Tuyên truyền sùng bái “Bác” đảng một cách quáng, nếu ai chống lại sẽ bị đàn áp (Phần 7 - LRTRL) (Đặng Cứu Quốc)

Lượt xem: 283

“…Khi HCM chết đi, nhằm thực hiện mưu đồ chính trị tiếp tục, đảng CSVN ngày nay càng ra sức thần thánh hóa lãnh tụ hơn nữa. Ngoài việc tâng bốc “đạo đức HCM”, đảng CSVN còn cho rằng “tư tưởng HCM rất là vĩ đại”(“?”). Có đúng thật như vậy không?..” 

lang_hochiminh01

Nhắc đến ông Bùi Đình Hạc, nhiều người lại nhớ đến câu chuyện đạo diễn Trần Văn Thủy và bộ phim tài liệu "Hà Nội trong mắt ai" từng bị cấm, xảy ra thời ông Hạc làm giám đốc hãng phim Tài liệu khoa học Trung ương vào thập niên 80 thế kỷ 20. Bấy giờ, đạo diễn Trần Văn Thủy đã làm ra được một bộ phim hay, được rất nhiều người ủng hộ nhưng bị đảng cấm chiếu.  

Phim bị cấm với lý do: phim phản ánh trung thực những dữ kiện lịch sử, tuy nhiên,  tác giả đã lấy xưa nói nay bị cho rằng có ý nói xấu đảng, kêu gọi quần chúng, đảng viên chống đối đảng, xóa bỏ độc tài, bất công đem lại công bằng hạnh phúc cho nhân dân v.v... Phim bị cấm chiếu, nhưng vẫn có những con, em, người nhà của các cán bộ công an thành phố Hà Nội hay Bộ Công an xem lén thoải mái. Việc xem phim cấm thoải mái nếu có quen biết với công an cũng là chi tiết phản ánh tình trạng dùng luật rừng ở Việt Nam. Tại sao dân thường bị cấm, không được xem, nhưng con em, vây cách của cán bộ công an thì lại được xem? Luật nào mà có sự phân biệt đối xử giữa dân thường và thân nhân công an như thế? Luật rừng chăng? 

Nội dung phim có đoạn nói đến việc vua Lê Thánh Tông dựng đình Quản Văn, đặt trống Đăng Văn cho dân chúng đến kêu oan. Phim liên tưởng: giá như thời Lê Mạt cũng có một cái trống như vậy thì tại đây dân chúng sẽ phải đinh tai nhức óc bởi vì dân chúng sẽ kêu oan liên tục ngày đêm. Thời Lê Trung Hưng - Lê Mạt (1527 -  1788) tức là thời kỳ Lê Trung Hưng, còn được gọi là thời Lê - Trịnh. Trong suốt thời phong kiến Việt Nam, thời kỳ này là thời kỳ duy nhất: vừa có vua lại vừa có chúa. Chúa Trịnh nắm thực quyền, vua Lê chỉ là bù nhìn. Cục A25 Bộ Công an, Bộ Văn  hóa thông tin và Ban Tuyên giáo trung ương đảng cho rằng: bộ phim ám chỉ chủ tịch Quốc hội và Quốc hội giống như vua Lê cùng quần thần tại dinh vua Lê chỉ là bù nhìn; tổng bí thư đảng và Bộ Chính trị đảng CSVN giống như chúa Trịnh và các thế lực tại phủ Chúa lộng hành ức hiếp vua cùng quần thần của vua, nhưng cả hai lực lượng này đều hại dân, hại nước!...  

Đa số là nói chuyện xưa, phim gồm những tích tuồng trị nước yên dân. Nhưng không may cho ông Thủy, có người lại nói: chuyện xưa sao giống nay thế? Sao nó lại giống hiện thực cộng sản hồi đó đến thế?! Tại sao Nguyễn Siêu lại cho dựng tháp Bút bên hồ Gươm? Tại sao Tổng đốc Hoàng Diệu lại cho đặt tấm bia đá ở ô Quan Chưởng?... Trong 38 năm cầm quyền của Lê Thánh Tông, đất nước thịnh trị. Xây dựng bộ luật Hồng Đức, thành lập hội Tao Đàn, viết Đại Việt sử ký toàn thư, dựng bia Văn miếu,… có vị vua nào làm được lắm việc lớn như ông này không? Mà đến nay, thời cộng sản, cái điện Huy Văn, nơi bà Ngô Thị Ngọc Giao đẻ ra vua Lê Thánh Tông xiêu vẹo, đổ nát, người ta đã dọn nó đi để làm trụ sở UBND phường (Vào cái  thời điểm đó người ta vẫn còn hay phá hoại đình chùa). Có người nói: phải chăng ông Thủy dám so sánh chế độ cộng sản bây giờ không bằng chế độ phong kiến của vua Lê Thánh Tông ngày xưa?  

Ông Thủy nhớ lại dạo ấy không một ai có thể tìm ra bất kỳ một sai sót nào của bộ phim về sự thật lịch sử. Như đoạn nói về Lê Lợi (Lê Thái Tổ): Có Nguyễn Trãi, người quê làng Nhị Khê nhưng lại sinh thành ở Hà Nội. Tâm huyết suốt đời cho sự tồn vinh  của đất nước và nghĩ tới thân phận của những người dân, ông từng đặt bút: "Chăn  lạnh vắt vai đêm chẳng ngủ /Suốt đời ôm mãi nỗi lo dân". Từng được ông cùng Trần Nguyên Hãn "nếm mật nằm gai" phò vua suốt 10 năm là thế, nhưng khi được lên ngôi, vị vua Lê Lợi này nghi kỵ các quan cận thần, đã phế truất, trù dập cả Nguyễn Trãi, Phạm Văn Sảo và Trần Nguyên Hãn, tống Nguyễn Trãi vào ngục... Nguyễn Trãi đã khuyên vua Lê Lợi: "Thưa bệ hạ, thương yêu dân chúng thì hãy làm những việc nhân đức, đừng vì ơn riêng mà thưởng bậy, đừng vì giận ai mà phản bội. Đó là cái  gốc trường tồn nhất của đất nước! "...  

Người ta tranh cãi về những đoạn phim như thế này rất dữ, rằng phim đã ám chỉ ông này, ám chỉ ông kia bấy giờ trong trung ương đảng... Cho đến năm 1985, ông Thủy bị kỷ luật, bị khai trừ đảng. Ông chua chát kể lại: “Mình không còn cái gì nữa kể cả điều kiện làm việc, miếng cơm manh áo, tất tật,... mất hết. Vợ mình bảo mình là thằng điên. Bạn bè cũng nói mình vậy. Nỗi khổ nhất lúc ấy là sự cô đơn. Bạn bè đồng nghiệp lên cơ quan bảy rưỡi, tám giờ có mặt tề tựu đông đủ chỉ để xem mình...  đã bị công an bắt hay chưa?”(“?”!). Cuối cùng, ông Bùi Đình Hạc đã cùng ông Thủy chở bộ phim đem chiếu cho Thủ tướng Phạm Văn Đồng (trước đây) xem. Đạo diễn  Thủy đã nói với ông Đồng: “Thưa bác! Khi chúng cháu đến mộ bà Đoàn Thị Điểm thì thực sự lúc này nó chỉ còn là một đống rác, và chúng cháu đã phải thuê dọn cái đống rác này đi mất nửa ngày. Rồi xin một chút nước vôi quét lên tấm bia mộ của bà, mượn một số chậu cảnh quanh đó bày đặt, quay phim để khỏi mang tội bất hiếu với tiền nhân...".  

Sau khi xem phim xong, Thủ tướng Phạm Văn Đồng ra lệnh phim đó sẽ được chiếu rộng rãi, không bị cấm nữa. Tiếp theo sau đó, đạo diễn Trần Văn Thủy được phong danh hiệu Nghệ Sĩ Nhân Dân, được phục hồi tất cả mọi quyền lợi, kể cả đảng tịch...  bởi vì Liên Xô sắp sụp đổ rồi và đảng đang chuẩn bị “đổi mới”. Thật là may cho ông Thủy biết bao, nếu như Liên Xô chưa thay đổi thì ông Thủy đừng hòng mà ngóc đầu dậy nổi! Câu chuyện nỗi oan của đạo diễn Trần Văn Thuỷ không phải là nỗi khổ của riêng ông mà là nỗi đau chung của cả một dân tộc Việt Nam. Dưới một chế độ độc tài đảng trị, người ta không xử sự mọi thứ theo luật pháp mà chỉ thích dùng luật rừng theo cảm hứng, cảm tính cá nhân một cách tùy tiện mà thôi. Một bộ phim nếu cho là đúng hay sai, được chiếu hay bị cấm, lẽ ra phải được xét với những qui định, căn cứ dựa trên pháp luật mới đúng. Đằng này, không phải vậy, những đảng viên cao cấp, quyết đoán cấm chiếu bộ phim này theo suy nghĩ cá nhân với tư cách độc tài đảng trị mà thôi.  

Suy nghĩ của ông Đồng là suy nghĩ của đảng. Chỉ thị của ông về vấn đề bộ phim là chỉ thị của đảng. Rõ ràng là đến khi ông Đồng ra lệnh cho phép phim được quyền chiếu rộng rãi, lệnh của ông cũng theo phán quyết với tư cách cá nhân của một đảng viên cao cấp trong Bộ Chính trị, mà không nói là căn cứ theo điều nào của luật pháp cả. Muốn cấm thì cấm, muốn cho thì cho, đó là quyền của đảng. Đảng có đặc quyền ra lệnh một cách tùy tiện như thế bất kể nó đúng hay sai, bất cần luật pháp là gì, đảng đứng trên luật pháp. Đảng luôn có quyền ban hành “lệnh rừng”! Ông thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng là một ông thích dùng luật rừng. Ông ta cũng chẳng có tài năng lãnh đạo, cũng không tiếp thu và không hiểu gì về luật pháp văn minh, dân chủ. 

Tiến Sĩ Hà Sĩ Phu, người nhiều năm nghiên cứu về chủ nghĩa cộng sản tại Việt Nam nói rằng thực ra, người cộng sản chỉ coi pháp luật là một công cụ tạm thời của họ mà thôi: “Thực tế là Đảng Cộng sản muốn chỉ đạo tuyệt đối. Cái câu của ông Phạm Văn Đồng là cái câu điển hình nhất. Khi ông Nguyễn Mạnh Tường nói rằng Thủ tướng đứng đầu ngành hành pháp thì việc làm chính yếu là phải nghĩ đến việc xã hội phải có một bộ luật cho thật văn minh, thì ông Phạm Văn Đồng trả lời rằng luật để làm gì, luật để mình tự trói tay mình lại à!” 

Trở lại vấn đề ông Thủy, giả sử phim không tới tay ông Đồng thì sao? Khi ấy, ông Thủy sống không ra sống, chết không ra chết, không biết kiện ở đâu? Và cũng không có luật pháp nào bảo vệ ông Thủy cả, ông phải chịu oan ức suốt đời mà thôi!? Trong khi thực tế đã cho thấy, ông Thủy thật sự là một nhân tài! Một xã hội đầy cạm bẫy, tai ương như thế thì làm sao ai dám gọi là nó có tôn trọng nhân quyền, có dân chủ, công bằng, “chính quyền là của dân, do dân và vì dân”? Mà lợi dụng câu nói đó của tổng thống Abraham Lincoln của Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ, HCM ghi vào bản tuyên ngôn độc lập, hiến pháp, mà đọc như con vẹt? Rõ ràng, đây là một bằng chứng sống về một công trình nghệ thuật bị vùi dập, một nghệ sĩ bị bôi nhọ tùy tiện vô căn cứ bởi sự thống trị quái dị của đảng cộng sản độc tài đứng trên pháp luật.

Đảng CSVN hủy diệt cải lương 

Cũng chính vì sự kiểm soát quá gắt gao của phòng PA 25 công an các tỉnh thành, của Sở Văn hóa Thông tin và của Ban Tư tưởng Văn hóa Thành Ủy khắp nơi dưới sự chỉ đạo của đảng, các đoàn hát Cải lương, các đoàn đờn ca tài tử cổ truyền ở miền Nam đã bị bóp chết vĩnh viễn. Bất kỳ một tuồng hát nào cũng bị kiểm duyệt  khắc nghiệt giống như bộ phim "Hà Nội trong mắt ai" đã từng bị. Tất cả những tuồng hát bị o ép, bị bắt buộc phải ca ngợi đảng, ca ngợi “bác” đến mức vô cùng tận. Nhiều tuồng cải lương, theo lệnh đảng, ra đời luôn sặc mùi chính trị, mất hết ý nghĩa sự  thật của cốt chuyện trong cải lương, mất hết đặc tính của cải lương, sinh ra nhàm chán, ế ẩm. 

Dần dần, theo thời gian, không ai xem cải lương nữa. Cải lương bị đi đến chỗ tan rã, lụi tàn. Cải lương bị đi đến chỗ chết! Chính đảng CSVN đã hủy diệt văn hóa dân tộc nói chung và cải lương Việt Nam nói riêng! Mặc dù trước đây đối với đồng bào miền Nam và sau năm 1975 đối với đồng bào miền Bắc, họ rất thích xem và nghe các tuồng hát cải lương biểu diễn, múa hát, đờn ca tài tử. Nhưng giờ đây, ngành hát cải lương đã đi vào dĩ vãng do sự khủng bố của đảng, trước những thủ đoạn kiểm duyệt  nhằm tiêu diệt ngành hát dân gian này, vì đảng rất sợ các văn nghệ sĩ cải lương dùng xưa nói nay, dùng câu chuyện lịch sử để so sánh xa gần, chê bai đảng. Hơn nữa, các đoàn cải lương mang tính nghệ thuật dân gian, rất gần gũi với quần chúng  nhân dân. Những đoàn này luôn rong ruỗi, rày đây, mai đó khắp các tỉnh thành, khắp các miền quê Việt Nam rất khó cho đảng kiểm soát. 

Đảng luôn phập phồng lo sợ một ngày nào đó các đoàn cải lương sẽ thu phục quần  chúng, quy tụ lòng dân, tuyên truyền làm giảm uy tín đảng, phản đảng v.v... Đảng ra sức dùng biện pháp siết chặt kiểm duyệt. Kết quả, cải lương Việt Nam bị bóp chết  vĩnh viễn dưới bàn tay gian manh của đảng cộng sản. Đó là hành động thực hiện dã  tâm hủy diệt văn hóa dân gian đồng bào miền Nam rất đê hèn của đảng CSVN. Thế  rồi, đảng lại chối tội. Đảng ngụy biện rằng Cải lương bị chết là do nó tự chết, là do bây giờ nhiều người có đầu máy video nên tự mua phim về xem, hoặc có nhiều rạp  chiếu phim…nên không ai thích xem tuồng hát Cải lương nữa v.v… nên nó tự chết  chứ không phải do đảng giết nó (“?”).  

Nếu nói như vậy thì tại sao ở Thái Lan, Ấn Độ…vẫn có video, vẫn có những rạp chiếu phim tối tân, hiện đại hơn Việt Nam, vẫn có hệ thống computer, internet để xem phim tự do hơn Việt Nam nhiều nhưng mà ở các nước này các tuồng hát nghệ  thuật dân tộc cổ truyền của người ta đâu có bị bóp chết, vẫn tồn tại, vẫn được nhân dân nước người ta và cả thế giới chào đón để xem nồng nhiệt hàng ngày đến tận hôm nay cơ mà?  Đảng ngụy biện gì đi nữa thì ai cũng biết quá rõ nguyên nhân các đoàn hát cải lương dân gian Việt Nam chết là do chính bàn tay hủy diệt văn hóa của đảng CSVN gây ra! 

Không phải riêng gì cải lương mà mọi ngành mọi nghề khác liên quan đến văn hóa, khoa học đều bị đảng sử dụng lực lượng an ninh, Sở Văn hóa Thông tin và Ban Tư tưởng Văn hóa thành ủy, tỉnh ủy kiểm soát gắt gao, gắt gao đến nỗi, không có một  công trình nghệ thuật, khoa học nào ra hồn gì cả! Tất cả mọi thứ đều bị bắt buộc  phải có tính đảng, tính giai cấp, phải ca ngợi đảng, ca ngợi bác mới được diễn, mới được chiếu, mới được xuất bản, mới được ra đời, mới được đảng công nhận... Tất cả các văn nghệ sĩ, trí thức đều không được tự do sáng tác, sáng tạo. Con người chỉ  là một cái máy phục tùng đảng. Nhân dân Việt Nam dưới ách thống trị của đảng hoàn toàn bị mất tự do,  chẳng khác nào như những con cá rô quanh năm suốt tháng, chỉ được quanh quẩn trong cái ao cá bác Hồ dưới sự cai quản, lãnh đạo, thống trị của bác, của đảng mà thôi. 

Nếu đảng CSVN còn tồn tại, nước Việt Nam này sẽ không thể nào có được một tác phẩm văn chương nào có thể giúp tác giả đoạt giải Nobel văn chương cho được, bởi vì tác phẩm nào cũng rất tồi do luôn có sự cắt xén, o ép, kiểm duyệt xiết chặt của đảng gây ra, và rồi “trong suốt thời gian đảng tồn tại” cũng không thể có một công trình nghệ thuật nào đạt giá trị quốc tế cho được. Mọi thứ chỉ ngày càng đi đến chỗ lụn bại khi mà cái đảng cộng sản phản động này còn tiếp tục ngự trị mà thôi! Đó cũng là lý do trả lời câu hỏi tại sao mà người dân, nhất là giới trí thức, sinh viên và học sinh không còn tha thiết đọc sách, báo của nhà nước cộng sản Việt Nam nữa, nhất là những tài liệu liên quan đến lịch sử. Lý do duy nhất là họ đã chán ngấy phải nghe đảng và nhà nước tuyên truyền những nội dung mang tính nhồi sọ, không đúng sự thật và luôn bịa đặt. Nhưng mặc dù chán ngấy, biết là đảng bịa đặt, người dân vẫn khó mà hình dung được, khó mà biết rõ chính xác được sự thật ra sao vì các luồng thông tin luôn bị bưng bít, che giấu. Chính vì nhân quyền và dân chủ không có nên đảng mới có những hành động thái quá, lộng hành như thế. 

Vào thời điểm 2010 và sau đó, những giáo dân ở Cồn Dầu cũng đã và đang bị nỗi  khổ do mất nhân quyền mà ra. Đất của người dân bị đảng và nhà nước cướp đoạt  dưới danh nghĩa “thu hồi”. Nhà nước lấy đất này đem phân lô bán nền với giá cắt cổ,  chủ yếu cho những người giàu có và các cán bộ có chức có quyền của đảng. Người giáo dân nếu có nguyện vọng được tái định cư gần Nhà thờ, gần nơi ở cũ thì phải làm đơn. Đó là đơn khiếu nại xin được tái định cư quanh nhà thờ nộp ngày 26 tháng 11 năm 2010, sau khi đất của họ bị qui hoạch, thu hồi giao cho công ty tư nhân Mặt Trời thực hiện dự án khu đô thị sinh thái.  

Thế rồi, những giáo dân làm đơn xong thì bị công an mời lên điều tra, gây khó dễ.  Đơn khiếu nại không hề được giải quyết, nhưng rồi những người ký tên trong đơn  thư đó bị cơ quan chức năng mời đi làm việc. Họ dọa nạt nếu không ký rút đơn sẽ bị bỏ tù, sẽ bị trù dập thế này thế nọ...(“?”). Một xã hội độc tài đảng trị, không còn biết thượng tôn pháp luật. Nhân quyền, nhân phẩm bị chà đạp quá lố đến mức không thể  chấp nhận được! Đất của giáo dân đã có được trên 135 năm nay, không cần làm đơn từ gì cả! Đảng và công an không có quyền điều tra hạch hỏi gì cả mà phải trả lại nhà, đất cho dân một cách vô điều kiện ngay lập tức! Nếu không được như thế thì phải lật đổ ngay lập tức cái chế độ thối nát này đi! Rất đáng phải làm như thế! Nó là một cái chế độ bẩn thỉu, một chế độ cộng sản đê hèn, bỉ ổi! Hành hạ người dân đến thế là cùng! 

Có lần, ông Thượng tướng công an Nguyễn Văn Hưởng, Ủy viên trung ương Đảng, Ủy viên ban thường vụ Đảng ủy công an trung ương, thứ trưởng Bộ Công an đã nói rằng: “Nhân quyền ở Việt Nam khác với nhân quyền của phương Tây”(“?”). Xin mời  ông Hưởng xem lại câu chuyện về đạo diễn Trần Văn Thủy - nhân viên của giám đốc  Bùi Đình Hạc và xin mời ông, khi ấy, ngay lập tức hãy đến Cồn Dầu thì sẽ rõ! Nhân quyền Việt Nam có khác với nhân quyền phương Tây thật không? Hay là Việt Nam không hề có nhân quyền thì đúng hơn? 

Vì phạm nhiều tội ác và vi phạm nhân quyền đến tột đỉnh, đảng và nhà nước CSVN đã mất hết uy tín với nhân dân. Trong ban lãnh đạo đảng cầm quyền đương thời, không còn ai có uy tín với nhân dân nữa. Lo sợ ngày nhân dân đào mồ chôn họ gần cận kề, họ liền đưa hình ảnh ông Hồ Chí Minh ra, để lần cuối cùng nhắc nhở mọi người rằng cái đảng này do ông Hồ lập ra, để rồi hy vọng mong manh, may ra vớt vát, cứu vãn tình hình chăng? Họ ra sức hô hào, tiếp tục thần thánh hóa lãnh tụ,  thực hiện thủ đoạn gây sùng bái cá nhân...  

Một việc làm mà khi còn sống, ông Hồ vẫn hay làm. Nhưng công trình của họ đã bị phản tác dụng, đảng cộng sản vẫn còn chủ quan, họ không hề biết đây là thế kỷ 21 nên với thời đại thông tin ngày nay, ai cũng sẽ hiểu sự thật về Hồ Chí Minh chẳng  sớm thì muộn mà thôi! Ngày 19-09-2007, Báo Nghệ An điện tử của Đảng bộ tỉnh Nghệ An, quê bác, ở mục  “Sách báo – tài sản vô giá của Chủ tịch Hồ Chí Minh” đã đăng tin: “…Thời gian Bác ở nước Pháp từ năm 1919 đến năm 1923, cuốn sách  Những Mẩu Chuyện Về Đời Hoạt Động Của Hồ Chủ Tịch của Trần Dân Tiên (một  bút danh của Bác) cho biết: "Thường thường, ông chỉ làm việc nửa ngày; làm buổi  sáng để kiếm tiền, còn buổi chiều đi đến thư viện"...”. 

Lùi xa hơn chút nữa vào quá khứ, năm 1985, Giáo sư Hà Minh Đức đã xuất bản cuốn Những Tác Phẩm Văn Của Chủ Tịch Hồ Chí Minh, trong đó có đoạn: ‘‘…Đáp lại  tình cảm mong muốn của đồng bào và bạn bè trên thế giới. Hồ Chủ Tịch với bút  danh Trần Dân Tiên đã viết tác phẩm Những Mẩu Chuyện Về Đời Hoạt Động Của  Hồ Chủ Tịch vào mùa xuân năm 1948…’’. (Hà Minh Đức, sách đã dẫn, Tr 132, NXB Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1985). Như vậy có nghĩa là tác giả Trần Dân Tiên chính là  Hồ Chủ Tịch. Giáo sư Nguyễn Khánh Toàn, người biết rất rõ ông Hồ từ những năm 30, khi cả hai cùng học tập và làm việc ở Liên Xô đã viết lời tựa cho cuốn sách cũng đã khẳng định như vậy.  

Giáo sư Hà Minh Đức sinh ngày 03 tháng 05 năm 1935. Ông tốt nghiệp khoa Ngữ văn Đại học tổng hợp Hà nội năm 1957 (nay là Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội). Ông giảng dạy tại Đại học Khoa học Xã hội và Nhân  văn, lần lượt đảm nhiệm các chức vụ Trưởng bộ môn Lý luận Văn học; Phó chủ nhiệm Khoa Ngữ văn; Chủ nhiệm Khoa Báo chí Đại học Tổng hợp Hà Nội. Từ 1995  đến tháng 02 năm 2003 ông là Viện trưởng Viện Văn học kiêm Tổng biên tập Tạp chí  Văn học. Ông còn giữ các chức vụ như thành viên Ủy ban Giáo dục toàn quốc (từ  1998); Ủy viên Hội đồng lý luận - phê bình văn học nghệ thuật Trung ương (từ tháng  09 năm 2003). Ông đã được tặng Giải thưởng nhà nước về văn học - nghệ thuật,  Huân chương lao động hạng nhất, Nhà giáo nhân dân, Giải thưởng nhà nước về  nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn. Do đó, lời ghi nhận của vị Giáo sư đối với thân thế tác giả Trần Dân Tiên chính là Hồ chí minh là có giá trị xác thực. 

Tác giả Trần Dân Tiên và Hồ Chủ Tịch chỉ là một người, thì xét theo khía cạnh nào cũng đều không ổn. Chúng ta hãy nghe một vài đoạn Chủ Tịch Hồ Chí Minh tự viết  về mình, tự tâng bốc, đánh bóng mình như sau: ‘‘… Bác Hồ của chúng ta vô cùng  khiêm tốn; Bác không muốn kể cho ai nghe về hoạt động của mình; Bác Hồ được nhân dân ta coi là vị cha già kính yêu của dân tộc; Bác còn vĩ đại hơn Lê Lợi, Trần  Hưng Đạo vì đã đưa dân tộc ta vào kỷ nguyên xã hội chủ nghĩa…’’!, và nữa, bác đã  nói với Trần Dân Tiên và tác giả Trần Dân Tiên ghi lại rằng: ‘‘…Một người như Hồ  Chủ Tịch của chúng ta với đức tính khiêm tốn nhường ấy và đang lúc bề bộn biết bao nhiêu công việc, làm sao có thể kể cho tôi nghe bình sinhcủa  Người được?…’’!  (Trần Dân Tiên, sách đã dẫn). Cũng cần lưu ý rằng vào năm 1948 thì cái gọi là ‘‘vị cha già kính yêu của dân tộc’’ ấy, “vị ấy” chỉ mới có 58 tuổi!(“?”)  

Trong thực tế, nhân loại cũng đã có những người dùng quyền lực hay tiền bạc để bắt người khác ca ngợi mình. Nhưng nếu Hồ Chủ Tịch lại tự mình đứng ra làm việc đó thì quả là chuyện… “khó coi” chưa từng thấy! Chỉ với một “đóng góp” ấy thôi thì  cũng đủ để ông vi phạm hàng loạt những giá trị văn hóa, đạo đức mà ông cha ta từ bao đời nay vẫn hằng nâng niu, trân trọng. Không rõ là những người đang “giữ gìn và bảo vệ tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh” có coi đây như là một trong những “yếu  tố cấu thành” nên tư tưởng, đạo đức của ông ta hay không “?” Và giả sử ở dưới cõi âm kia, nếu ông gặp các vị cách mạng đàn anh khác như Stalin, Mao Trạch Đông,  Đặng Tiểu Bình, v.v… thì không nói. Nhưng nếu không may, ông lại gặp Trần Hưng  Đạo, Lê Lợi thì biết ăn làm sao, nói làm sao cho phải với những vị anh hùng chân chính của dân tộc Việt Nam đây? 

Về vấn đề Trần Dân Tiên, nhà dân chủ Phương Nam - Kỹ sư Đỗ Nam Hải nhận xét: “Nếu vì muốn trở thành một ‘ngôi sao sáng vô ngần’ mà chính vị lãnh tụ lại cho ra đời một sản phẩm kiểu như Những Mẩu Chuyện Về Đời Hoạt Động Của Hồ Chủ Tịch, thì  lại là điều không thể chấp nhận được. Bởi vì đó thực chất là thủ đoạn nhằm giành chiến thắng bằng mọi giá, mọi cách. Kể cả những cách rất thiếu tử tế: chủ động đi hủy hoại những giá trị văn hóa của nhân loại nói chung và dân tộc nói riêng mà hậu  quả để lại sẽ rất nặng nề cho hậu thế. Bằng cách đó ở một giai đoạn nhất định, có thể ông cũng tự đưa được uy tín của mình lên vị trí rất cao trong lòng một bộ phận dân tộc. Song nếu xét về lâu về dài, khi phần lớn đã nhận ra sự thật thì cái hình ảnh:  ‘Cả đoàn quân tiến theo Người như thác đổ’ sẽ trở nên phũ phàng và thật đáng xấu hổ với bạn bè thế giới.”. 

Nhưng HCM đã đã làm như vậy thì làm sao ai dám đề cử ông vào chức danh “danh nhân văn hóa” cho được ngoại trừ CSVN? Trước đây, HCM đã viết sách tự ca ngợi  mình không những với một bút danh Trần Dân Tiên mà còn có nhiều bút danh khác,  trong đó đáng nhắc đến là T.L hay T.Lan. Tác phẩm "VỪA ĐI ĐƯỜNG VỪA KỀ  CHUYỆN" được viết vào năm 1950. Hồ Chí Minh lấy bút danh là T. Lan, đóng vai một chiến sĩ trong đoàn tùy tùng của Chủ tịch đi hành quân, vừa đi vừa hỏi chuyện  Chủ tịch và ghi chép lại. Sách được nhà xuất bản Sự Thật xuất bản năm 1963, ghi lại một số mẩu chuyện và đời hoạt động của HCM ở nước ngoài từ khoảng 1923 đến  1945. Giáo sư Hà Minh Đức đã cho biết T.Lan cũng chính là bút hiệu của Hồ Chí  Minh. Ông đã giới thiệu khái quát về nội dung của tác phẩm Vừa Đi Đường Vừa Kể Chuyện này của Hồ Chí Minh trong cuốn Tác Phẩm Văn Của Chủ tịch Hồ Chí Minh,  nhà xuất-bản Khoa-học xã-hội, 1985, tr. 142-150.  

Khác với vấn đề công khai tác giả T.Lan gắn liền với tác phẩm "VỪA ĐI ĐƯỜNG  VỪA KỀ CHUYỆN", đối với tác giả Trần Dân Tiên gắn liền với cuốn sách NHỮNG  MẪU CHUYỆN VỀ ĐỜI HOẠT ĐỘNG CỦA HỒ CHỦ TỊCH, ngay trong tác phẩm  này, đảng và nhà cầm quyền Hà Nội chưa chính thức công nhận Trần Dân Tiên là bút danh của Hồ Chí Minh. Trong khi đó, đảng và nhà cầm quyền Hà Nội lại đã chính thức công nhận T.Lan là bút hiệu của Hồ Chí Minh ngay trong quyển sách "VỪA ĐI  ĐƯỜNG VỪA KỀ CHUYỆN": Theo lời giới thiệu của đảng và nhà cầm quyền Hà Nội ở trang đầu quyển sách "VỪA ĐI ĐƯỜNG VỪA KỀ CHUYỆN" này thì “Tập sách Vừa Đi Đường Vừa Kể Chuyện, T. Lan, xuất bản lần đầu vào năm 1963, tái bản lần  thứ nhất vào năm 1994, ghi lại một số mẩu chuyện về cuộc đời Cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh do chính Người kể trên đường ra mặt trận trong chiến dịch Biên giới 1950. Câu chuyện lồng trong bối cảnh của một trận địa lớn, mà không phải tác giả (T.Lan, bút hiệu của Hồ Chí Minh) viết lịch sử về mình...”.

Mặc dầu rơi rớt đâu đó có nói đến vấn đề hai bút danh Trần Dân Tiên và T.Lan là  của Hồ Chí Minh, tuy nhiên, sau này, trên văn bản thông báo chính thức của đảng  CSVN như những tờ báo của Bộ Ngoại giao, của tờ báo Đảng CSVN trong năm  2011 (website Đảng cộng sản Việt Nam)..., đảng CSVN vẫn cố tình tránh né, che giấu hai bút danh Trần Dân Tiên và T.Lan này của HCM. Bởi vậy, ai đã từng ngồi trên ghế nhà trường XHCN Việt Nam, trong suốt thời gian học từ bậc Phổ thông đến Đại  học, hết Đại học đến học trên Đại học, cũng chưa bao giờ có một người học viên nào được thầy cô, giảng viên nói đến hai cái tên Trần Dân Tiên và T.Lan này là ai? 

Thậm chí, với sự quy định nội bộ của Ban Tuyên giáo trung ương và của Bộ Giáo dục thì dù có hỏi về hai cái tên Trần Dân Tiên và T.Lan này, học sinh cũng nhận được câu trả lời là không biết hoặc trả lời sai trái từ phía giáo viên cộng sản mà thôi. Lạ thay, phải chăng, đảng CSVN thừa hiểu đây là hai cái tên rất nhạy cảm có ảnh hưởng đến vấn đề đạo đức Hồ Chí Minh? Và ảnh hưởng xấu đến uy tín đảng cộng  sản Việt Nam nên lịch sử Việt Nam do đảng CSVN soạn ra không bao giờ nói đến điều này? 

Báo điện tử Đảng cộng sản Việt Nam trong năm 2011, khi đề cập đến những “tên gọi, bí danh, bút danh của Chủ tịch Hồ Chí Minh” thì họ kể một lèo ôi thôi không biết bao nhiêu là bí danh, bút danh, có đến trên 169 bí danh, bút danh, nhưng nếu ai cố  mà tìm hai cái tên Trần Dân Tiên và T.Lan thì chẳng thấy đâu cả (“?”). Đơn giản, dễ hiểu thôi, không thể thấy được hai cái tên này bởi vì hai cái tên này ra đời sau năm 1945 (Trần Dân Tiên ra đời năm 1948 và T.Lan ra đời năm 1950). Trong khi đó,  đảng cố tình cố ý chỉ kể tên gọi, bí danh, bút danh của Hồ Chí Minh đến năm 1945 và dừng lại ở mốc thời gian đó mà thôi (“?”), và họ cố ý viết một câu giả vờ như vô tình mà rằng: “Đó là những biệt hiệu, bút danh gắn với cuộc đời hoạt động cách  mạng sôi nổi của Bác Hồ trong giai đoạn từ khi rời bến cảng Nhà Rồng ra đi tìm đường cứu nước mùa hè năm 1911 đến Cách mạng Tháng Tám 1945, căn cứ theo  Biên niên tiểu sử và Toàn tập tác phẩm của Người”. “?” 

Đã nói đến bút hiệu, bút danh thì từ lúc sống cho đến lúc chết có bao nhiêu cũng phải kể ra hết, chứ vì cớ làm sao mà đảng chỉ kể đến năm 1945 thôi “?” Thật đúng là cái đảng cộng sản do HCM đẻ ra! Nó cũng gian manh chẳng khác nào ông ta! Đảng phải biết dừng lại ở con số của cái năm 1945 thôi, bởi vì với con số này đảng có thể  “nhục nhã còn lối thoát”, còn nếu đảng mà liều mạng, dám kể vượt qua con số cái năm 1945 thì đảng chỉ còn nước “nhục nhã ngã gục” trong sự bí lối khốn nạn mà thôi! Bởi vì vượt qua cái năm 1945, hai cái tên Trần Dân Tiên (1948) và T.Lan (1950) bắt buộc phải hiện ra, mà nếu hai cái tên Trần Dân Tiên và T.Lan hiện ra thì khác nào đảng tự cắt cổ đảng, đảng dù có tự tử chết thì vẫn còn chưa hết nhục nhã?! 

Rõ ràng, việc giấu gấu diếm diếm hai cái tên Trần Dân Tiên và T.Lan của Hồ Chí Minh là cố ý, là có ý đồ chính trị chứ chẳng phải vô tình của đảng CSVN nhất là kể từ sau ngày Bộ Chính trị phát động phong trào học tập tư tưởng và đạo đức HCM. Noi  gương HCM, đảng CSVN làm việc gì cũng có tính toán đến thủ đoạn, như việc che giấu, bưng bít sự thật một cách trơ trẽn về HCM. Thử hỏi, một con người như HCM, đã tự viết tự truyện, tự ba hoa, khoác lác, tự cao tự đại để tự ca ngợi mình, tự sùng  bái cá nhân mình, thần thánh hóa mình với vai trò lãnh tụ một cách thái quá, vi phạm những tiêu chuẩn giá trị văn hóa, đạo đức cơ bản nhất của một con người. Một con người có vấn đề về đạo đức như thế, sống bằng đạo đức giả đến mức tệ hại như thế  thì có gì đáng để mà học tập? Nhưng trớ trêu thay, đảng CSVN vẫn đem cái đạo đức giả của HCM ra để bắt buộc cả dân tộc Việt Nam phải học tập (“?”). Đảng CSVN giờ đây, đến thế kỷ 21 rồi, đến thời đại của thông tin, internet, thời đại của tri thức rồi mà họ cứ ngỡ là nhân dân Việt Nam cũng còn kém văn hóa như họ sao? Dễ dàng làm ngơ để cho họ tiếp tục mị dân, lừa dân nữa hay sao? 

Cái nghề nói dóc, mị dân để tâng bốc HCM là cái nghề ruột của những ông gọi là “tuyên giáo, tuyên huấn” ở cấp địa phương, còn ở cấp trung ương thì được gọi là Ban Tư tưởng Văn hóa trung ương. Trưởng Ban Tư tưởng văn Hóa trung ương ở  thời điểm năm 2010 là Tô Huy Rứa. Trước kia có ông Trần Trọng Tân, ông Tân này  lúc xưa đương chức rất nói dóc, sau này càng dóc, càng láo nhiều hơn.  

Nhằm hưởng ứng phong trào học tập “đạo đức bác Hồ”, đua nhau tâng bốc HCM, ngày thứ năm, 05/11/2009, lúc 06 giờ 46 phút, trên báo Công an TPSG có đăng bài  viết với tựa đề “Nhân kỷ niệm 92 năm Cách mạng Tháng Mười Nga (7-11-1917, 7- 11-2009) - Lời cảnh báo được bổ sung của  Trần  Trọng Tân, nguyên ủy viên Ban chấp hành T.Ư  Đảng, Trưởng  Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương. Nội dung bài viết này là: Stalin thích sùng bái cá nhân nên làm đảng suy yếu, sau cùng cộng sản Liên Xô sụp đổ. Trong khi đó ở VN, bác Hồ có đạo đức rất tốt không thích sùng bái cá nhân, cho nên CSVN sẽ bền vững. 

Không những riêng gì ở báo Công an TP Sài Gòn (TPSG), trước đó vào ngày  06/11/2007 ở báo điện tử Sài Gòn giải phóng với bài viết “Cách mạng Tháng Mười Nga vẫn còn giá  trị lịch sử và ý nghĩa thời đại” và sau đó vào ngày 30/06/2010, đăng trên Tạp chí Cộng Sản số 12 (204) năm 2010 với bài viết “Tư tưởng lớn từ những mẩu chuyện nhỏ” của ông Tân cũng với nội dung tương tự như vậy, nghĩa là sùng bái, thần thánh hóa vai trò HCM, tâng bốc đạo đức HCM, nào là HCM không muốn sùng bái cá nhân, nào là: “Đặc biệt, vị lãnh tụ của Đảng, của dân tộc, có uy tín rất lớn nhưng rất nhạy cảm với tệ sùng bái cá nhân” ...,  

Và khác với Liên Xô, “Công tác tuyên truyền của Đảng cộng sản Liên Xô lại tâng bốc lãnh tụ Stalin quá mức, kích thích sự sùng bái cá nhân Stalin và Stalin cũng thích được sùng bái. Ở Việt Nam ta có Bác Hồ, người học trò xuất sắc của Lênin, đã nêu  gương sáng về tài cao, đức dày, đã vận dụng sáng tạo các nguyên tắc về xây dựng  Đảng của Lênin, là vị lãnh tụ mà cuối đời để lại di chúc, đã quan tâm trước hết về vấn đề xây dựng Đảng, đặc biệt lưu ý khi Đảng đã trở thành một Đảng cầm quyền.  Học theo gương đạo đức và lối sống của Bác, làm đúng theo lời Bác dặn, chúng ta hoàn toàn có thể tránh được mọi nguy cơ v.v...” (“?”) 

Thử hỏi, “bác Hồ” nào mà không thích sùng bái cá nhân? Ông  Trần Trọng Tân đương nhiên quá biết rành Trần Dân Tiên và T.L hay T.Lan là ai? Những tác giả này chính là Hồ Chí Minh và chính ông Hồ Chí Minh này đã viết tự truyện tự ca ngợi, tự cao tự đại, tự tâng bốc Hồ Chí Minh quá lố nếu không phải là sùng bái cá nhân thì còn là cái quái gì đây? Nhưng ông Tân vẫn giả đui, giả điếc để tiếp tục tiếp tay với đảng cộng sản để mị dân, lừa dân. Tuổi đã già, hơn 84 tuổi, tóc đã bạc trắng hết  (ông Tân sinh năm 1926), thế mà, ông ta vẫn chưa chừa thói nói dóc, mị dân của những tay cộng sản chuyên bốc phét! Trời lại hại kẻ gian nữa rồi!  

Bài báo trên của ông Tân được báo điện tử công an TPSG đăng chừng khoảng sáu tháng bảy ngày thì vào lúc 08 giờ 42 phút, ngày thứ tư, 12/05/2010, cũng chính tại  trang báo Công an TPSG này, Trần Trọng Dũng - phó Tổng  Biên tập báo Công an  TPSG đã cho đăng bài viết của tác giả ĐINH PHONG với tựa đề: “Kỷ niệm 120 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh: Theo con đường của Bác”. Đinh Phong chính là Nhà báo Đinh Phong, nguyên Phó Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam, Chủ tịch Hội Nhà  báo TPSG, nguyên phó giám đốc Đài truyền hình TP.SG, Ủy viên Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam TP Sài Gòn, hiện (2010) là Ủy viên BCH Hội Cựu Chiến binh TP.SG. 

Thượng tá Trần Trọng Dũng, phó Tổng Biên tập báo Công an TPSG chính là con ruột của ông Trần Trọng Tân. Người ta nói: “Con hơn cha là nhà có phúc”, nhưng ở đây đã xảy ra tình trạng: “Con chơi cha cả nhà xu nịnh”. Vì chủ quan nghĩ rằng tác giả Đinh Phong hết lời tâng bốc Hồ Chí Minh, cho nên “ngài phó tổng Biên tập Trần Trọng Dũng” không cần kiểm tra kỹ bài viết của Đinh Phong, ông cứ cho đăng. Nào  ngờ, những lời nịnh bợ lãnh tụ của Đinh Phong là con dao hai lưỡi đã công khai gián tiếp lẫn trực triếp tố cáo chế độ cộng sản HCM độc tài phản dân chủ; HCM thích sùng bái cá nhân, sùng bái lãnh tụ mù quáng; Hồ Chí Minh đã xua quân cộng sản miền Bắc vào xâm lược miền Nam; chế độ cộng sản là một chế độ bất công, ngu dốt, phản khoa học, phản dân chủ, hại dân, hại nước... 

Trước khi chuyển về Tòa soạn báo công an TPSG, Trần Trọng Dũng từng là Thiếu  tá, đội trưởng đội 3, phòng PA25 (An ninh văn hóa tư tưởng), Công an TPSG. Đội 3  (phòng  PA25, Công an TPSG) là cái đội An ninh phụ trách an ninh văn hóa, dân  chính đảng, y tế, giáo dục. Sau này, lực lượng Sĩ quan Anh ninh phụ trách khối dân chính đảng lại tách ra thành một đội riêng mới lấy tên là Đội 2, phòng PA 25 CA TPSG.  

Nói về cái Đội 3 này, đây là một cái đội khét tiếng gian ác của Công an TPSG, đã  bóp chết không biết bao nhiêu là công trình văn hóa, nghệ thuật của đất nước, đã trù dập, giết hại không biết bao nhiêu là nhà trí thức, nhân tài của TPSG nói riêng và cả nước nói chung thông qua những chính sách, những thủ đoạn rình rập, kiểm duyệt gắt gao, truy lùng, bắt bớ, giam cầm, tra tấn hiểm độc của cái đội An ninh này. Luật  sư Lê Công Định, LS. Lê Trần Luật, Kỹ sư Lê Thăng Long, KS.Trần Huỳnh Duy Thức, Bác sĩ Nguyễn Đan Quế… đã bị chính cái đội 3, PA 25 này hãm hại. Mặc dù máu nghiệp vụ an ninh vẫn còn đầy người như thế, nhưng hôm ấy, chỉ một phút lơ là, chủ quan, Trọng Dũng, con ông Tân đã để lọt lưới bài viết của Đinh Phong  

Rõ ràng chẳng thua gì Trần Trọng Tân, Đinh Phong lại cho ra lò một bài viết nặc mùi nịnh bợ, sùng bái lãnh tụ quá lố, nào là: “Từ những năm đi học trong vùng kháng chiến, tôi luôn ao ước được trông thấy Bác, dù ở cách xa bao nhiêu cũng được. Vào  giữa năm 1954, một đêm đi học về khuya, đám học sinh bị ngăn lại bên bờ sông không cho xuống phà như mọi ngày. Người chống phà quen thuộc nói nhỏ: - Có Cụ và Đại tướng qua sông. Chúng tôi không biết thực hư ra sao vì phà đã cập bến bên kia. Cả đêm ấy, đám học sinh chúng tôi không ngủ, kể chuyện về Bác Hồ mà chúng tôi đã nghe hay đã đọc và ao ước có dịp gặp Người. Sau này tôi sửng sốt biết tin:  Đúng đêm đó Bác Hồ từ Việt Bắc về thăm Thanh Hóa”, và rồi Đinh Phong lại tiếp tục khoác lác: 

“Lần đầu tiên tôi trông thấy Bác, bằng xương bằng thịt vào ngày đón Bác đi thăm các nước xã hội chủ nghĩa trở về tháng 05-1955. Mặc dù đứng rất xa, trông không rõ lắm  nhưng lúc thấy Bác bước ra lễ đài, tôi nhảy lên sung sướng reo hò. Như vậy tôi cũng đã thấy Bác Hồ như mơ ước từ tuổi thơ... Năm 1957, tôi đang công tác tại tòa soạn Báo Nhân Dân. Một hôm đồng chí Hoàng Tùng - Tổng biên tập - bảo tôi đi mời đồng chí Trưởng phòng hành chánh quản trị đến để bàn chuyện tiếp khách. Ngồi gần đó, tôi nghe lỏm được biết là Bác Hồ đến thăm. Tôi hồi hộp suốt mấy ngày liền không dám đi xa cơ quan, sợ bất thần Bác đến lại không được đón. Đồng chí Trưởng phòng hành chánh có sơ suất là khi dặn anh em dọn vệ sinh để đón khách lại nói vui: - Dọn  cho kỹ nhà bếp, nhà ở nhé. Khách hay kiểm tra những nơi này... 

Thế là anh em reo lên ‘Bác Hồ sắp đến rồi’. Cả cơ quan đồn ầm bên. Cục bảo vệ biết tin không bố trí Bác đến nữa. Chúng tôi trách lẫn nhau, trách ông Trưởng phòng hành chánh quản trị, lòng buồn mênh mang. Một buổi sáng, trong lúc chẳng còn ai  tin rằng Bác sẽ đến thì đồng chí Hoàng Tùng gọi tôi: -Chú ra làm nhiệm vụ bảo vệ cửa ra vào để đón khách. Tôi chạy vội ra cổng thì từ xa đã thấy mấy chiếc xe đang  lao tới. Ngoài chiếc xe commăngca, có hai xe nhỏ màu sẫm đi vào.  

Từ trong chiếc xe màu nâu, Bác bước ra giơ tay chào mọi người. Thế là tất cả ùa lại bao vây Bác. Các đồng chí lãnh đạo mời Bác đi thăm cơ quan. Theo thông lệ Bác đi thăm nhà ăn, nhà ở của anh em. Chúng tôi nhảy về phòng đứng chờ. Đến trước mặt  tôi Bác hỏi: - Cháu làm gì ở đây? - Thưa Bác, cháu làm nhân viên Phòng thư ký tòa soạn ạ. Rồi Bác quay sang hỏi chuyện đồng chí Trịnh Hải (phóng viên nhiếp ảnh).  Thế là tôi và đồng chí Trịnh Hải cùng đồng chí Quang Đạm - Trưởng phòng thư ký  tòa soạn có một tấm ảnh chụp chung với Bác hôm đó...”. 

Tiếp đó, Đinh Phong đã đề cao HCM quá mức, xem ông ta như ông Thánh không bằng, ví dụ tác giả Đinh Phong tưởng tượng rằng HCM có thể đoán biết được cả những gì Đinh Phong đang thầm nghĩ trong đầu: “Dạo ấy tôi cứ thắc mắc về chuyện chưa được đi làm phóng viên, cứ phải ở nhà lo việc dò bài, sửa bài. Nghe Bác nói, tôi giật mình: ‘Liệu Bác có biết chuyện mình đang thắc mắc không?’. Từ đó tôi yên lòng với công việc cơ quan giao”.  

Rồi một hành động nịnh bợ lãnh tụ quá đà đến mức phi nghĩa lại tiếp diễn, bởi vì ông Phong hết nịnh bợ bác, bây giờ đến lượt nịnh bợ cả chiếc xe của bác: “Có một việc tôi nhớ khá lâu: đang nói chuyện bỗng Bác hỏi:  - Có anh em công nhân nhà in chưa? Đồng chí Tổng biên tập thưa: - Vì Bác đến bất ngờ nên anh em đến không kịp. Thế là Bác bảo đi gọi. Đồng chí Tạ Quang Chiến, thư ký của Bác, kêu tôi lên xe đi mời công nhân nhà in. Ngồi lên xe rồi, tôi mới giật mình: xe tôi đang ngồi là xe đưa Bác đến. Lúc trở về tôi không dám vào phòng họp, cứ đứng bên xe lúng túng. Đồng chí Chiến hỏi, tôi ngập ngừng nói: - Anh cho bảo vệ kiểm tra lại xe, vì em ngồi trên đó nãy giờ, lỡ có chuyện gì... Đồng chí cười bảo tôi: - Không phải chuyện của chú, vào nghe Bác nói chuyện đi. Tôi cứ lo hoài, mãi đến hết ngày hôm đó mới yên tâm.” (“?”) 

Cũng với những lời lẽ xu nịnh lãnh tụ, ca ngợi lãnh tụ sống giản dị, tiết kiệm, tôn thờ lãnh tụ bằng cách lưu giữ và nâng niu ảnh lãnh tụ, và khi được đứng gần lãnh tụ nó giống như việc lập được một thành tích kỳ diệu buộc phải kể ra?...:  

“Bác nói chuyện xong, anh em đề nghị Bác cho chụp ảnh chung. Tôi và Đào Xuân Tích (bây giờ là Bác sĩ ở Hà Nội), mỗi đứa giữ một cánh tay Bác không cho anh em chen vào. Trong lúc mọi người lo kiếm chỗ thì tôi và Đào Xuân Tích nghiễm nhiên đứng cạnh Bác. Tụi tôi sờ áo, rờ vai Bác. Ôi! Bác gầy quá, và đúng là chiếc áo mà Bác mặc đã xuống lai như người ta đồn. Thế là lần thứ hai, tôi được đứng ngay bên Bác. Bức ảnh chụp hôm ấy trong đó có hai đứa chúng tôi mặt kề hai bên mái tóc Bác Hồ, bây giờ treo ở phòng truyền thống của Báo Nhân Dân. Năm 1958, với nhiệm vụ là phóng viên Báo Nhân Dân viết tin đối ngoại, tôi đã có thêm nhiều lần được đi theo Bác đón tiếp khách quốc tế như Tổng thống Xu-các-nô (Indonesia), Tổng thống Pra- xát (Ấn Độ)..., nhờ đó tôi có thêm một số tấm hình đứng cạnh Bác Hồ khi đang làm việc...” 

Nhưng rồi, vì quá hồ hỡi, Đinh Phong kể tuồn tuột hết ra, kể cả cái bút danh T.L  (T.Lan) “là bút hiệu của HCM. Những năm sau này, nhất là kể từ sau cái ngày 07 tháng 11 năm 2006, cái ngày mà Nông Đức Mạnh hô hào học tập cái gọi là đạo đức và tư tưởng HCM, đảng CSVN rất ngại và không ưa bất kỳ ai nói đến mấy cái bút danh Trần Dân Tiên, T.L hay T.Lan này nữa, vì nói đến những cái bút danh rất nhạy cảm ấy, khác nào chửi cha đảng cộng sản, chửi cha ông Hồ. Bởi vì, đảng luôn thừa hiểu rằng năm xưa, ông Hồ đã lỡ dại làm cái chuyện vô đạo đức ấy, đã lấy những  bút hiệu, bút danh ấy để tự viết sách tự ca ngợi mình, tự sùng bái cá nhân quá lố, đã vi phạm những tiêu chuẩn văn hóa, đạo đức cơ bản của nhân loại... Bây giờ, đảng phải ráng sức mà che đậy, được chừng nào đỡ chừng nấy, tưởng chừng như không hề có mấy cái bút danh, bút hiệu đó trên đời luôn, đừng ai nhắc đến nó nữa thì càng tốt, càng hay biết mấy? 

Thế mà, Đinh Phong, nhờ sự tiếp tay của Tòa soạn báo Công an TPSG, đã đăng: “Mấy năm sau tôi làm phóng viên theo dõi ngành thương nghiệp. Có một lần trên báo đăng bài phê bình cửa hàng ăn uống Ga Hàng Cỏ phục vụ nhân dân không tốt, ký  tên T.L. Có anh ở Sở Thương nghiệp Hà Nội không biết T.L là bút hiệu của Bác đã gọi điện phê bình gay gắt: ‘Anh T.L nào đó đã viết không đúng’. Khi biết được T.L là  Bác thì bên Sở Thương nghiệp đã viết lời xin lỗi...” “?”. 

Trời! Nếu là bác thì xin lỗi, còn nếu không là bác, là dân thường thì vùi dập? Trên đời lại có chuyện bất công, mất dân chủ đến thế sao? Thế thì, “ở Việt Nam có nhân  quyền” là có như thế nào được? Có lẽ, chỉ có những nước cộng sản lạc hậu, sống  theo rừng rú, sống theo luật rừng mới cư xử với nhau như vậy mà thôi! Tại sao đối với bất kỳ người dân thường nào thì chuyện đó, chuyện đã xảy ra ở cửa hàng ăn uống Ga Hàng Cỏ đó đều sai, nhưng nếu đối với bác, đối với tác giả T.L thì đúng  hết, đúng 100%, đúng đến mức mù quáng không cần kiểm tra, không cần dựa trên  một cơ sở thực tế, cơ sở khoa học nào?  

Mặc dù trước đó nó là sai, trước đó “anh ở Sở Thương nghiệp Hà Nội” đã tuyên bố T.L là sai còn anh ta là đúng cơ mà? Tại sao khi biết T.L là bác thì lại cho T.L là đúng  và lại nhận cái sai về mình, mặc dù nó không sai cũng nhận là sai về mình luôn?  Con người sống và làm việc dưới chế độ cộng sản tráo trở đến mức như trở bàn tay vậy sao? Sùng bái lãnh tụ đến mức mù quáng như vậy sao? Rõ ràng sùng bái lãnh tụ trong các chế độ cộng sản là để biện minh cho những việc làm sai trái của lãnh tụ, thậm chí kể cả lãnh tụ có phạm pháp. Chế độ cộng sản tạo ra sự sùng bái cá nhân là có lý do, mục đích của nó chứ chẳng phải là chuyện chơi. 

Như vậy, trong chế độ CSVN, mọi tiếng nói, mọi hành động của nhân dân, dầu có  được công nhận là đúng mấy đi nữa, nhưng một khi người lãnh đạo của đảng, hay  lãnh tụ của đảng bảo là sai thì mọi người đều cũng phải cúi đầu công nhận là sai, mà  câu chuyện của Đinh Phong là một bằng chứng điển hình. Mọi phán xét của những lãnh tụ cộng sản dù có sai trái đến đâu, người dân cũng bị bắt buộc cúi đầu tuân theo hết như vậy mà chấp nhận được sao? Tự do, dân chủ, nhân quyền, nhân phẩm  của con người bị xem thường đến mức như vậy sao? Thật là vô lý, thật là nhục nhã cho những chế độ cộng sản độc tài mù quáng rất bất công, rất phản khoa học!  

Người dân bị mất tất cả, kể cả cái liêm sĩ của con người cũng bị tước đoạt mất luôn! Cái đúng cũng không ai dám bảo vệ là đúng, thế thì nhân phẩm con người được tôn  trọng đến mức nào? Chế độ “của dân, do dân, vì dân” thể hiện ở chỗ nào đâu? Rõ ràng, dân chủ của cộng sản chỉ là mị dân, lừa bịp dân. Về vấn đề nhà nước thì đảng luôn rêu rao rằng: nhà nước pháp quyền, thượng tôn pháp luật, tôn trọng dân chủ v.v… nhưng có bao giờ nhà nước cộng sản thực sự là một nhà nước biết tôn trọng  dân chủ, pháp quyền bởi vì đảng đã thêm vô bốn chữ “xã hội chủ nghĩa” đằng sau  chữ nhà nước: “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” “?”. Nhà nước pháp quyền mà lại là “nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” thì quả thật chẳng giống ai, nó chỉ là một loại nhà nước với sự thượng tôn pháp luật giả hiệu, dân chủ giả hiệu, đạo đức giả hiệu giống như đạo đức kiểu Hồ Chí Minh mà thôi! 

Hồ Chí Minh đã dạy cho những con người cộng sản cái thói sùng bái cá nhân, tôn  thờ lãnh tụ đến mức kỳ quặc. Hễ là cái gì của lãnh tụ thì quý tất, bất kể nó là chữ ký hay là tờ giấy vụn, hay bất kỳ thứ gì, kể cả trái cây cũng không ăn để cho héo khô...  miễn là của lãnh tụ người ta xem như đội lên đầu, Đinh Phong đã viết: “Năm 1969,  tôi được tặng danh hiệu ‘Chiến sĩ bình dân học vụ’ và được tặng một tấm hình của Bác có chữ ký của Người. Tấm ảnh quý ấy tôi vẫn giữ cho tới hôm nay... Hưng Yên gửi biếu Bác mấy chùm nhãn quý. Bác chia cho Báo Nhân Dân một ít. Tụi tôi chẳng ai ăn, cất trái nhãn trong phòng để làm kỷ niệm cho tới tận lúc khô queo”. 

Không chỉ dừng lại ở đó, với sự giúp sức của báo Công an TPSG, Đinh Phong còn đứng ra làm nhân chứng lịch sử về việc cộng sản Bắc Việt gởi quân vào xâm lược miền Nam. Rõ ràng, Đinh Phong là người miền Bắc, bằng chứng là như trên ông ta  vừa nói: Thuở nhỏ khi còn là học sinh, một hôm vào giữa năm 1954, ông đã chứng kiến cảnh ùn tắc giao thông tại một bến phà ở Thanh Hóa, ở miền Bắc, do có “bác  Hồ” và cụ đại tướng qua sông. Rồi ông Phong này, qua bài báo cho biết, ông ta theo  lệnh bác và đảng lên đường vào xâm lược miền Nam... Chính Hồ Chí Minh và đảng CSVN đã chủ trương xâm lược miền Nam, không cho miền Nam phát triển nền kinh  tế thị trường theo Mỹ, gây ra nỗi thống khổ điêu tàn cho miền Nam nói riêng và cả nước nói chung. 

Sự thần thánh hóa lãnh tụ của Lê Duẫn và đảng CSVN gán cho HCM là nhằm mục đích chính trị, lợi dụng lòng yêu nước của nhân dân để thực hiện cuộc chiến tranh xâm lược miền Nam phi nghĩa và đầy sai lầm. Những thủ đoạn chính trị của HCM và  đảng CSVN đã đánh lạc hướng và lợi dụng được lòng yêu nước của nhân dân để làm chuyện sai trái. Lòng yêu nước bị đặt không đúng chỗ dẫn đến huynh đệ tương  tàn, Nam Bắc bắn giết nhau. Nếu cộng sản Bắc Việt không xâm lược miền Nam thì giờ đây, Việt Nam chúng ta đâu có bị mất Hoàng Sa, Trường  Sa vào tay Trung cộng? Miền Nam chắc chắn sẽ giàu mạnh hơn miền Bắc, sẽ giúp đỡ, viện trợ cho miền Bắc như Nam Bắc Triều Tiên hay Tây Đức và Đông Đức đã diễn ra, và cuối  cùng thống nhất đất nước không đổ máu, không tốn một viên đạn nào như nước  Đức. Tây Đức lãnh đạo Đông Đức đưa nước Đức tiến lên... 

Tiếc thay, Đinh Phong đã là “chứng nhân của lịch sử” và sự thật đã quá phũ phàng  bởi vì cộng sản Bắc Việt đã xâm lược miền Nam: “Năm 1964, tôi về miền Nam làm phóng viên chiến tranh. Ao ước cuối cùng của đoàn chúng tôi là trước khi lên đường được gặp Bác. Nhưng đến giờ chót, Bác không đến được. Đồng chí Lê Duẩn đã đem lời thăm của Bác gởi đến đoàn. Và chúng tôi lên đường, trong balô mỗi người đều có hình ảnh Bác. Chúng tôi như có thêm sức mạnh để vượt qua khó khăn, ác liệt. Mỗi lần Tết đến chúng tôi đều trào nước mắt khi nghe thơ Người.  

Tháng 02-1968, từ mặt trận Sài Gòn, chúng tôi trở về cơ quan, lòng nặng trĩu! Ta đã không thắng ngay trận đầu. Khi nói về quyết tâm của ta, một đồng chí lãnh đạo phổ biến: ‘Bác Hồ nóng lòng muốn về Nam để trực tiếp chỉ đạo trận đánh cuối cùng này. Bác đã tập đeo đá, đi bộ để chuẩn bị sức khỏe. Bộ Chính trị xin Bác yên lòng, sẽ quyết tâm chỉ đạo cách mạng giành thắng lợi’. Thế rồi cách mạng miền Nam gặp khó khăn. Đêm đêm chúng tôi ngồi bên ngọn đèn nhỏ, trào nước mắt, biết rằng Bác rất  buồn vì cách mạng miền Nam không giành thắng lợi sớm như đã hứa.  

Năm 1969, tôi đang nằm bệnh viện với những cơn sốt rét dữ dội thì được tin Bác mất. Từ bệnh viện tôi đi thẳng xuống các đơn vị bộ đội để viết bài. Tại Trường huấn luyện H12 - tiền thân Trường lục quân 2 bây giờ - anh em đã lập bàn thờ Bác khói nhang nghi ngút. Cả đơn vị chưa có ai được gặp Bác, nên anh em yêu cầu tôi kể về Bác. Tôi vừa khóc vừa kể về những điều tôi biết, những kỷ niệm của tôi về Bác. Một đơn vị ở gần đó đến mời tôi nói chuyện. Đó là một đơn vị đặc biệt gồm những đồng chí bộ đội bị lao, bị cùi đang điều trị (“?”)”. 

Ngay chỗ này, xin hỏi ông Phong và đảng CSVN mấy câu: Tại sao có cả một đơn vị, tức là có nhiều người bộ đội bị bệnh lao, bị bệnh cùi đến thế? Chẳng lẽ vì bất chấp thủ đoạn, bằng bất cứ giá nào cũng xâm lược cho bằng được miền Nam, cho nên,  CSVN, đảng và bác đã ra lệnh bắt lính mà không hề có hội đồng y khoa khám sức  khỏe, khám tuyển “nghĩa vụ quân sự” trước khi tuyển mộ lính? Hay là bác và đảng đã ra lệnh bắt lính tất cả, bắt hết, bắt kể cả những người bị lao phổi và bệnh cùi để có quân mà xâm lược miền Nam? Ấy là chưa kể đến chuyện gieo rắc vi trùng, lây bệnh lao và cùi tràn lan cho đồng bào miền Nam. 

Câu chuyện đặc biệt được Đinh Phong kể tiếp: “Chính những người bệnh đặc biệt này, những người đã khóc vì bệnh tật của mình đã khóc lớn hơn khi hay tin Bác mất. Tôi đã đến với những đồng chí ấy bình thản như đến với người khỏe mạnh. Và chiều hôm đó, tôi đã kể cho những đồng chí ấy nghe những chuyện về Bác Hồ. Buổi tối, tôi đến gặp đồng chí Nguyễn Thị Định - Phó tư lệnh quân giải phóng miền Nam - để phỏng vấn. Chị Ba Định là người đã gặp Bác năm 1946 trong lần ra xin súng cho miền Nam và sau này trong dịp đồng chí Nguyễn Chí Thanh ra Bắc, chị đã gởi tặng Bác tấm khăn rằn. Chị khóc vật vã, không thể nào trả lời tôi. Chị chỉ hỏi đi hỏi lại  một câu: 

- Tại sao năm 1946 ở văn phòng của Bác không có ai chụp hình? Nếu có, tôi đã có một tấm hình với Bác. Và tôi đã ghi lại những câu rời rạc của chị Ba để viết bài đăng báo.” 

Đinh Phong cho biết: Ông từ Bắc vào Nam, tháp tùng cùng đi trong đoàn quân vào xâm lược miền Nam. Rồi sau khi quân cộng sản chiếm được miền Nam, ông lại giả dạng làm đại biểu theo đoàn miền Nam ra Bắc dự lễ... Rõ ràng, âm mưu thủ đoạn  thâm độc gây chiến tranh, gây tan tốc đau thương cho cả một dân tộc do HCM và đảng CSVN đã bị bại lộ, bởi chính cán bộ cộng sản Đinh Phong nói ra: “...Ba tháng sau ngày miền Nam giải phóng, tôi được đi theo đoàn đại biểu Mặt trận, Chính phủ  lâm thời miền Nam ra Bắc dự khánh thành Lăng Bác và dự Quốc khánh. Sau lễ ở Hội trường Ba Đình, các đại biểu vào viếng Lăng Bác. Tôi đã trốn Ban tổ chức vào viếng đến ba lần. Một lần đi với đoàn Mặt trận và Chính phủ miền Nam. Một lần đi với đoàn đại biểu nhân dân miền Nam và một lần đi với các nhà báo. Tôi đã khóc cả ba lần vì đâu có ngờ ngày trở lại miền Bắc, trở về Hà Nội thì Bác đã không còn”. 

Thế rồi, vấn đề “cha nào con nấy” đã xảy ra. Chính vì noi gương HCM, anh tác giả Đinh Phong này chẳng mấy chốc cũng  đã học được phong cách tự tâng bốc cá nhân, sùng bái cá nhân của ông Hồ. Mặc dù mượn miệng Nhà văn Trần Đình Vân,  nhưng chính Đinh Phong đã tự tâng bốc bản thân mình:  

Hôm vào thăm nhà Bác, tôi bàng hoàng sung sướng vì một vinh dự quá to lớn đối với đời mình: Trên bàn phòng ngoài của Bác, là mấy cuốn truyện Anh hùng quân giải phóng miền Nam Bác đang đọc dở trước lúc đi xa - trong đó có cuốn ‘Rừng núi diệt  thù’ (Anh hùng Vai ) của tôi viết năm 1965 ở miền Nam. Tôi định cầm cuốn sách lên xem thì đồng chí Trần Viết Hoàn - Phó giám đốc viện Bảo tàng nói: - Những cuốn  sách này có dấu tay của Bác được giữ làm kỷ niệm. Chúng tôi sẽ đưa những cuốn khác vào đây thay thế. Sang phòng thứ hai thì một điều sung sướng nữa đến với tôi:  Trước khi mất, Bác đang đọc dở cuốn tạp chí của sinh viên bằng tiếng Anh viết về cuộc tổng tấn công và nổi dậy ở miền Nam. Trong cuốn đó có bài “Chú bé Sài Gòn”  tôi viết đầu tháng 02-1968 và đăng trên Báo Nhân Dân hai mươi ngày sau đêm tổng tấn công Mậu Thân. Nhà văn Trần Đình Vân đi cùng tôi, đã nói: 

- Cuộc đời làm báo của cậu, chỉ cần có cuốn sách “Anh hùng Vai” và bài báo “Chú bé Sài Gòn” trên bàn Bác Hồ là toại nguyện lắm rồi.  Mong gì hơn nữa...   Tôi vẫn còn nhiều mong ước... Mong được mãi mãi làm người viết báo đi theo con  đường của Bác - ĐINH PHONG -” 

Đinh Phong là nhà báo, là phóng viên chuyên nghiệp của đảng. Ông đã được đào tạo, trang bị đầy đủ, dư dật kiến thức và kinh nghiệm làm phóng viên cộng sản. Ông đã từng nói: chúng ta là nhà báo cách mạng, làm gì cũng phải biết tính toán đến  chuyện làm sao cho có lợi cho đảng, cho bác. Cụ thể trong vụ Trung Quốc xâm lược Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam thì ông lý giải lòng vòng, rồi cuối cùng cho là  “vấn đề nhạy cảm”. Còn trong trận Mậu Thân 1968, ông trực tiếp nhìn thấy quân ta  chết la liệt, “hy sinh” nhiều quá tại chiến trường miền Nam, ông “không dám đưa tin”,  đưa tin thật thì sợ “quân ta” mất tinh thần, bất lợi cho đảng ta, nói thẳng ra là đưa tin sai sự thật để có lợi cho đảng và chính quyền cộng sản Bắc Việt khi đó (Theo bài:  Nhà báo Đinh Phong Không nên cấm thông tin "nhạy cảm" của tác giả Bùi Dũng đăng ngày: 05/11/2009  trên báo điện tử Tuần Việt Nam - Tuanvietnam.net). 

Xét ra, được đảng tôi luyện, ông đã khôn ra như thế. Thế mà hôm nay, trên báo Công an TPSG, ông lại sùng bái lãnh tụ đến mức mất hết trí khôn chăng, nên đã viết toàn những chuyện rất bất lợi cho uy tín chính trị của đảng mà ông cứ viết ào ào,  không hề hay biết gì cả, giống như nói ở chỗ không người? Nhà báo Đinh Phong có  “lập trường làm báo khá vững vàng” cho nên Tòa soạn báo Công an TPSG đã đăng bài của ông mà không hề kiểm duyệt bởi tin rằng, nghĩ rằng ông đã “tự kiểm duyệt” tốt rồi. Ông Phong đã từng nói: “Chúng ta không có phóng viên tư nhân, không có phóng viên nước ngoài. Chúng ta đều là phóng viên báo chí cách mạng - cộng sản cả. Bất cứ một phóng viên nào trước một thông tin cũng cần hiểu rõ là việc này nên thông tin chưa và thông tin vào lúc nào. Phóng viên phải cân nhắc có nên viết hay không nên viết và việc đó có lợi cho ai....”.  

Ông ta đã có những câu nói khá tự tin, giống như một con người từng trải, biết “suy nghĩ chính chắn” không bằng. Thế nhưng rồi, khi nghiên cứu kỹ về ông, mọi người mới biết, té ra, ông Phong cũng là một con người “ba phải” chẳng có lập trường (?). Dù đã trải qua hàng chục năm làm báo, nhiều năm là Chủ tịch Hội Nhà báo TPSG, nhưng khi nói về HCM thì ông sùng bái lãnh tụ đến mù quáng, khi có lệnh lên đường xâm lược miền Nam theo lệnh của bác và đảng thì ông đã tuân lệnh không cần đắn đo suy nghĩ, không cần biết đúng hay sai, khi nói đến kê biên tài sản đánh tư sản sau 1975 ở miền Nam thì ông cũng hăng hái tham gia, rồi sau đó ông nói rằng có  cảm giác  “phân vân” bởi vì ông thấy mọi người phân vân (“?”). 

Ngày 15/04/2006, bài báo “Kê Biên Tài Sản” đăng trên báo Tuổi Trẻ của tác giả  Nguyễn Văn Tiến Hùng cho biết: Sau tháng 04-1975, nhà báo Đinh Phong (phó giám  đốc Đài truyền hình TP.SG) cùng nhóm phóng viên truyền hình túc trực ngày đêm theo những tổ công tác làm công việc kê biên tài sản của những nhà tư sản Sài Gòn  ở chợ Bến Thành, chợ Tạ Thu Thâu...  

Bây giờ, những câu chuyện cũ trở về với ông như một đoạn phim quay chậm, buồn bã, mặc dù lúc đó ông rất là nhiệt tình, hăng hái lên đường làm “nhiệm vụ”. Đó là một thời điểm khó quên nhưng ai cũng muốn quên. Ông Đinh Phong hồi tưởng về những ngày ông và nhiều đồng nghiệp được ban tuyên huấn giao những nhiệm vụ đặc biệt nhưng bí mật đến phút cuối cùng. Ngay cả, cái tên của những chiến dịch này cũng được mã hóa thành X1, X2... Những tổ công tác mật được gấp rút thành lập, bắt đầu rà soát, lên danh sách những hộ gia đình kinh doanh, những gia đình giàu có phải  “cải tạo tư sản”. Nguyên tắc hàng đầu của chiến dịch này là bí mật. Những nhà tư sản chỉ bàng hoàng nhận biết những gì xảy ra khi cửa mở và tổ công tác đặc biệt bất ngờ có mặt, đọc quyết định kê biên tài sản.  

Từng làm phóng viên tuyên truyền về cải tạo công thương nghiệp ở miền Bắc những năm 1960 khi còn công tác ở báo Nhân Dân, sau năm 1975, ông Đinh Phong lại là một trong những chứng nhân của một giai đoạn lịch sử mới. Trong ký ức của mình sau gần ba thập niên kể từ ngày ấy, nhà báo Đinh Phong trầm ngâm kể: “Chúng tôi vác máy đi tuyên truyền, tuy lúc đầu hăng hái, nhưng sau đó, càng ngày lòng càng trĩu nặng, ngơ ngác nhìn nhau hỏi tại sao lại như vậy?  

Có lần, chúng tôi mang máy ra chợ Tạ Thu Thâu quay cảnh niêm phong tài sản một hộ kinh doanh hàng điện tử. Chưa kịp ghi hình ảnh nào, ông chủ hộ kinh doanh bước ra gạt máy, rồi chỉ vô mặt tôi bảo: ‘Chú về mà hỏi Huỳnh Văn Tiểng (giám đốc đài  truyền hình lúc bấy giờ) xem ngày xưa tôi đã gửi linh kiện vô chiến khu lắp ráp đài phát thanh như thế nào, hỏi coi thời chống Mỹ tôi đã giúp đỡ các ông những gì? Bây giờ tôi buôn bán, có tội tình gì mà bay bắt tôi về làm ruộng hả?’. Thời gian sau tôi có  trở lại tìm ông chủ ấy nhưng không gặp, chỗ cũ đã trở thành một cửa hàng quốc  doanh.” 

Ông Đinh Phong kể tiếp: “Một tối, tôi tiếp hai vợ chồng anh bạn trong cơ quan. Họ đến bảo rằng cả gia đình là cơ sở điệp báo của ta trước năm 1975, họ dùng chính cửa hàng vải sợi của mình làm bình phong cho cơ sở liên lạc của cách mạng. Những câu chuyện ấy chưa kịp được xác nhận sau năm 1975 thì gia đình trở thành điểm ‘cải  tạo’ với cửa hàng vải sợi. Tài sản bị niêm phong, mọi người trong nhà chuẩn bị nhận quyết định đi ‘xây dựng vùng kinh tế mới’...”, thế mới biết: “Cộng sản ăn cháo đá bát” chẳng sai! 

Chương trình thời sự khoảng 30 phút của Đài truyền hình TP.SG ngày ấy tập trung nhiều thời lượng để tuyên truyền cho công cuộc cải tạo công thương nghiệp trên địa bàn thành phố. Đằng sau những hình ảnh ấy, những giọt nước mắt (các nhà báo là  những người đã chứng kiến), những cái nhìn ngạc nhiên, thảng thốt của đồng bào mình. Lần đầu tiên trong đời nhà báo, Đinh Phong mới biết thế nào là mảnh vàng lá.  Ông ngơ ngác với hình ảnh những rổ kim cương, vàng... được mang ra niêm phong, cất lại. Số tài sản dư ra được xử lý bằng cách tịch thu, trưng thu, trưng mua... Tài  sản thế nào gọi là dư “?” Ông Đinh Phong kể rằng có lần được hỏi chuyện với ông Mười Cúc (Nguyễn Văn Linh) lúc bấy giờ là ủy viên Bộ Chính trị phụ trách phía Nam về công cuộc cải tạo công thương nghiệp, ông thấy ông Mười Cúc rất ưu tư. Ông  Phong cũng “phân vân và ưu tư theo”(“?”). Trong hồi ký của mình, ông Đinh Phong kể: Thời mới giải phóng, trong một lần gặp gỡ các nhà tư sản, ông Mười Cúc đã nói:  

- “Các bạn đã đi với chúng tôi trong cách mạng dân tộc dân chủ nên gọi là tư sản dân tộc, nay các bạn đi với chúng tôi lên thời kỳ quá độ lên XHCN, không biết gọi các bạn là gì cho phù hợp?”.  

Chẳng biết trong chính trị Mác-Lênin có danh từ nào gọi là “Tư sản quá độ” chăng “?”! Quả là điên đầu, điên cổ cho lực lượng học sinh, sinh viên sống trong chế độ cộng sản ngu dốt, họ bị bắt buộc phải học những từ, ngữ chính trị cộng sản nhảm nhí do chế độ cộng sản mị dân, lừa dân, tự bịa đặt ra đủ thứ những thứ ngôn ngữ vô  nghĩa để nhồi sọ mọi người! Nào là “Tư sản dân tộc” nào là “Xã hội xã hội chủ nghĩa”  nào là “Quá độ chủ nghĩa xã hội”, nào là “Chủ nghĩa cộng sản khoa học” v.v…, chủ  nghĩa nào mà say xỉn đến mức gọi là “quá độ”, có loại cộng sản nào mà là khoa học?  

Cộng sản Liên Xô chỉ biết gian dối và tuyên truyền là khoa học chăng? Cộng sản Trung Quốc độc tài, phản dân chủ là khoa học chăng? Cộng sản Bắc Triều Tiên  khủng bố và cha truyền con nối là khoa học sao? Cộng sản Cu-ba gia đình trị, ngăn sông cấm chợ, bế quan tỏa cảng là khoa khọc à? Cộng sản Pôn-pốt Campuchia diệt chủng, giết người hàng loạt, chống nhân loại, tiêu diệt trí thức, hủy diệt văn hóa, bần cùng hóa xã hội là cộng sản khoa học đó sao?... Chế độ cộng sản độc tài, độc đảng, phản động mà không hề biết xấu hổ lại còn dám tự cho mình là khoa học? Chế độ  cộng sản Việt Nam này đúng là một chế độ “cộng sản ô nhục” thì có, chứ làm gì có “cộng sản khoa học”! 

Sau đó, khi nhắc đến chuyện ngăn sông cấm chợ, ông Mười Cúc hay trầm tư, thậm  chí có lúc muộn phiền: “Sắp có quyết định lập trạm mới nữa rồi...”. Những nhà tư sản lớn của Sài Gòn thời đó phần lớn đã ra nước ngoài, thành phố chỉ còn các doanh  nghiệp loại vừa như chủ nhà in, chủ các xưởng thủ công, các cửa hàng… Các ông chủ này bị buộc phải kê khai tài sản, vốn liếng rồi nhà nước trưng thu, tịch thu, trưng mua…  giống như ăn cướp và buộc họ không được kinh doanh, phải chuyển qua  sản xuất nông nghiệp, nhiều người phải rời khỏi thành phố.  

Nhiều cửa hàng nhỏ, vốn liếng chẳng có bao nhiêu, một số tiệm ăn, tiệm cà phê...  cũng bị niêm phong, định giá và chuyển qua sản xuất (“?”). Trong số này có các “anh chị vốn là cán bộ kháng chiến” bị mất liên lạc, phải làm ăn, buôn bán... để đợi dịp liên lạc với “cách mạng”, đó là những người “yêu nước”, quyết không rời bỏ quê hương, ở lại và mong muốn đóng góp xây dựng đất nước. Ông Đinh Phong nhớ lại: “Lúc đó  tôi biết chúng ta đã làm một điều gì đó chưa thật sự hợp với lòng dân”. Bởi do ông Mười Cúc (Nguyễn Văn Linh) ưu tư về vấn đề này, nên ông Phong cũng ưu tư theo chăng? Hay là do ông Phong biết thương dân thật sự? Hay ông là một người ba  phải, không có lập trường? 

Rồi ông Đinh Phong kể tiếp: “Tôi lại gặp ông Mười Cúc và tiếp tục những câu chuyện về cải tạo tư sản: Sao người ta kêu nhiều quá anh Mười ơi! Ông Mười Cúc đăm chiêu nhiều lắm. Tôi nghĩ đó là một thời điểm quá khó khăn giữa cái cũ, cái mới và  những hướng đi cho đất nước…”. Chẳng biết ông Đinh Phong khi ấy có sự thương xót cho đồng bào miền Nam thật lòng không? Bởi vì, ông Phong từng làm phóng viên tuyên truyền về cải tạo công thương nghiệp ở miền Bắc những năm 1960 khi  còn công tác ở báo Nhân Dân, không ai nghe ông nói là có lời xót thương nào cho đồng bào miền Bắc?  

Khi ấy, ông chỉ biết mù quáng hết lòng tin theo bác, tin theo đảng để tiếp tay hãm hại đồng bào mình trong cải tạo công thương nghiệp miền Bắc mà thôi! Ngay cả đồng bào miền Bắc, đồng hương với ông, nơi nuôi ông lớn lên và giúp ông học hành, mà ông còn chưa biết thương yêu thì làm sao nói rằng ông biết thương đồng bào miền Nam cho được? Cho nên ông đã năng nổ tham gia “cải tạo công thương nghiệp” từ miền Bắc cho đến miền Nam theo lệnh của đảng mà không hề biết phản đối những chủ trương sai trái  hại dân, hại nước đó đã đẩy đất nước đi thụt lùi mấy mươi năm. 

Cho đến ngày giải phóng 1975, Sài Gòn đã có một cơ sở vật chất, kinh tế kỹ thuật lớn nhất miền Nam, nơi tập trung hơn 80% năng lực sản xuất công nghiệp cả miền Nam. Nơi đây tập  trung hơn 38.000 (38  ngàn) cơ sở công nghiệp, tiểu thủ công  nghiệp lớn nhỏ, trong đó có 766 công ty và 8.548 cơ sở công nghiệp tư nhân. Để công hữu hóa tư liệu sản xuất và đưa “công nhân lao động làm chủ nhà máy, xí nghiệp”, sau năm 1975, chính quyền CSVN đã tiến hành vận động hai đợt cải tạo  công thương nghiệp. Kết quả là đã quốc hữu hóa tài sản của 171 tư sản mại bản, 59 tư sản thương nghiệp cỡ lớn, khôi phục, tạo dựng 400 xí nghiệp quốc doanh, 14.000  cơ sở tiểu thủ công nghiệp, thu hút 27 vạn công nhân và lao động, vận động hồi hương lập nghiệp và từng bước phân bố lại lao động… (Trích thông tin lịch sử của website TP.SG).  

Cuối cùng, bằng những chính sách tùy tiện, làm theo luật rừng, đảng và nhà nước CSVN đã biến thành phố Sài Gòn nói riêng và cả nước nói chung trở thành “địa ngục” trần gian! Chủ trương xâm lược miền Nam, cũng như đem chủ thuyết cộng  sản vào Việt Nam nhằm đưa đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội của Hồ Chí Minh chẳng khác nào ông ta đã cố tình thực hiện chính sách bần cùng hóa dân tộc Việt Nam. Để quy tụ được lực lượng nhằm thực hiện những mưu đồ đen tối đó, khi còn sống, HCM đã ra sức tự tâng bốc mình, gây sùng bái cá nhân vô tội vạ. Khi HCM chết đi, nhằm thực hiện mưu đồ chính trị tiếp tục, đảng CSVN ngày nay càng ra sức thần thánh hóa lãnh tụ hơn nữa. Ngoài việc tâng bốc “đạo đức HCM”, đảng CSVN còn cho rằng “tư tưởng HCM rất là vĩ đại”(“?”). Có đúng thật như vậy không? 

───    ₪  ₪  ₪───

(Còn tiếp)

Đằng Cứu Quốc
(Trích từ sách pdf Luật rừng trong rừng luật (hiệu đính (4.03 MB) )