Thông Luận xuất bản số 0 do ông Bùi Quang Hiếu làm chủ nhiệm cho đến số 33, tháng 12/1990;

2. Tháng 1/1991, ông Phạm Ngọc Lân làm chủ nhiệm bắt đầu từ số 34 và mãn nhiệm vào tháng 12/1993 với số 66;

3. Tháng 1/1994, ông Vũ Thiện Hân làm chủ nhiệm bắt đầu từ số 67 và mãn nhiệm vào tháng 12/2000 với số 143;

4. Tháng 1/2001, ông Diệp Tường Bảo làm chủ nhiệm bắt đầu tứ số 144 và mãn nhiệm vào tháng 8/2002 với số 161;

5. Tháng 9/2002, ông Nguyễn Văn Huy làm chủ nhiệm bắt đầu từ số 162 và chấm dứt nhiệm vụ vào tháng 12/2012 với số cuối cùng 275.
Thông Luận càng ngày càng có uy tín và trong nước bắt đầu xuất hiện “chui” những bản sao và đưa đến sự cộng tác của một số những người chia sẻ quan điểm của Thông Luận trước tình hình Việt Nam. Nhờ chủ trương bao dung và hòa bình đó, sau này những người trong nhóm làm báo đã được một số cán bộ cộng sản lão thành tin tưởng như các ông Nguyễn Hộ, Trần Độ và “nhóm Đà Lạt” – gồm có các ông Hà Sĩ Phu; Mai Thái Lĩnh; Tiêu Dao Bảo Cự; Bùi Minh Quốc – cũng như một số đảng viên phản tỉnh đóng góp bài vở cho báo Thông Luận.

Vì từ ngày đầu anh chị em trong nhóm không lấy một tên gọi chính thức cho nhóm như các tổ chức khác vẫn làm nên từ khi ra tờ báo Thông Luận, bên ngoài gọi “nhóm không tên” này là nhóm Thông Luận.

V. Những va chạm giữa Thông Luận và các tổ chức chính trị khác trong cộng đồng

Trong lúc các tổ chức khác chủ trương giải phóng Việt Nam bằng vũ lực thì Thông Luận lại chủ trương ôn hòa. Có nghĩa là cuộc đấu tranh sắp tới giữa người Việt yêu tự do, dân chủ chống lại Cộng Sản độc tài phải qua con đường bất bạo động.

Chủ trương nhà nước cần phải có chính sách hòa giải, hòa hợp dân tộc tưởng là rất hòa bình và bao dung này lại bị một tổ chức khác đánh phá dữ dội trên phương tiện truyền thông của họ. Chủ trương Hòa Giải Hòa Hợp Dân Tộc bị họ bóp méo là Thông Luận chủ trương Hòa Hợp, Hòa Giải với Cộng Sản. Điều này tạo cho những người vốn chủ trương bạo lực có cơ hội làm dấy lên một phong trào chống phá Thông Luận trên các phương tiện truyền thông như báo chí, đài phát thanh, đài truyền hình tại Hoa Kỳ.

Cao điểm nhất là vụ bạo hành của một tổ chức cực đoan đối với anh em nhóm Thông Luận.

Đó là cuộc hành hung gây thương tích cho hai ông Đặng Minh Kỷ (đại diện Thông Luận Hòa Lan) và Nguyễn Gia Kiểng (Thông Luận Paris) khi anh em nhóm Lực Lượng Thanh Niên Việt Nam Tự Do Âu Châu chính thức ra mắt ấn bản Thông Luận Hòa Lan vào ngày 16 tháng 4 năm 1990 tại thị xã Nijmegen – Hoà Lan. Việc này đã được tường trình đầy đủ trong hai số báo Thông Luận 27 và 28, phát hành vào tháng 5 và tháng 6 năm 1990. Trong đó, Thông Luận cũng đã nêu đích danh hung thủ.

VI. Những dự tính kết hợp với các tổ chức khác

1. Vào năm 1990, tại Trung Tâm Độc Lập ở Stuttgart, có cuộc họp bàn về việc hợp tác chung của bốn nhóm: Lực Lượng Thanh Niên Việt Nam Tự Do Âu Châu (Thuỵ Sĩ); nhóm chủ trương báo Độc Lập (Đức) của ông Vũ Ngọc Yên; Hiệp hội Dân chủ & Phát triển Việt Nam của ông Âu Dương Thệ (Đức) và nhóm Thông Luận (Pháp). Cả bốn nhóm đã đồng ý trên nguyên tắc là sẽ hợp tác chung.

Nhưng sau một thời gian, nhóm Độc Lập và Hiệp hội Dân chủ & Phát triển Việt Nam đã lặng lẽ tách ra, chỉ còn lại hai nhóm Lực Lượng Thanh Niên Việt Nam Tự Do Âu Châu và nhóm Thông Luận. Hai nhóm này tiếp tục làm việc chung và luôn luôn coi nhau như người cùng một nhóm. Có lẽ vì cả hai đều có cùng một cơ sở tư tưởng là dân chủ đa nguyên, hoà giải hoà hợp và bất bạo động nên sự hợp tác không có gì trở ngại.

2. Một thời gian sau khi xuất bản tờ báo Thông Luận – khoảng cuối năm 1991, đầu năm 1992 – thì ông Trần Văn Sơn (Trần Bình Nam) của tổ chức Phục Hưng từ Mỹ sang gặp anh em nhóm Thông Luận Paris và đề nghị kết hợp. Hai ông Nguyễn Trọng Kha và ông Nguyễn Văn Thế, đại diện cho Lực Lượng Thanh Niên Việt Nam Tự Do Âu Châu, cùng tham dự buổi gặp gỡ này.

Việc kết hợp này không thành vì một số thành viên của Phục Hưng cho rằng Thông Luận chủ trương hòa hợp, hòa giải với Cộng Sản.

VII. Những nét chính về diễn tiến của Dự Án Chính Trị Dân Chủ Đa Nguyên
1. Vào ngày 27/10/1990, một cuộc hội luận về Dân chủ Đa nguyên đã được Thông Luận tổ chức tại Paris với sự tham dự của năm tổ chức và thân hữu đến từ 8 quốc gia:

a. Lực Lượng Thanh Niên Viêt Nam Tự Do Âu Châu gồm các thành viên: bà Phạm Tú Minh và các ông: Đăng Minh Kỷ, Nguyễn Văn Thế, Nguyễn Gia Thưởng, Phạm Xuân Cảnh, Phan Phúc Vinh vv…;

b. Nhóm chủ trương báo Diễn Đàn Mới có bà Nguyễn Huỳnh Mai và các ông Đỗ Đình Thành và Nguyễn Văn Lang;

c. Cơ Sở Độc Lập có các ông Vũ Ngọc Yên và Dương Hồng Ân;

d. Nhóm Hiệp hội Dân Chủ & Phát triển Việt Nam gồm có các ông: Âu Dương Thệ, Lâm Đăng Châu và một số thành viên khác;

e. Nhóm Thông Luận Paris có bà Quản Mỹ Lan và các ông: Trần Thanh Hiệp, Nguyễn Gia Kiểng, Phạm Ngọc Lân, Vũ Thiện Hân, Huỳnh Hùng, Lê Văn Đằng, Nguyễn Văn Khoa, Nguyễn Văn Lộc, Tôn Thất Long, Diệp Tường Bảo, Võ Xuân Minh, Nguyễn Văn Huy, Nghiêm Văn Thạch, Lê Mạnh Tường v.v…

Ngoài những người thuộc các tổ chức kể trên, còn có sự tham dự đông đảo của trí thức Việt Nam đến từ các nơi như:

– Paris có các ông: Nguyễn Văn Ái,  Lê Hữu Khoa, Hoàng Khoa Khôi, Lưu Văn Vịnh, Từ Trì, nữ nghệ sĩ Bích Thuận và bà Thụy Khuê;

– Hoa kỳ có các ông: Đỗ Quý Toàn (Vương Hữu Bột), Trần Văn Sơn (Trần Bình Nam), Đinh Quang Anh Thái và Nguyễn Quốc Trung;

– Canada có ông Tôn Thất Thiện và Nguyễn Hữu Chung;

– Luân Đôn – Anh Quốc có ông Nguyễn Anh Tuấn.

tonghop_hoiluan_danchudanguyen

2. Năm 1992 Cơ Sở Tư Tưởng được in thành Dự án Chính Trị Dân Chủ Đa Nguyên.

Năm 1992 tên Phong Trào Dân Chủ Đa Nguyên ra đời với sự hợp tác chính thức của hai nhóm: Lực Lượng thanh Niên Việt Nam tự Do Âu châu và Thông Luận.

Khi đã hợp tác, Lực Lượng đã in Dự Án Chính Trị Đa Nguyên vào tháng 1/1992 để làm tài liệu học tập nội bộ.

DACT1992

Đến tháng 2/1992, bản chính thức của Phong Trào Dân Chủ Đa Nguyên được phát hành.

DACT_LLTNVNTDAC

3. Vào năm 1996, Dự Án Chính trị  Dân Chủ Đa Nguyên được bổ sung với những vấn đề mới dựa vào những biến chuyển của tình hình trong nước. Dự Án này lấy tựa đề là Thử Thách và Hy Vọng.

 

DACT1996


4. Năm 2000 Phong Trào Dân Chủ Đa Nguyên chính thức trở thành Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên cho đến ngày nay.

Vào năm 2001, Dự án Chính trị Dân Chủ Đa Nguyên được bổ sung và lấy tên là Thành Công Thế Kỷ 21.

DACT2001


Danh xưng Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên được chính thức đặt cho nhóm vào năm 2000. Trước đây, khi ra tờ báo Thông Luận, nhóm không có tên chính thức. Sau nhiều lần tìm cách kết hợp với những tổ chức khác nhưng cuối cùng thấy rằng khó có thể kết hợp được nên khi bước qua thế kỷ thứ 21, nhóm cần minh danh với tên của mình. Trong một cuộc thảo luận sôi nổi trong Phân Bộ Bắc Mỹ tại San José, nhóm Thông Luận Hoa Kỳ đã đề nghị đặt tên cho nhóm là Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên. Tên gọi này được toàn thể thành viên chấp thuận. Từ đó, danh xưng Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên trở thành tên chính thức của nhóm.

5. Năm 2015, Dự Án Chính Trị được bổ túc, viết lại và lấy tên là Khai Sáng Kỷ Nguyên Thứ Hai.

bia_khaisang_kynguyen_thuhai_00

Dự Án Chính Trị, từ lúc ban đầu cho đến nay, là do công trình và trí tuệ của tập thể anh chị em trong Tập Hợp chứ không phải của riêng một cá nhân nào.

 

 

 

Về tờ báo Thông Luận, ban đầu nhóm chỉ hy vọng là báo sẽ sống được một năm. Trước khi ra tờ Thông Luận số 1, nhóm làm báo đã in thử tờ báo số 0 (xin xem hình đính kèm ở phần đầu). Địa chỉ tòa soạn của 100 số báo đầu tiên là tư gia của ông bà Phạm Ngọc Lân – Quản Mỹ Lan.

Như vậy kể từ số 1 ra đời vào tháng 12 năm 1998 cho đến số 275, số báo cuối cùng phát hành vào tháng 12/2012, báo Thông Luận giấy tổng cộng đã sống được 25 năm!

Chúng tôi ghi lại những sự kiện ghi trên theo thứ tự thời gian, đồng thời lưu trữ trong thư khố của tổ chức, không ngoài mục đích thực hiện trách nhiệm ghi chép và lưu giữ những công trình gầy dựng tổ chức của tất cả những thành viên đã và đang có mặt trong tổ chức. Tất cả chúng tôi đều mang hoài bão đưa nước Việt Nam vào kỷ nguyên mới của dân chủ đa nguyên.


Ngày 10 tháng 1 năm 2017,
Thay mặt Ban Quản Thủ Thư Khố
Nguyễn Văn Thế – Nguyễn Gia Thưởng – Phạm Tú Minh

 

 

Tuyển tập “Dân chủ cho Việt Nam” của LS Trần Thanh Hiệp (Lưu Nguyễn Đạt)
Lượt xem: 3352

“…Nguyện vọng tha thiết và độc nhất của người viết không phải là đi tim chút hư danh chốn văn chương, mà cốt trao lại đổi tâm tình, kinh nghiệm chiến đấu với những ai một lòng một dạ muốn xua đuổi độc tài ra khỏi vũ đài lịch sử, làm lế đăng quang cho dân chủ trên đất nước…”

Read more
Nếu yêu tôi... - Phạm Đoan Trang
Lượt xem: 2410

“…Nếu có anh công an, an ninh nào hỏi bạn về cuốn sách, hãy nói với họ rằng đó là sách do tôi viết, và tôi sẵn sàng trao đổi với họ trên tư cách tác giả với độc giả. Tác giả không sợ thì các bạn chẳng có gì phải ngại cả…”

… Thì xin hãy đọc cuốn sách này, “Chính trị bình dân”.

Ngay từ khi mới tham gia phong trào dân chủ, tôi đã có mong mỏi là phải làm sao để xóa bỏ được sự thiếu hụt kiến thức của mình, phải làm sao hiểu được chính trị học căn bản. Sau khi may mắn nắm được một số kiến thức sơ đẳng, tôi lại cảm thấy bị thôi thúc phải chia sẻ chúng với mọi người, nhất là những người trẻ tham gia hoạt động xã hội, đấu tranh vì dân chủ-nhân quyền cho Việt Nam. Họ mới chính là tài sản quý nhất của đất nước; tương lai Việt Nam nằm trong tay họ.

Với tất cả những niềm mong mỏi, tôi viết cuốn sách “Chính trị bình dân”, 502 trang này. Đây không phải là một công trình nghiên cứu mang tính chất hàn lâm, học thuật, cũng không phải một tác phẩm nghệ thuật với những sáng tạo và thử nghiệm. Tôi cố gắng để nó là một cuốn sách nhập môn, đem lại cho bạn đọc những kiến thức cực kỳ căn bản về chính trị (tất nhiên là cũng xen kẽ một vài kiến thức sâu hơn mức căn bản). Quan trọng hơn, tôi cố gắng để làm cho nó dễ hiểu và thú vị nhất, để góp phần đánh tan cái định kiến tai hại “chính trị là xấu xa, thủ đoạn” ở bạn đọc Việt Nam.

phamdoantrang01

Nếu có gì phải nói thêm về hoàn cảnh ra đời cuốn sách thì, tôi đã viết nó trong những ngày bị canh chặt ở Hà Nội, đến mức không thể đi đâu, làm gì được, và luôn cảm thấy khó thở - nghĩa đen. Có những ngày trước cửa nhà tôi luôn đầy những thanh niên bịt mặt đứng, ngồi vạ vật, ánh mắt nhìn tôi không chút thân thiện. Ở một nơi khác, sếp của họ, ngồi phòng lạnh, đang chỉ đạo họ theo dõi “đối tượng” chặt chẽ, nghiên cứu thói quen, lịch làm việc hàng ngày, đường đi lối lại vào nhà và cách bài trí đồ đạc trong nhà…

Đã có những ngày mà, nếu không có cây đàn guitar luôn đặt ở bên, có lẽ tôi đã phát điên, ít nhất cũng stress nặng.

Tuy nhiên, với tôi, tất cả những cái đó không quan trọng; điều quan trọng là càng có nhiều người đọc cuốn sách càng tốt.

Vì vậy, NẾU CÓ YÊU TÔI, XIN BẠN HÃY ĐỌC CUỐN SÁCH NÀY.

Các bạn có thể mua sách qua Amazon (mức giá là do Amazon đặt, tôi biết là khá cao), hoặc liên hệ trực tiếp với tác giả.

Nếu bạn là sinh viên, tôi sẽ rất vui được tặng sách cho bạn.

 

Nếu có anh công an, an ninh nào hỏi bạn về cuốn sách, hãy nói với họ rằng đó là sách do tôi viết, và tôi sẵn sàng trao đổi với họ trên tư cách tác giả với độc giả. Tác giả không sợ thì các bạn chẳng có gì phải ngại cả.

Cảm ơn các bạn nhiều.

chinhtri_binhdan_doantrang

"Chính trị bình dân" 

Sách nhập môn về chính trị học

502 trang, khổ 23x15cm

NXB Giấy Vụn & Green Trees

Công bố ngày 22/9/2017

 

Mục lục:

 

Lời nói đầu của tác giả

Lời cảm ơn của tác giả

Hướng dẫn sử dụng sách

Phần I: Chính trị là gì?

·         Chương I: Định nghĩa chính trị

·         Chương II: Hoạt động chính trị

·         Chương III: Về môn học “Khoa học chính trị”

Phần II: Chính quyền và nhà nước

·         Chương I: Định nghĩa chính quyền

·         Chương II: Tính chính danh

·         Chương III: Nhà nước

Phần III: Dân chủ

·         Chương I: Định nghĩa dân chủ

·         Chương II: Dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện

·         Chương III: Về tính đại diện

·         Chương IV: Lợi ích và mặt trái của dân chủ

Phần IV: Các chủ nghĩa

·         Chương I: Thế nào là một chủ nghĩa?

·         Chương II: Chủ nghĩa tự do

·         Chương III: Chủ nghĩa bảo tồn (bảo thủ)

o   Chủ nghĩa thực dụng

·         Chương IV: Chủ nghĩa xã hội và dân chủ xã hội

o   Chủ nghĩa xét lại

o   Dân chủ xã hội

·         Chương V: Một số chủ nghĩa khác

o   Chủ nghĩa phát xít

o   Chủ nghĩa vô chính phủ

o   Chủ nghĩa môi trường

o   Tôn giáo thuần túy

o   Chủ nghĩa cộng đồng

o   Chủ nghĩa nữ quyền

o   Chủ nghĩa dân tộc và lòng yêu nước

·         Ý thức hệ có cần thiết không?

Phần V: Tương tác chính trị

·         Chương I: Thay đổi xã hội:

o   Cách mạng và chuyển hóa

·         Chương II: Làm truyền thông: công luận, truyền thông chính trị, và tuyên truyền

·         Chương III: Đảng và hệ thống đảng

·         Chương IV: Bầu cử

·         Chương V: Tổ chức và nhóm lợi ích

o   Tổ chức phi chính phủ

·         Chương VI: Xã hội dân sự

·         Chương VII: Phong trào xã hội

Phần VI: Bộ máy nhà nước

·         Chương I: Hiến pháp và pháp luật

·         Chương II: Lập pháp

o   Chức năng của quốc hội

o   Lưỡng viện và một viện

o   Tiến trình lập pháp

·         Chương III: Hành pháp

o   Nguyên thủ quốc gia và người đứng đầu chính phủ

·         Chương IV: Tư pháp

·         Chương V: Chế độ tổng thống và chế độ đại nghị

·         Chương VI: Bộ máy hành chính

·         Chương VII: Hệ thống chính trị CHXHCN Việt Nam

·         Chương VIII: Quân đội và công an

Phụ lục

Tài liệu tham khảo

Từ điển thuật ngữ

Đề mục tra cứu

Executive summary

Về tác giả - About the author

chinhtri_binhdan_doantrang01

Mua sách giấy, bản in đẹp... và thơm, tại:

- amazon.com/dp/1548466565

Mua sách điện tử (e-book) tại:

- amazon.com/dp/B07649TNJF/ref=redir_mobile_desktop

Nguồn: phamdoantrang.com/2017/10/neu-co-yeu-toi

"Những Mảnh Đời Sau Song Sắt" của Phạm Thanh Nghiên: Hồi của một Nữ Nhân Lương Tâm (Đào Trường Phúc)
Lượt xem: 3458

"...Đọc hồi ký "Những Mảnh Đời Sau Song Sắt"  không phải chỉ để thu lượm thêm một số dữ kiện về nhà tù cộng sản, mà còn là dịp ghi nhận thêm nhiều yếu tố giúp chúng ta theo dõi những chuyển biến chắc chắn sẽ tới từ cuộc đấu tranh kiên cường, quyết liệt của những con người tự nguyện dấn thân ..."

Read more