Hồ Chí Minh đảng Cộng sản đã cải cách ruộng đất tàn ác, đàn áp tôn giáo, tiêu diệt trí thức… (Phần 5) (LRTRL) (Đặng Cứu Quốc)

Lượt xem: 287

“…bác và đảng đã sử dụng trường học làm nơi để gây ra sự băng hoại đạo đức con người! Một con người được đào tạo dưới mái trường cộng sản được họ đánh giá có đạo đức tốt là con người đó chỉ biết sùng bái bác, sùng bái đảng cộng sản là đủ, ngoài ra không cần đạo đức gì nữa hết...”

caicach_ruongdat01

Đối với miền Nam thì tư tưởng và đạo đức của HCM đã làm cho điêu tàn như vậy, còn đối với miền Bắc, HCM đã ra lệnh cho đảng, chủ trương làm một cuộc cách mạng cải cách ruộng đất (CCRĐ) mất nhân tính, giết hại hơn 20 ngàn đảng viên và  hơn 200 ngàn đồng bào vô tội cùng với hơn 100 ngàn người bị hành hạ, tù đày….  Ngoài ra, HCM và đảng CSVN còn có nhiều tội ác khác nữa ngoài vụ cải cách ruộng  đất đó, như trong những vụ Nhân văn Giai phẩm, triệt hại tôn giáo v.v... Phát súng đầu tiên của cải cách ruộng đất là đã bắn vào đầu một người phụ nữ yêu nước, đã  từng giúp đỡ cho những người cộng sản! Phát súng đó nó đã nói lên nhiều điều về tâm địa độc ác của ông Hồ và đảng, nó báo hiệu trước một tai họa khôn lường cho toàn dân ở miền Bắc lúc bấy giờ.  

Mở đầu cuộc cải cách ruộng đất, HCM đã đem ra đấu tố và xử bắn một người phụ nữ chân yếu tay mềm, đó là bà má Năm, tên là Nguyễn Thị Năm. Trong thời gian đảng CSVN còn hoạt động bí mật, bà là người đã che giấu và nuôi dưỡng các cán bộ  lãnh đạo cộng sản cao cấp như Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Phạm Văn Đồng, Lê Đức Thọ, Lê Thanh Nghị, Lê Giản... Trong “Tuần lễ vàng” bà đã đóng góp cho chính quyền Việt Minh 100 lạng vàng. Hai con trai bà, ông Nguyễn Công và  Nguyễn Hanh đều theo Việt Minh từ trước 1945.  

Khi CCRĐ phát động, ông Nguyễn Công đang làm chín uỷ  trung đoàn và ông Nguyễn Hanh là đại đội phó bộ đội thông tin và cả hai đều là đảng viên đảng CSVN. Trước khi má Năm bị xử bắn, ông Hoàng Quốc Việt đã chạy về, báo cáo việc hệ trọng này với ông Hồ Chí Minh rằng: “Một số nông dân chất phác ngây thơ, kể rằng bà má Năm rất tốt, nhân từ, hay đi chùa, làm việc thiện, có nhiều cán bộ chiến sĩ là con nuôi của bà, bà có công với kháng chiến, nên xếp là địa chủ kháng chiến, hãy  cứu giúp bà ấy...”. Ông Hồ chăm chú nghe rồi hứa giúp, hứa sẽ ra lệnh cho Trường Chinh can thiệp. Thế nhưng, ông đã quên lời hứa (“?”) và má Năm đã bị bắn chết một cách oan nghiệt. 

Trong điều 12, Hiến pháp 1946, còn được gọi là “Hiến pháp cụ Hồ” vì ông là trưởng ban soạn thảo Hiến pháp, đã xác định: “Quyền tư hữu tài sản của công dân Việt Nam được bảo đảm”. Cải cách ruộng đất (CCRĐ) chẳng những vi hiến, nó còn là  một tội ác với nhân dân. Hồ Chí Minh đã lợi dụng sự khao khát và ước vọng của người dân để xây dựng quyền lực cho ông và cho đảng CSVN một cách mất hết nhân tính. Hiến pháp 1946, cũng  được xem là Hiến pháp “Của  Bác” (CB), là một “Hiến pháp cộng hoà và dân chủ”. 

Theo Hiến pháp này thì mọi công dân đều bình đẳng. Trong khi Hiến pháp này vẫn còn đó thì ông Hồ lại muốn xây dựng một thể chế cộng sản lấy đấu tranh giai cấp làm nền tảng, qua việc ông chủ trương đấu tranh tiêu diệt giai cấp địa chủ trong  CCRĐ, rõ ràng, ông đã dùng hiến pháp để mị dân, lừa dân một cách vô đạo đức. Ông đã cho xử bắn má Năm, là người mẹ của những cán bộ, chiến sĩ cộng sản đã đi theo ông Hồ, là một trong những người từng nuôi dưỡng, bảo vệ các cán bộ thuộc  “giai cấp vô sản” của ông Hồ “?”! Chủ trương, đường lối đấu tranh giai cấp của HCM, của đảng CSVN ở đây, xem ra không ổn tí nào? 

Sau khi ông Hồ lãnh đạo đảng CSVN đấu tranh giai cấp, xóa bỏ giai cấp, giai cấp “tư  sản, địa chủ” bị triệt hạ. Con cháu của những người tư sản, địa chủ bị bắn giết này trở thành những đứa trẻ mồ côi, lang thang ngoài đường, ăn mày rách rưới, đói kém và đương nhiên cũng sẽ biến thành giai cấp “vô sản” thậm chí có thể gọi là “tệ hơn vô sản”. Mặc dù cũng là giai cấp vô sản nhưng những người này sẽ rất là oán hận chế độ cộng sản. Như vậy, việc xóa bỏ giai cấp, tạo thành một giai cấp vô sản “duy  nhất, đồng nhất” kể cả về mặt tư tưởng, theo tưởng tượng và tuyên truyền của bác và đảng, do đảng CSVN và ông Hồ gây ra liệu có hiệu quả, có thành công, có thật sự đồng nhất hay không? Hay chỉ là thành công giả tạo mang hình thức bên ngoài, còn thật sự bên trong lại là một giai cấp vô sản mang đầy những tư tưởng đối kháng nội bộ, oán hận, căm thù nhau trường kiếp?  

Bên cạnh đó, những người mang danh của giai cấp vô sản, đại diện cho giai cấp  công nhân, nông dân, nhân dân lao động như Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh, thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, thường trực Ban Bí thư Trương Tấn Sang, trưởng Ban Văn hóa, Tư tưởng Tô Huy Rứa... sau một thời gian tham nhũng đã có trong tay hàng tỷ Mỹ kim (USD). Bản thân, gia đình, dòng họ của họ sống rất phè phởn xa hoa trụy lạc thì những ông này, những người này nên gọi là “tư sản” hay “vô sản” đây “?”  Giai cấp nào đây?  

Trong khi miệng lưỡi họ luôn ra rả rêu rao là đại diện cho giai cấp vô sản, “là đày tớ trung thành của nhân dân lao động”, nhưng liệu giờ đây, những ông này có đúng là giai cấp vô sản nữa không? Có đúng là đày tớ trung thành không? Như vậy, ranh giới giữa vô sản và tư sản liệu có thể phân biệt được rạch ròi, rõ ràng không, mang tính chất vĩnh viễn không? Hay chỉ là mơ hồ, không có ranh giới rõ ràng và chỉ là nhất thời, mang tính chất tạm thời mà thôi? Và qua đó, việc phân định giai cấp, đấu tranh giai cấp, thực hiện chuyên chính vô sản theo học thuyết Mác Lê-nin liệu có còn đúng nữa không? Có hợp lý mãi mãi nữa không? Có là kim chỉ nam, là nền tảng muôn thuở cho đảng CSVN đưa đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội được nữa hay  không? Hay đó chỉ là những thứ lý thuyết tuyên truyền mơ hồ do cộng sản bịa ra để  lừa dối nhân dân, để rồi lợi dụng sự kém hiểu biết và lòng tốt của người dân mà tha hồ trục lợi và kiếm chác “?”  

Rõ ràng, học thuyết Mác-Lênin phạm rất nhiều sai lầm, chưa kể đến nhiều sai lầm khác như quốc hữu hóa tài sản, tư liệu sản xuất, đất đai, ruộng vườn của nhân dân,  triệt tiêu nền kinh tế thị trường, thực hiện chế độ quan liêu bao cấp, bế quan tỏa  cảng, thực hiện chế độ độc tài độc đảng, mất dân chủ, mất tự do, vi phạm nhân quyền nghiêm trọng, thực hiện những chính sách phản khoa học, bần cùng hóa... Ấy  thế mà, hết HCM rồi đảng, hết đảng rồi nhà nước CSVN đến tận hôm nay, họ vẫn  tiếp tục mị dân, lừa dân dưới chiêu bài “định hướng XHCN” lấy học thuyết Mác-Lê làm nền tảng? Cụ thể nhất, học thuyết Mác-Lênin đã được HCM tận dụng trong việc tiêu diệt tôn giáo, đấu tranh giai cấp, thực hiện cải cách ruộng đất ở miền Bắc là một  việc làm hết sức tàn ác và sai lầm.  

Phát súng phản động đầu tiên mà cộng sản Việt Nam áp dụng học thuyết Mác-Lênin là đàn áp tôn giáo trước khi cải cách ruộng đất. Việc làm này là để thể hiện “ý thức hệ Marxism” với lời dạy của Marx: “Tôn giáo là thuốc phiện của quần chúng” nên  phải giúp quần chúng “cai nghiện” và “phát súng này” cũng mở đường nhằm thực hiện một chế độ cộng sản “vô thần” mà cũng chính học thuyết này rao giảng. Cuộc  đàn áp mang tính toàn diện từ Bắc chí Nam, ngay từ 1945 đến 1949 xảy ra hàng loạt  các vụ giết tín đồ các giáo phái một cách bừa bãi, đặc biệt là đạo Cao Đài (ở Tây Ninh, Gia Định, Thủ Dầu Một, Biên Hoà, Bà Rịa, Long An) và đạo Hoà Hảo (ở Long  Xuyên, Châu Đốc, Rạch Giá, Bạc Liêu, Cần Thơ). Có vụ giết tập thể hàng trăm tín đồ Cao Đài tại xã Phú Mỹ Hưng – Củ Chi. Hàng ngàn tín đồ Phật giáo Hòa Hảo ở An Giang v.v. 

Ngày 25 tháng 12/2010, biên tập viên Mặc Lâm, đài RFA đã đưa tin về “Trại giam  cổng trời”, qua đó, ai cũng thấy tội ác của HCM và đảng CSVN đối với tôn giáo còn tàn bạo, dữ dội hơn như người ta tưởng. Không chỉ với thời gian từ 1945 đến 1949  mà cả những thời gian sau này, CSVN vẫn tàn ác đối với tôn giáo: Trại giam Cổng Trời có lẽ là một địa danh ít người Việt biết đến trước khi cuộc chiến Việt Nam kết thúc. Đây là nơi giam giữ các trọng tội hình sự và các tù nhân tôn giáo trong đợt xóa  sổ năm 1959 và sau đó mở tung cánh cửa một lần nữa vào năm 1976 để đón những  tù nhân cải tạo từ miền Nam gửi ra.  

Trại giam Cổng Trời dưới nhiều góc nhìn có thể nói không hề thua kém bất cứ trại giam nào trong tác phẩm “Quần Đảo Ngục Tù” của văn hào người Nga Alexandre  Soljenitsyne. Những tài liệu, nhân chứng cho biết trại Cổng Trời đã tra tấn, ngược  đãi tù nhân như thế nào qua việc  giở lại hồ sơ những cái chết oan khuất, những con người bị chà đạp đau thương. Vào dịp Giáng sinh năm 1959, chỉ một ngày trước lễ Giáng Sinh năm ấy, tiếng chuông Nhà Thờ Lớn Hà Nội giục giã vang lên. Không phải  báo hiệu sự ra đời của Chúa Giê Su, mà tiếng chuông kêu cứu với giáo dân vì Nhà  Thờ Lớn đang bị một nhóm người đến phá rối. Cha xứ Nhà Thờ Lớn lúc bấy giờ là linh mục Trịnh Văn Căn, cũng chính là người ra lệnh giật chuông kêu giáo dân đến  cứu nhà thờ khi một nhóm người tự xưng là quần chúng tự phát kéo đến giành phần  trang trí nhà thờ trong dịp lễ Giáng Sinh năm 1959.

Câu chuyện bắt đầu từ trước đó một năm, chính quyền Hà Nội muốn chứng tỏ “Việt  Nam khuyến khích tự do tôn giáo” nên trong dịp Giáng sinh năm 1958 họ đã cho một đám đông đến Nhà Thờ Lớn tự ý giăng đèn kết hoa trang trí bên ngoài nhà thờ và sau đó đòi nhà thờ phải trả lại tiền công lẫn tiền mua vật liệu với tổng số tiền không ai tin nổi. Giáng Sinh năm 1959, nhóm người này lại tiếp tục đến đòi trang trí nhà thờ nhưng gặp sự chống cự quyết liệt của linh mục chánh xứ Trịnh Văn Căn và linh mục Nguyễn Văn Vinh, còn được gọi là cha chính Vinh. Khi nghe tiếng chuông báo động, giáo dân kéo tới và ẩu đả xảy ra.  

Câu chuyện vỡ lở ra sau đó cho thấy, nhóm người đến phá nhà thờ do chủ trương quá khích của một nhóm người và kết quả  là linh mục Trịnh Văn Căn, linh mục Nguyễn Văn Vinh cùng một số giáo dân bị quy tội “phá rối trật tự công cộng”. Linh mục Căn chịu 12 tháng tù treo, linh mục Nguyễn Văn Vinh chịu 18 tháng tù giam vì tội “Vô cớ tập hợp quần chúng trái phép, phá rối trị an, cố tình vu khống, xuyên tạc  chế độ, gây chia rẽ trong nhân dân”. Cha Vinh chỉ bị án 18 tháng tù giam nhưng lại bị chính quyền CSVN đem giam ở trại giam Cổng Trời và vĩnh viễn bị tước đoạt việc trở về với cuộc sống tự do vì Cha phải chết trong nhà tù cộng sản. 

Sau phiên tòa, linh mục Nguyễn Văn Vinh bị đưa đi giam ở Hỏa Lò, sau đó bị chuyển đi nhiều trại giam khác như Chợ Ngọc, Yên Bái, cuối cùng là trại giam “Cổng Trời” nơi dành riêng cho các tù nhân tử tội. Ông Phùng Văn Tại, một Giáo sư dạy môn  giáo sử văn chương trong chủng viện, người biết rõ vụ việc này kể lại trên đài RFA:  

“Ngày 24 tháng 12 năm 1959 tức là chiều hôm trước chuẩn bị trang trí nhà thờ chính tòa để đón Noel, thì Ủy ban Liên lạc Công giáo, tức là Ủy Ban Đoàn Kết Công giáo (của cộng sản) đến gây chuyện. Trong khi, việc trang trí nhà thờ Chính tòa để mừng  Noel thì đã được cha chính Vinh cùng tiến hành làm với một số hội Hát, mà sau này đi theo cha chính Vinh. Nhiều ca viên lên trại Cổng Trời, thậm chí có nhiều anh chị em chỉ 15, 16 tuổi thôi. Hôm đó, Ủy Ban Đoàn Kết Công Giáo (cộng sản) vào tranh giành việc trang trí nhà thờ. Quan điểm của Giáo hội miền Bắc lúc bấy giờ và Ủy Ban Đoàn Kết Công Giáo như nước với lửa. Một là giữ đạo hai là theo người ta. Tranh giành như thế, cha chính Vinh cho kéo chuông. Hai cái tháp nhà thờ Chính Tòa của  Hà Nội có 6 quả chuông cha chính Vinh cho ca đoàn lên kéo cùng một lúc, cứ như thể một cuộc báo động lớn năm 1959 cho nên kinh khủng lắm, và họ hô nhau đến bắt cha chính Vinh.” 

linhmuc_nguyenvanvinh
LM Nguyễn Văn Vinh

Có thể nói cha chính Vinh là nạn nhân đầu tiên trong chính sách xóa sổ thầm lặng đạo Công giáo mà chính quyền Hà Nội hướng tới. LM Nguyễn Văn Vinh do quá cương quyết và không chịu khuất phục đã âm thầm chịu chết sau đó trong trại gia  Cổng Trời mặc dù án giam chỉ có 18 tháng “?”!  

Ông Phùng Văn Tại kể tiếp trên đài RFA: “Bắt cha chính Vinh xong họ bắt một số ca viên. Nó thành một cái mẫu chung của những người bị bắt. Bắt vào đây trước tiên vì những cái gì? Và cuối cùng là chết thế nào? Cha chính Vinh bị bắt và cuối cùng ngài bị đày lên Cổng Trời. Cổng Trời là một cái địa ngục nhốt cho đến chết thì thôi, cùng với cha Lương Huy Hân. Cái chết của cha chính Vinh là như thế.” 

Cũng theo biên tập viên Mặc Lâm, đài RFA, trong tác phẩm Quần Đảo Ngục Tù nổi  tiếng thế giới, văn hào Alexandre  Soljenitsyne kể lại, chế độ cộng sản Liên Xô lúc ấy đã tiêu diệt đạo công giáo một cách tỉ mỉ đến nỗi nếu so sánh tình trạng bách hại tôn giáo dưới thời Stalin và cộng sản Việt Nam thì người ta sẽ ngạc nhiên vì cách thức của chúng giống nhau như hai giọt nước.  

Soljenitsyne kể: “Nguyên một hôm các viên chức địa phương đột nhập Tu viện Zvengiorod, cho đòi Cha Bề trên Ion. Ông này nổi danh trong Giáo hội Nga, nguyên là Firguf, sĩ quan kỵ binh trong đội Ngự lâm quân Nga hoàng, được ơn trên kêu gọi nên bỏ địa vị, phân phát hết của cải cho dân nghèo rồi xin vô nhà tu kín. Họ bảo: "Mời quá bộ ra đây có chút việc" và yêu cầu ông Cha Bề trên giao nạp cho họ bộ hài cốt của Thánh tử đạo Savva. Mấy người Nhà nước vô giáo đường vẫn phì phèo hút  thuốc, ngay cả trước bàn thờ Chúa. Dĩ nhiên họ vẫn đội nón và một ông còn nhấc xương sọ của ông thánh lên, thử nhổ bãi nước bọt để coi Thánh có làm gì nổi. Họ còn xúc phạm nhiều nữa khiến các tu sĩ phải kéo chuông báo động. Giáo dân đổ xô tới và sau một chầu xung sát có 1 hay 2 ông thiệt mạng…”  

Trong nhiều năm trời, các chủng viện khắp miền Bắc Việt Nam bị đàn áp một cách có hệ thống. Linh mục, tu sĩ cũng như chủng sinh và giáo dân đều là nạn nhân của chính sách này. Cha Nguyễn Thanh Đương, linh mục chánh xứ Quy Hậu, Nghệ An cho biết trên đài RFA: “Tôi bị bắt vào tháng 5 năm 1964. Bị bắt nhiều lần. Chủ trương của họ trong năm 60 khi quốc hội họp bắt tất cả các phần tử họ sợ trong miền Nam tổ chức Bắc tiến. Họ bắt tất cả phần tử công giáo bị nghi ngờ. Một số anh em thuộc những gia đình có người đi Nam, người thì địa chủ, phản động, khi tình nghi thì họ sẽ  tập trung.  

Trong lúc đó, có chủ trương dẹp tất cả các chủng viện dần dần bằng cách này cách  khác làm cho vấn đề đào tạo linh mục không còn nữa, họ cũng có hướng cho rằng  40 năm sau thì trên đất Bắc không còn công giáo nữa. Các linh mục chết hết rồi. Ông linh mục nào vâng lời đi theo họ thì họ để cho hoạt động còn những linh mục có  thái độ không cộng tác với họ thì họ bắt. Họ có ý tập trung một số linh mục nào nghe  họ thì họ để ở dưới xuôi, còn những cha không cộng tác thì họ tập trung ở những xứ  trên rừng. Còn các thầy ở các chủng viện anh nào không về xây dựng gia đình thì họ  sẽ tập trung cải tạo.”  

Soljenitsyne kể lại trong Quần Đảo Ngục Tù của ông nhiều đoạn như được trích lại  từ Việt Nam mặc dù ông không hề có một khái niệm nào về đất nước Việt Nam:  “Không địa phương nào mà không có một vụ án tôn giáo để ‘triệt hạ bằng hết phản  động’, nghĩa là tu sĩ, linh mục, con chiên hàng loạt bị đưa ra toà. Trước vụ tu viện  Zvengiorod bị xâm nhập, Đức Giáo chủ Tikhon từng nhiều lần phản kháng Nhà nước  cấm giảng đạo, bắt bớ tu sĩ hoàn toàn với tội danh mơ hồ ‘phản Cách mạng’. Chỉ có  một thời gian công tác triệt hạ Giáo hội tạm lơi vì Nhà nước còn lo lấy lòng tín đồ  Chính thống giáo để rảnh tay thanh toán nội chiến. Dẹp xong Denikin và Kolchak là  những phiên toà lại dồn dập như sóng trào.”  

Cán bộ Nhà nước CSVN tỏ ra không thua kém cộng sản Liên Xô về khoản bắt bớ. Không phải họ chỉ bắt linh mục, cả những người giảng dạy tại chủng viện hay các  chủng sinh, giáo dân cũng đều chung số phận trong cuộc bách hại này. Ông Phùng  Văn Tại là một trong những Giáo sư giảng dạy tại chủng viện kể lại trên đài RFA: “Công việc của tôi từ năm 1952 cho tới khi tan chủng viện năm 1967 là dạy cho 6 lớp  với 120 chủng sinh. Lớp tôi có 11 người, hai linh mục. Mùng 05 tháng 06 năm 1960  thì tôi được mãn trường khi đang học ở tiểu chủng viện. Đức Cha phát bìa sai nó như một cái quyết định phân công. Tôi ở lại dạy chủng viện với hai người cùng lớp nữa cho đến 30 tháng 05 năm 1963 thì tôi bị bắt. Lý do là người ta không muốn có chủng viện, người ta muốn xóa sạch những ngườ  làm việc Chúa thế thôi, không muốn chúng tôi làm linh mục.” 

Qua kinh nghiệm từ những nhân chứng khi viết Quần Đảo  Ngục Tù, văn hào Soljenitsyne xác định người cộng sản không thể chung sống với tôn giáo, mà công giáo là tôn giáo nguy hiểm hàng đầu cần phải để ý. Trong một chương nói về công  giáo ông viết: “Không cần giữ theo luật! Đây là lúc vô cùng thích hợp để thanh toán cho xong vấn đề tôn giáo mấy năm nay vẫn phải tạm gác lại vì nỗ lực chấm dứt nội  chiến. Đây cũng là lúc người Cộng sản phải minh định thế đứng trước người Công giáo, một thế đứng bất khả dung hợp ngay từ quan điểm căn bản "nhà thờ là nhà thờ và Nhà nước là Nhà nước". 

Cách thức mà người CSVN theo đuổi lúc ấy không khác mấy với Liên bang Xô Viết  trước đó. Miền Bắc xóa sổ đạo công giáo như thế nào sau hiệp định Genève? Ông Trần Quốc Định tức nhà văn Đặng Chí Bình bị giam giữ nhiều năm trời tại miền Bắc, tác giả quyển Thép Đen viết về những người tù, kể lại những điều được chứng kiến mặc dù ông không phải là một tín hữu công giáo, ông kể trên đài RFA: “Tôi lúc đấy đã hiểu, trước đấy tôi cũng đã hiểu nhưng khi ra miền Bắc tiếp xúc với cán bộ và  thỉnh thoảng lên trại trung ương lại gặp rất nhiều chủng sinh ở trại E này.  

Hội nghị Genève 20 tháng 07 năm 1954 khi đến tay của họ, mặc dù trong hiến pháp nói tự do tín ngưỡng tự do ngôn luận… nhưng thực tế xã hội miền Bắc tất cả khi đến tay họ thì họ đóng kín mít, nội bất xuất ngoại bất nhập, do đó tất cả các đại chủng  viện của Công giáo ngoài miền Bắc tất cả… xin mời các anh đi về nhà, họ lấy lý do thế này: Anh phải đồng ý với tôi dưới chế độ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa không có ai ăn bám ai… anh phải đồng ý thôi vì anh ở trong tay của họ! Lúc ấy họ cầm vạt áo của anh họ hỏi: Anh có làm ra cái áo này không? Anh nói không. Họ chỉ xuống đôi dép của anh họ hỏi: anh có làm ra cái này không? Anh bảo không! Cái kính anh đeo trên mắt anh có làm không? Không, thì vậy chính là xã hội làm cho anh vậy thì anh phải trả lại xã hội vì không ăn bám ai mà! Tóm lại anh vẫn phải đi nghĩa vụ quân sự,  đi kinh tế mới. Tất cả điều gì người công dân làm thì anh phải làm, anh ăn nhờ xã hội thì anh không thể phây phây đi tu được nữa!”(“?”) 

Một người tù nổi tiếng của trại giam Cổng Trời là đại úy Kiều Duy Vĩnh, Đại úy thời  Pháp, ông và Nguyễn Hữu Đang bị nhốt chung với 70 người gồm linh mục tu sĩ  chủng sinh và có người chỉ là giáo dân công giáo. Ông Vĩnh cho biết kinh nghiệm  của mình trên đài RFA như sau:  

-“Vì gia đình tôi không đi tôi ở lại, gia đình tôi bị cho là địa chủ cường hào. Bố tôi bị giết tại Gia Lâm, bị tịch thu toàn bộ tài sản. Vào năm 1959 tôi bị bắt cùng với anh Nguyễn Hữu Đang và 70 tu sĩ và các cha cố. Chúng tôi bị đưa lên Cổng Trời chỉ có  tôi và anh Đang là không làm dấu thánh giá và không theo đạo Thiên chúa thì còn sống, còn tất cả 70 người đều chết hết cả. Có hai linh mục, linh mục thứ nhất là linh mục Vinh thuộc địa phận Hà Nội. Linh mục thứ hai là cha Quế ở địa phận Nghệ An. Chỉ có hai linh mục còn tất cả là tu sĩ. Chúng giết anh em ở khu A khu H khu O.  Những lò thiêu xác không có mồ không có khói và không cần chất đốt. Vào khu O là chết. Hai người đầu tiên vào đó chết là linh mục Vinh và linh mục Quế, rồi lần lượt  sau đó các tu sĩ đều chết hết cả. Chỉ có tôi và Nguyễn Hữu Đang còn sống vì anh Đang là lão thành cách mạng còn tôi thì không theo đạo Thiên Chúa. Họ chĩa mũi dùi chuyên chính cách mạng vào các người Thiên Chúa Giáo, những người tu sĩ và linh mục.” 

Cách mà người cộng sản bách hại tôn giáo như thế nào bước đầu đã được đài RFA giới thiệu. Tất cả chỉ là mới bắt đầu cho một giai đoạn vô cùng khó khăn của người công giáo Việt nam. Tiếp theo, trong giai đoạn từ năm 1959 cho đến 1964, một giai  đoạn có nhiều uẩn khúc mà tín đồ cũng như tu sĩ công giáo Việt Nam gặp phải, một  giai đoạn có nhiều người chết nhất trong trại giam mang tên Cổng Trời tại Hà Giang Việt Nam. 

Năm 1959 đánh dấu một mùa Giáng Sinh buồn bã tại miền Bắc khi linh mục Nguyễn  Văn Vinh còn được gọi là cha chính Vinh cùng với linh mục Lương Huy Hân và 68 người gồm tu sĩ, chủng sinh thậm chí cả những người hát trong ca đoàn, tất cả bị bắt và dẫn lên trại giam Cổng Trời giam giữ. Con số 70 người này không ai sống sót trở  về, họ chết âm thầm trong tay bạn tù và mãi hàng chục năm sau thân nhân mới hay  biết. Năm 1977 tức 18 năm sau đêm Giáng Sinh bách hại, từ miền Nam xa xôi, linh mục Nguyễn Hữu Lễ tiếp  bước LM Nguyễn Văn Vinh vào trại Cổng Trời để  làm chứng nhân của một trại giam khắc nghiệt “nhất thế giới”.  

LM Nguyễn Hữu Lễ kể lại trên đài RFA những kỷ niệm mà chính trong đêm Giáng Sinh năm 1977 ông và những người người tù miền Nam chịu đựng: “Chúng tôi bị đưa ra Bắc vào năm 1977 và trong đêm Giáng Sinh năm ấy. Trước ngày Giáng Sinh  thì nó có một cuộc tương đối là biến động, bởi một số tù miền Nam còn trẻ ra đây thì người ta phản đối và bày tỏ thái độ phản kháng trong tù, đặc biệt nhất là những anh em công giáo. Đúng vào đêm Giáng Sinh, chỉ có mình tôi là linh mục trong trại Nam Hà thôi. Sau khi kẻng điểm danh rồi thì anh em các buồng khác hướng về cái buồng của tôi, lúc đó tôi âm thầm dâng lễ. Tôi đã dấu được bánh lễ và rượu lễ mang ra từ miền Nam, để rồi làm lễ âm thầm trong mùng. Anh em hướng tâm hồn với tôi để  dâng lễ trong đêm Giáng Sinh. Khi tôi dâng lễ vừa xong thì cửa buồng mở ra và có một cuộc đổi buồng rất lớn xảy ra. Hai mươi người trong số chúng tôi bị còng tay đưa  lên trại Cổng Trời.” 

Linh Mục (LM) Nguyên Thanh, một nhạc sĩ viết thánh nhạc nổi tiếng trong giáo hội Việt Nam cũng theo bước chân LM Lễ lên trại Cổng Trời cùng thời gian mùa Giáng Sinh năm 1977. LM Nguyên Thanh không đi một mình, ông cùng với 5 linh mục khác bước chân vào trại trong một mùa đông giá rét, qua đài RFA ông kể:  

-“Khi tôi bị bắt là ngày 19 tháng 06 năm 1976 cùng với anh Nguyễn Văn Thanh là em ruột của Hồng Y Nguyễn Văn Thuận cùng nhau vượt ngục ở trại Suối Máu, sau đó bị bắt lại và bị đánh một trận gần chết, bị còng tay đưa xuống tàu suốt hai tuần lễ ra Bắc và đưa vào trại Sơn La. Tôi lại tham gia vào một vụ vượt ngục khác tại trại Sơn La rồi cũng bị bắt lại và bị đánh một trận gần chết thứ hai, sau đó bị cùm 6 tháng. Cũng vì cái tội có vài lần vượt ngục như vậy cho nên họ đã đưa tôi lên trại Cổng Trời cùng với 5 linh mục khác là linh mục Cao Đức Thuận, linh mục Nguyễn Thiện Thuật, linh mục Đinh Cao Thuấn, linh mục Nguyễn Văn Hùng tất cả lên trại Cổng Trời kể từ  tháng 12 năm 1977.” 

Theo lời kể của người tù Kiều Duy Vĩnh thì ông là người đã chứng kiến từng người tù ngã xuống trong trại giam nghiệt ngã này. Ông xác định chỉ mình ông và Nguyễn Hữu Đang là sống sót sau nhiều năm bị nhốt tại đây. Với 72 người đến trại giam cùng đợt với ông, chỉ hai người trở lại là ông Vĩnh và ông Đang. Bức tranh bi thảm này làm sao diễn tả nổi! Lúc bấy giờ, ông Kiều Duy Vĩnh còn trẻ (sinh năm 1931).  Ông nhớ như in trong đầu từng sự việc đã xảy ra. Qua đài RFA, người tù Kiều Duy Vĩnh cho biết: “Không còn ai cả! Tôi nhớ, tại vì lúc bấy giờ tôi còn trẻ lắm tôi sinh năm 1931 mà, 70  người còn  lại đều là tu sĩ cả, những người như cha Vinh cha  Quế… Chỉ còn tôi và anh Nguyễn Hữu Đang là người không theo đạo…” 

Qua kinh nghiệm nhiều năm tù đày trong trại Cổng Trời, LM Nguyễn Hữu Lễ nhận xét người cộng sản mong muốn tiêu diệt niềm tin công giáo một cách nghiệt ngã,  ông nói: “Không ai biết có bao nhiêu người đã bỏ mình trong trại giam Cổng Trời ngoại trừ những người đi cùng toán với nhau.” 

LM Nguyễn Thanh Đương, người bị giam trong trại Cổng Trời 18 năm, qua đài RFA  cho biết về những bạn tù của ông như sau: “Tôi có ở cổng trời nhưng thời gian đó những người lên đó coi như là được xếp vào loại chết. Nói về hình khổ trên ấy thì  nhiều lắm, mỗi người có một cái khổ riêng... nhiều nhà tù, nhiều hình khổ khác nhau.  Mình chứng kiến hoặc mình nghe anh em đi tù kể lại cũng không thể biết hết được  tội ác của họ đâu. Mình bị 18 năm nhưng có cha 20 năm, 22 năm. Thầy Cao Ngân  22 năm nhưng Ngài chết rồi.” 

Những người tù công giáo đầu tiên trong đợt Giáng Sinh năm 1959 theo chân linh  mục Nguyễn Văn Vinh đã tay không chống lại sự đàn áp đức tin của họ trước cán bộ  trưởng trại giam một cách bền bỉ như thế nào được ông Kiều Duy Vĩnh kể lại trong  bài viết mang tên "Tuyệt Thực Cổng Trời" rất nổi tiếng. Trong phần mở đầu ông viết:  “Tôi không theo đạo Thiên Chúa, và điều ấy có thể đã làm cho tôi sống được đến hôm nay (năm 1994). Vì những người Cộng Sản căm thù những người theo đạo Thiên Chúa nên tất cả mũi nhọn của nền chuyên chính đều chĩa vào những người  con Chúa. 

Thứ nhất là các vị Giáo sĩ trong Giáo Hội, rồi đến các tu sĩ cả nam lẫn nữ. Trong  ngục tù Cộng sản, tôi đã gặp hai bà Sơ bị bắt vào xà-lim, rồi đến cả những người trong Hội Trống, Hội Kèn Nhà Thờ cũng bị bắt đi tù hàng loạt. Tôi thấy đa số họ hiền lành. Không biết họ mắc tội gì mà bị hành hạ đến như vậy: Họ có mỗi một tội là tin vào Chúa Jê-Su, thế thôi. Còn tôi, tôi thiếu đức tin đó, và điều đó đã cứu tôi sống. Nói thế không có nghĩa là tất cả mọi người Công giáo đi tù đều chết hết. Có nhiều người còn sống sau cuộc tù đày, những anh Thi, anh Thọ, chị Diệp, là những người trong vụ nổi loạn ở Ba Làng, Thanh Hóa năm 1954, còn Nguyễn Công “Cửa” tức Nguyễn Công Môn, ngư dân vượt biển, còn Nguyễn Hữu Bổn, người thôn Vạn Lộc, Nam Lộc Nam Đàn…” 

Tác giả Kiều Duy Vĩnh, thời điểm sắp bước qua năm 2011, vẫn còn sống tại Hà Nội, mặc dù đã 80 tuổi nhưng tính tình vẫn còn lạc quan, và đặc biệt là không bao giờ thỏa hiệp với chế độ mà ông đang sống cùng. Ông đích thân đã kể lại cho phóng viên đài RFA câu chuyện bi tráng này như sau: “Lên đến nơi việc đầu tiên của cán bộ quản lý trại giam là: "Ai cho các anh ăn? Không có thằng Giê Su nào, con mẹ Maria  nào cho các anh ăn cả. Đảng và chính phủ cho các anh ăn vậy cấm không được làm  dấu trước khi ăn!" Tất cả các tràng hạt, tất cả cái gì thuộc về kinh bổn, chữ thập đề  bị tịch thu hết và tôi trở thành người tiến bộ. Các ông ấy không ăn, các ông ấy tuyệt  thực vì bị cấm làm dấu trước khi ăn. Tôi được ba hôm, ngày thứ nhất đến trưa thứ hai thì tôi đói quá. Các tu sĩ thấy tôi đói quá bảo thôi anh ăn đi, họ chỉ cấm những người công giáo không được đọc kinh làm dấu trước khi ăn thì tôi và anh Đang là người không công giáo. 

Thật tình tôi đói lắm, lúc bấy giờ tôi còn khỏe lắm. Tôi cao 1 thước 76, nặng 72 cân. Tôi đói lắm. Cha sanh mẹ đẻ tôi không đi nhà thờ và không làm dấu bao giờ cả. Trưởng trại giam bảo tôi tiến bộ, tôi bảo tôi không phải là người công giáo nên không làm dấu chứ chả có tiến bộ gì cả, đói phải ăn thôi. Vậy là tôi sống còn bao nhiêu chết cả!” 

Trong bài viết "Tuyệt Thực Cổng Trời" tác giả Kiều Duy Vĩnh kể lại một điều quan trọng, đó là người cộng sản cố tìm cách giết những người tù công giáo này như thế  nào, ông viết: "Vả lại ở trên Cổng Trời này, đối với các bậc như Cha Vinh, cha Quế, Tu sĩ Đỗ Bá Lang, Tu sĩ Nguyễn Trung Chính tức Nhẫn, tôi là hạng bét so với các đấng Tù ấy nên mũi nhọn của cuộc tàn sát không chĩa vào tôi. Ban giám thị trại đem so tôi với các bậc Thánh đó thấy tôi là một phần tử tốt. Này nhé: Tôi không có đạo, tôi không cầu kinh, không làm dấu thánh, không ăn chay Lễ Phục Sinh, không theo nghi lễ Giáng Sinh. Như thế là tôi chấp hành nghiêm chỉnh mệnh lệnh của Ban Giám thị quá rồi còn gì nữa. Còn với các đấng Tù kia, nội qui trại tù cấm tù cầu kinh, các vị  cứ cầu kinh, cấm làm dấu thánh trước khi ăn, các vị cứ làm dấu thánh. Ngày Lễ  Giáng Sinh các vị tự ý nghỉ, không chịu đi làm..." 

Câu chuyện "Tuyệt Thực Cổng Trời" kết thúc bởi sự rút lui của cán bộ trưởng trại giam vì không thể bắt 70 người tù này chết đói khi họ cương quyết không ăn uống nếu bị cấm làm dấu thánh giá. Những con người xem rất bình thường này đã tranh đấu trước cái đói một cách phi thường và lần đầu tiên tại Cổng Trời, sức mạnh của quyền lực phải chịu thua sự im lặng trong niềm tin. Nhưng sau đó, 70 người được ông Vĩnh gọi là những "đấng Tù", những "bậc Thánh" ấy không một ai sống sót trở về với gia đình, xã hội, với bàn dâng lễ ở nhà thờ... 

Nhiều nhân chứng đã kể lại những hình khổ mà họ phải chịu khi họ hoàn toàn không làm một việc gì dù lớn dù nhỏ có phương hại đến xã hội, chính quyền cách mạng.  Thật đáng thương cho những vị tu sĩ, những giáo dân vô tội này! Tại sao những  người tu hành này bị bắt và liệu nhà nước khi bắt họ như vậy đã dựa trên những yếu  tố căn bản nào của pháp luật? Những nạn nhân khốn khổ của trại giam Cổng Trời là  ai, và xã hội bên ngoài có ai biết sự giam giữ của họ trong trại giam kinh khủng này  hay không? 

Quay trở lại câu hỏi do đâu cộng sản Việt Nam lại cương quyết xóa sổ đạo công giáo  trong những ngày đầu tiên sau khi miền Bắc độc lập, mặc dù trước đó lịch sử đã ghi  lại không sót một từ nào về hàng trăm cái chết của người công giáo dưới các triều  đại nhà Nguyễn. Lịch sử giáo hội Việt Nam bị bách hại nhiều lần cho thấy lòng can  đảm thà chết không bỏ đạo của hàng ngàn người công giáo miền Bắc. Dù bị bách  hại đến đâu chăng nữa họ vẫn kiên nhẫn bám nhà thờ, bám cha xứ như người đắm  tàu bám phao cứu sinh. Vào thế kỷ 21 này, những giáo dân Cồn Dầu đã bám trụ  trong suốt thời gian đương đầu với cộng sản là một minh chứng điển hình cho sự  kính Chúa, yêu đạo của giáo dân công giáo Việt Nam từ Bắc chí Nam! 

Lúc nhiều lúc ít, lúc mạnh lúc yếu nhưng chưa bao giờ các cuộc đàn áp ngừng lại  hẳn. LM Nguyễn Thanh Đương chánh xứ Quy Hậu, Nghệ An, người bị tù đày nhiều  năm trong trại Cổng Trời, cũng là một chứng nhân trong các cuộc bắt bớ này, kể lại việc chính quyền xé lẻ các vị tu sĩ ra thành từng phần nhỏ để dễ cho công việc bắt  bớ, ông kể trên đài RFA: “Tất nhiên cũng có dư luận quần chúng thành ra họ cứ làm  lẻ dần dần. Mỗi đợt mỗi thầy, mỗi đợt mỗi cha. Nói chung ở ngoài Bắc thì các thầy,  các cha đi vào Nam nhiều rồi thành ra nó bắt dần dần cũng hết. Ở ngoài Bắc hầu  như không còn chủng viện, từ Thanh Hóa trở ra không còn. Cho đến khi nó lợi dụng  việc trong Nam ra thả bom ngoài ni thì nó dẹp luôn. Nó bắt tất cả các thầy, các cha.  Thầy nào không nghe nó thì nó bắt đi tù cho đến khi nào anh đầu hàng về xây dựng  gia đình không đi tu nữa thì nó cho về.” 

Những trái bom từ miền Nam mang ra đánh phá miền Bắc do Hoa Kỳ muốn ngăn chặn bác và đảng cố tâm xâm lược miền Nam thì được cho là do sự chỉ điểm của các tu sĩ hay giáo dân miền Bắc nằm vùng làm gián điệp cho miền Nam. Những cáo  buộc vô lý này được cán bộ rỉ tai trong dân chúng khiến nhiều người dân căm phẫn và quay trở lại chống đối những người láng giềng hiền lành của mình là những người tu hành. Cán bộ cũng không bỏ lỡ cơ hội để áp lực người công giáo bỏ đạo. Đối với các chủng sinh cũng vậy, một là bỏ chủng viện về nhà lấy vợ, hai là bỏ thây trong trại giam. Trên đài RFA, LM Nguyễn Thanh Đương kể:  

-“Thời kỳ đầu tiên năm 1962 họ tập trung cho đến năm 1970 là thời kỳ họ bắt người công giáo. Họ bắt người công giáo bỏ đạo. Các cha, các thầy họ cũng bắt bỏ đạo. Các thầy lúc ấy đang còn là chủng sinh, bị giam riêng bởi vì không chịu bỏ đạo, bị bỏ  vào xà lim, bị cùm bị kẹp ở trong ấy… Một số giáo dân rất kiên quyết. Đặc biệt giáo dân ở giáo phận Vinh là kiên cường hơn cả, không chịu bỏ đạo và sau này trong nhà  tù đấu tranh bằng cách đọc kinh, cầu nguyện. Họ bắt đi cùm kẹp. Giáo dân ở Vinh  thà chịu cùm không chịu bỏ đạo nên nó mới mở dần dần cho.” 

LM Chu Quang Tòng, từng là chánh xứ Thọ Ninh nay đã về hưu tại tòa Tổng giám mục Bắc Ninh, trong thời gian ấy đang là một chủng sinh. Ông bị bắt ở tù trong nhiều năm, giải qua nhiều trại giam và cuối cùng về trại Phong Quang, một trại giam khét  tiếng sát với biên giới Trung Quốc, LM Chu Quang Tòng kể trên đài RFA: “Ngày 11  tháng 07 năm 1964 thì họ gọi tôi lên cho biết là đi tàu suốt! Tức là lên trại giam Trung ương 2 Yên Bái, trại mà họ giam thiếu tướng De Castries. Đến tháng Giêng năm  1965 sau khi Mỹ đưa máy bay ra đánh phá vùng Quảng Ninh thì họ lại di chuyển từ  trại Yên Bái ngược về biên giới Trung Quốc, về trại Tân Sơn thuộc Lạng Sơn trên  vùng Na Sầm, Thất Khê. Thế rồi họ cứ chuyển luôn như mèo tha chuột. Đến năm  1972 thì lại từ đó chuyển lên Phong Quang Lào Cai, giáp biên giới Trung Quốc.” 

Không phải chỉ một mình LM Chu Quang Tòng trong trại giam, gần hai trăm người  trong giáo phận mà ông quen biết cũng có mặt tại đây khiến không khí càng thêm sôi  nổi. Những người tù đặc biệt này quây quần lại với nhau chứng kiến sự bắt bớ các  linh mục, tu sĩ và giáo dân ngày một dày đặc hơn. LM Chu Quang Tòng kể lại trên  đài RFA một giai đoạn hết sức khó khăn do bị bách hại trong giáo hội miền Bắc:  

-“Tôi không được gặp tất cả anh em, nhưng những người trong giáo phận cho tôi biết  thì lúc bấy giờ tất cả chúng tôi có thể nói rằng gần hai trăm anh em, chính xác là 168  anh em bao gồm linh mục, tu sĩ, chủng sinh mà đặc biệt là thành phần các chủng  sinh. Sau khi sự kiện Bùi Chu chịu chức một loạt gồm 29 linh mục thì người ta sợ các  giám mục miền Bắc cho phép truyền chức hết để đáp ứng nhu cầu linh mục nên  người ta bắt đi một loạt. Các chủng sinh lớp lớn như chúng tôi, các chủng sinh dự bị  mà người ta đoán là có thể truyền chức nay mai thì họ gom góp trong vòng nửa tháng là họ bắt đi. Có nơi hơn 50 anh em bị bắt, mục đích của các cuộc bắt bớ này là  chống đạo thôi. Ngày mùng 08 tháng 12 năm 1963 tại Nhà Thờ Bùi Chu, Đức cha  chánh Phạm Năng Kính đã truyền chức cho một loạt 28 linh mục sau đó là lớp ngang  với chúng tôi đều bị bắt hết.” 

Không riêng linh mục hay tu sĩ bị Nhà nước chú ý mà những người có hoạt động  trong những tổ chức của nhà thờ hay giáo hội cũng bị trừng phạt. Ông Lưu Đức Tâm  một giáo dân tại Nghệ An kể lại việc cán bộ bắt cha ông là cụ Lưu Nam, với lý do  ông cụ hoạt động cho Liên Đoàn Công Giáo Việt Nam. Đây là một tổ chức công giáo  mà Nhà nước rất e ngại vì nó tập trung hầu hết trí thức công giáo của miền Bắc và  hoạt động của Liên Đoàn được Nhà nước xem là rất nguy hiểm cho đảng.  

Ông Tâm, qua đài RFA, kể lại việc bắt giữ thân phụ mình như sau: “Ông cụ hoạt  động cho Liên đoàn Công giáo Việt Nam. Liên đoàn này chỉ mang tính chất tôn giáo  thôi. Lúc ấy ông cụ làm chủ tịch Liên đoàn và về mặt Nhà nước thì hợp pháp. Tuy  mang tiếng là hợp pháp nhưng đến một hôm thì người ta theo dõi và mời đi họp. Bởi  vì ông cụ là người rất giỏi về võ nghệ cho nên khi bắt ông cụ thì người ta nghĩ rằng  học trò của ông sẽ phản kháng và lúc ấy thì sẽ đổ máu. Cho nên người ta mời đi họp  rồi âm thầm bắt luôn. Người ta bắt ông cụ tại địa danh tên là Cống Chi Lăng. Một thời  gian sau đó người ta đưa về xử án tại quê nhà với án lệnh là 20 năm tù khổ sai.” 

Cụ Lưu Nam là một người được hầu hết các linh mục nể trọng vì chí khí quật cường  và niềm tin mãnh liệt. Ông bỏ thân trong trại Cổng Trời sau nhiều năm bị giam cầm,  bách hại. Sau cha ruột, người anh rể trong gia đình là ông Nguyễn Quốc Anh cũng bị  bắt vì theo đạo công giáo. Ông Lưu Đức Tâm kể về người anh rể này qua đài RFA:  “Ông Nguyễn Quốc Anh là người anh rể. Ông bị 17 năm tù. Ông vốn là một người  lương dân xuống đây để theo đạo công giáo. Đó là lý do khiến ông bị bắt nhưng  người ta không nói ra, người ta bảo là không chịu cải tạo tốt. Trước đây ông Nguyễn  Quốc Anh cũng đã từng vượt tuyến một lần và bị cải tạo 3 năm. Ông Quốc Anh là  một người rất giỏi trong lĩnh vực toán học cho nên người ta mời đi dạy ở nhà trường  nhưng ông không đi và sau này về mở trường dạy tư. Lý do ông muốn dạy ở đây vì  ông theo công giáo vừa dạy học vừa học đạo luôn. Người ta bắt vì lý do thế.” 

Linh mục Nguyễn Viết Cường thuộc giáo xứ Vạn Phần, Nghệ An cho biết lịch sử của  những cuộc bắt bớ này mà theo ông thì chủ yếu từ một thông tư do ông Hồ Chí Minh  ký vào năm 1960, LM Cường kể lại trên đài RFA: “Khi đó có chỉ thị của Trung ương  Đảng không cho những thành phần con cái địa chủ phản động đi tu làm linh mục. Đó là thông tư 60 do Hồ Chí Minh ký. Tôi là nạn nhân của thông tư đó. Ông nào cưới vợ  thì thôi, còn ông nào không chịu cưới vợ thì nó đánh giá còn nuôi mộng làm linh mục  và như vậy thì nó tập trung đi hết. Không qua xét xử cũng không qua lấy cung, nó chỉ  tập trung cải tạo cái tội đi tu. Nếu về cưới vợ thì thôi.” 

Giữa thập niên 70 lần lượt những người tù này được trả về địa phương, người thì  lấy vợ, người thì tiếp tục con đường tu học, LM Nguyễn Viết Cường may mắn hơn  cả, khi được về lại tòa giám mục để tiếp tục con đường tu hành, ông kể tiếp trên đài  RFA:  

“Sau biến cố 75 đến năm 77 thì được tha nhưng tiếp tục quản chế 12 năm nữa. Đến năm 89 về tòa Giám mục và năm 90 mới được làm linh mục, lúc đó đã 59-60 tuổi rồi.  Trước khi làm linh mục trong buổi gặp cuối cùng thì Ủy Ban nhân dân tỉnh Nghệ An có hỏi một câu, bây giờ ông Cường còn ghét cộng sản lắm phải không? Tôi trả lời là  cộng sản nào? Cộng sản đúng hay cộng sản sai? Cộng sản đúng là cộng sản nói  rằng họ là đầy tớ nhân dân, trung thành với nhân dân, vui sau nhân dân, lo trước nhân dân, một lòng một dạ phục vụ dân, làm đầy tớ dân. Cộng sản đó thì tôi không ghét được. Sau họ hỏi cộng sản bắt ông là cộng sản đúng hay sai, tôi nói cộng sản đó thì sai quá đi chứ. Bây giờ các ông cho tôi đi học làm linh mục là các ông đã nhận lỗi rồi.” 

Nhưng không phải ai cũng may mắn như vậy, LM Nguyễn Thanh Đương thuộc giáo xứ Quy Hậu, Nghệ An phải chạy trốn vào Nam sau khi được thả rồi "tu chui" mới được truyền chức linh mục, ông nói: “Họ có cho về giáo xứ mô! Họ cho mình về nhà  quê chịu quản chế ở đó 3 năm rồi sau đó phải trốn vô trong Nam đi làm thuê làm  mướn đi học. Trong Nam có một số các cha dạy riêng kêu bằng học chui!”… 

Cũng là một tù nhân chính trị bất đồng chính kiến trong nhiều năm tại nhà tù miền  Bắc, học giả Nguyễn Khắc Cần thời điểm cuối năm 2010 đang sống và làm việc tại  Hà Nội cho biết cảm nghĩ của ông về những tù nhân công giáo này, ông nói trên đài  RFA: “Số người Công giáo có những người chỉ là giáo dân thôi, có những người là  frère (elder) hay chuẩn bị frère (Anh, chị dạy giáo lý). Nói chung giáo dân họ có cái rất tốt là họ giữ đạo của họ rất nghiêm túc. Mặc dầu bị cấm hay hạn chế vấn đề cầu  kinh nhưng họ vẫn làm. Đây là điều đáng tôn trọng. Khi vi phạm những điều cấm này thì họ bị phạt rất nặng. Cái mức phạt rất nặng nhọc có thể sẽ đi xà lim, có thể bị cắt  khẩu phần ăn, rất nhiều hình thức nó chả có quy luật gì cả.” 

Học giả Nguyễn Khắc Cần cũng cho biết hồi sau này, cán bộ thường nói là đã có sự  thay đổi lớn lao trong chính sách đối xử với tất cả tôn giáo trong nước, trong đó có  công giáo, tuy nhiên, ông không tin đây là sự thành tâm của chính quyền, chẳng qua chỉ là giai đoạn mà thôi. Ông nói trên đài RFA: “Rõ  ràng bây giờ đã có thay đổi nhưng tôi thường nói chuyện với những nhà chính sách, ở đây tôi nói thẳng, ông thay đổi hay không thay đổi thì không quan trọng vì các ông là người vô thần mà họ là người hữu thần. Có thay đổi tạm thời cũng là chiến thuật mà thôi còn chiến lược thì hai bên không thể cùng tồn tại được.” 

Đường lên Cổng Trời có gì đặc biệt so với các trại giam khác mà nhiều người tù đã  từng kinh qua? Đó là người tù nào mới lên tới Trại giam Cổng Trời đều có tâm trạng chung là cuộc đời mình đến đây là chấm dứt. Một phần bị cán bộ vệ binh áp giải hù  dọa, một phần hoàn cảnh thực tế trước mắt khiến người tù cảm thấy một nỗi khiếp  sợ đè nặng tâm trí mình. Trong bài tựa tác phẩm nổi tiếng thế giới mang tên “Quần Đảo Ngục Tù”, văn hào Nga, Alexandre Soljenitsyne đã viết: “Đại lục ngục tù đó nằm  trong lãnh thổ Liên bang Xô viết, nằm rải rác như bày trên một bàn cờ khổng lồ, nằm  xen kẽ, nằm chen vào giữa các đô tỉnh thị. Chỗ nào cũng có nó, vậy mà dân Nga tối  đại đa số, mù tịt, rất nhiều người chỉ nghe nói mù mờ… chỉ những thằng từng ở bên  trong mới biết rõ sự thực. Bọn họ biết hết nhưng dĩ nhiên họ phải câm nín, không hé  môi về sự thực bên trong GULAK…”.  

Tác phẩm mà Soljenitsyne viết lại theo lời kể của các bạn tù cùng chính kinh nghiệm ở tù trong suốt 11 năm của ông, tác phẩm này được chuẩn bị vào năm 1958 cũng là năm Việt Nam bắt đầu áp dụng những chính sách theo sát những gì Liên bang Xô  viết làm. Đất nước Liên bang Xô Viết bao la và tập trung nhiều sắc tộc, cho nên dân số trội hơn Việt Nam nhiều lần và vì vậy số tù nhân cũng cao hơn. Tù nhân bị tập trung cải tạo trong một chuỗi trại giam mà văn hào Soljenitsyne gọi là quần đảo Gulak. Số trại giam này nhiều hơn các trại của Việt Nam nhưng khoảng cách địa lý và phương pháp cai quản tù nhân thì không khác là bao. Soljenitsyne than thở rằng không mấy người Nga biết được tình trạng nhà tù của Liên bang Xô Viết thì Việt Nam cũng nào có khác? 

Ngoài những thân nhân người tù, có mấy ai được thông báo rằng ngay bên cạnh  nhà mình có một trại giam nhốt đầy những người tù chính trị, tôn giáo? Các nhà giam như Chí Hòa, Phan Đăng Lưu, Nam Hà, Thanh Cẩm, Hà Tây, Vĩnh Quang,  Quảng Ninh, Sơn La, hoặc có những cái tên nghe lạ hơn như Gia Rai, Z30C, Z30D,  An Khê, Kannack, Thu Thủy, Plateau, Suối Máu, Long Giao,…, tất cả những cái tên này dù nghe quen hay không thì ngay cả người dân địa phương khi được hỏi thăm  cũng không nhiều người biết nó được xây dựng từ bao giờ.   

Còn nếu nhắc Hỏa Lò, Chợ Ngọc, Yên Bái, Lào Cai, Da Thịnh, Tuyên Quang, Phong  Quang, hay là Tân Lập, Phú Thọ, Tân Sơn, Vĩnh Phúc, Lạng Sơn, Trần Nội, Quang  Húc, Quyết Tiến… thì ngoại trừ Hỏa Lò, người dân miền Nam hoàn toàn xa lạ với  những cái tên này mặc dù trong những trại giam khắc nghiệt ấy biết bao người đã bị hành hạ không thương xót. Tất cả những trại giam này nằm rải rác từ Nam ra Bắc và  những trại tại miền Bắc gần như quây quần lại với nhau trong một quần thể khép kín  không khác gì quần đảo mang tên Gulak mà văn hào Solzhenitsyn diễn tả. 

Có một trại tù khác rất nhỏ bé và nằm trên cao, xa thăm thẳm với đồng bằng, sở hữu một cái tên nghe rất thơ mộng, đó là trại giam Cổng Trời. Trại giam này rất hiếm  người biết tới, kể cả những người tù lâu năm nhất cũng chỉ nghe kể lại vì muốn lên  đó phải bị kêu án ít nhất 15 năm đối với tù hình sự, còn đối với tù chính trị thì phải là  gián điệp, biệt kích hay các linh mục, tu sĩ. Điểm đặc biệt của trại giam Cổng Trời là độ cao của nó. Không ai biết chính xác trại nằm ở độ cao bao nhiêu nhưng từ 2.000  cho đến 2.500 (Hai ngàn rưỡi) mét là con số được nhiều tù nhân dùng để diễn tả. 

Theo người tù Trần Nhật Kim mô tả trong tác phẩm “Cuộc chiến chưa tàn”  thì từ trại giam Cổng Trời đi đường bộ xuống Thị xã Hà Giang chừng 36 cây số. Ngược lên  phía Bắc là huyện Quản Bạ nằm sát biên giới Việt Trung, chỉ cách trại khoảng 10 cây  số (khoảng 5 km đường chim bay). Qua đỉnh núi, phía bên kia là biên giới. Mặt trước của trại Cổng Trời hướng về đường lộ, hai bên là vách núi thẳng đứng tiếp xúc với  những cánh rừng già trải rộng dưới chân. Phía sau trại dựa vào sườn đồi tiếp nối với  rặng núi cao. Một vùng đất rộng sau trại được dùng làm nghĩa trang mang tên "đồi  Bà Then" nơi vùi lấp những người xấu số. Cho tới nay, những điều mà người ngoài  biết về trại giam Cổng Trời vẫn còn rất hạn chế. Khi người tù Kiều Duy Vĩnh cùng với  70 tù nhân công giáo bước vào đây vào năm 1959 thì trong đấy đã có sẵn một số tù  hình sự trọng tội.  

Trên đài RFA, ông Vĩnh cho biết: “Tôi tên là Kiều Duy Vĩnh sinh năm 1931 tại Hà Nội.  Tôi học trường Chu Văn An, thế rồi giữa năm 1950 và 1951 tôi học ở trường sĩ quan  Đà Lạt khóa 4. Tôi ra trường và đến năm 1954 tôi là đại úy tiểu đoàn trưởng tiểu  đoàn 74 D Việt Nam ở khu 9 Linh Trang thuộc địa phận Hải Phòng. Vào năm 1954 tôi là con một, tôi không đi di cư và ở lại miền Bắc, tới năm 1959 tôi bị bắt đi tù từ năm 1959 tới 1969 tại trại Cổng Trời. Ở đó tôi gặp tất cả những người tử tù đặc biệt  là 72 người cùng đợt. Tôi lên cùng anh Nguyễn Hữu Đang người cầm đầu Nhân Văn Giai Phẩm. Chỉ còn mỗi tôi và anh Đang còn sống còn 70 người còn lại chết cả trên trại cổng trời”. 

Trại giam Cổng Trời chứa rất nhiều loại tù nhân, hơn phân nửa là tù hình sự có án từ  15 năm trở lên, có cả tử tù chờ ngày hành quyết. Tù chính trị chỉ bằng phân nửa của  tù hình sự nhưng cũng đủ để cho cán bộ quản lý phải lo âu vì họ luôn tuyên bố rằng  tù chính trị là loại tù nguy hiểm, chống phá Nhà nước cách mạng cần phải loại trừ.  

Qua đài RFA, LM Nguyễn Hữu Lễ cho biết xuất xứ của biệt danh Cổng Trời như sau:  

“Cái trại "cổng trời" là nick name thôi, tên thật sự của nó là trại Quyết Tiến. Cổng trời nó có hai ý nghĩa, một nghĩa đen và một nghĩa bóng. Cái nghĩa đen là vị trí nó nằm  trên vùng núi cao khoảng chừng 2.500 thước trên mặt biển, gần như đụng trời rồi. Còn nghĩa bóng thì cổng trời là nơi khi đến đó như vào nhà chờ đợi để về trời mà thôi, không quay về trần gian nữa nên được gọi là cổng trời. Nguyên cái chữ cổng trời thôi thì người ta đã thấy hình tượng nó rất là ghê gớm rồi.”.  

Cái tên mà LM Nguyễn Hữu Lễ cho là ghê gớm ấy được nhiều người tù lý giải theo cách nghĩ của mình và đôi khi rất thực tế và không kém khôi hài. Người tù binh Đỗ Lệnh Dũng kể lại kinh nghiệm về cái tên Cổng Trời trên đài RFA như sau: “Đoàn tù  binh chúng tôi được di chuyển tới rất nhiều trại, trong thời gian đi các trại đó thì có một lần chúng tôi đến cái trại để làm láng. Khi chúng tôi khiêng tre về thì cái trại ấy trên cao lắm cho nên chúng tôi rất mệt, tôi than mệt thì người giữ chúng tôi mới nói,  các anh không biết chỗ này người ta gọi là cổng trời ơi à? Lên tới đây thì phải kêu trời! Từ đó, tôi biết địa danh đây là trại Cổng Trời!” 

Cái tiếng kêu trời đứt ruột đó không biết người tù tại đây phải kêu lên bao nhiêu lần trong suốt chiều dài ngày tháng ở tù của mình. Người tù Hoàng Đình Mỹ có số năm  ở tù khó có ai sánh nổi: 32 năm trời trong nhiều trại giam mà trại Cổng Trời là một,  ông nói trên đài RFA về Cổng Trời như sau: “Cổng Trời chỉ có đường lên mà không có đường xuống. Một năm 12 tháng chỉ thấy mây mù phủ đầy chứ không thấy gì  khác. Rất là đói khổ, cán bộ rất nghiêm khắc, hở ra thì kỷ luật. Mà kỷ luật thì nó tuyên  bố rằng khôn thì sống mà dại thì chết. Đã vào đây phải tuân theo lệnh của Nhà nước mà không tuân theo thì chỉ có chết thôi”.  

Người tù nổi tiếng nhất miền Bắc là ông Nguyễn Hữu Đang, người từng lãnh trọng trách tổ chức buổi lễ tuyên bố độc lập cho chính phủ Hồ Chí Minh 02/09/1945. Ông cũng là con chim đầu đàn của phong trào Nhân Văn Giai Phẩm, bị bắt khi phong trào  này đòi quyền tự do sáng tác, nhưng đã phải chịu nhục hình trong nhiều năm tại Cổng Trời. Trong một cuộc phỏng vấn với nhà báo người Đức Heinz Schütte, Nguyễn Hữu Đang cho biết: “Trại này có truyền thuyết là "vào thì không ra", đến đây là phải bỏ xác chớ không hy vọng gì để trở về với gia đình. Trại Cổng Trời là một lò  sát sinh đầy bí mật, tàn bạo và “khoa học” của cộng sản Hà Nội. Trại này đã bí mật chôn vùi 300 anh em tù binh miền Nam và hàng ngàn tù chính trị, tu sĩ và linh mục Công giáo cũng như giới trí thức chống chủ nghĩa Cộng Sản của chính miền Bắc.”.

Những thông tin về trại giam Cổng Trời từ chính những người trong cuộc có lẽ đã nói  lên được phần nào cái diện mạo của nó. Nếu ta muốn biết sâu hơn một chút thì ông  Kiều Duy Vĩnh, người bạn tù của Nguyễn Hữu Đang từ những ngày đầu lên Cổng  Trời có lẽ là người có đủ thẩm quyền nhất để mô tả nó ở khía cạnh khác, khía cạnh quản lý nó từ công an trại giam, hay còn gọi là trại lao cải. Người tù Kiều Duy Vĩnh  miêu tả chính xác cái địa danh này theo cách gọi của Cục Lao Cải qua đài RFA như  sau:

“Trại Cổng Trời là cái tên một địa danh mà dân gian đặt ra vì ở đấy nó là một cái dốc  cổng trời. Còn địa danh do Bộ Công an, Cục Lao cải thì tên chính thức của nó là C65  HE công trường 75A Hà Nội. Không ai biết địa điểm của nó ở đâu, người ta muốn hỏi  trại Cổng Trời ở đâu thì đến Hà Nội, hỏi Bộ Công an, và Bộ Công an thì... đấy địa chỉ  đấy... Trước năm 1959, tôi với anh Đang lên thì hầu như không có đường. Người ta  chở chúng tôi tới Hà Giang rồi đi một đoạn nữa, rồi đi một đoạn nữa... cứ thế. Lúc ấy  tôi đã là một sĩ quan rất biết địa hình lắm mà vẫn không biết vị trí thật của nó ở chỗ nào! Tôi ở đấy 10 năm từ 1959 cho tới 1969 thì tôi được thả về…” 

Tù binh Đỗ Lệnh Dũng kể lại việc ông và những tù binh khác làm những cái láng  trong trại giam Cổng Trời cho người đến sau, những láng trại này hứa hẹn sẽ nhốt  rất nhiều tù nhân khi chiến tranh kết thúc, ông nói trên đài RFA: “Tôi bị bắt vào cuối  năm 1973 họ xếp vào dạng tù binh chiến tranh. Đến năm 76 trong thời gian tôi ở Bắc  thì cũng có khoảng 500 tù binh đa số là sĩ quan họ tập trung hết lại. Cùng năm 76 khi  miền Nam bị mất thì số tù binh ấy được cho về miền Nam trên dưới 200 người, số  còn lại chúng tôi nhận được công tác, giao cho chúng tôi đi xây dựng những cái láng  để ‘ chuẩn bị cho bạn bè của các anh từ miền Nam ra đây học tập’. Họ nói chúng tôi  làm xong công tác ấy thì họ trả chúng tôi về vì hòa bình rồi giữ các anh làm chi! Sau  đó, chúng tôi được đi các nơi để xây dựng chỗ ở cho anh em miền Nam. Chúng tôi  làm những cái láng rất đơn sơ, chỉ là những cái sạp nằm có mái che tượng trưng rồi  sau đó anh em ra sẽ tự củng cố lại chỗ ăn ở...”. 

Sự trớ trêu của lịch sử trong thời kỳ Soljenitsyne sống có khác gì với tình trạng Việt  Nam trong thời gian trước đây? Những tù nhân này không còn sợ hãi nhưng bị ám  ảnh bởi một ký ức đau thương đã nghẹn lời họ khi có ai hỏi về chuyện này. Và rồi  sống chung với những lời ngọt ngào của đảng và nhà nước khuyên rằng “hãy quên  đi quá khứ vì chính quá khứ sẽ làm đau đớn”, đã góp phần làm cho họ trầm tư hơn  trước những kỷ niệm đầy máu và nước mắt.  

Bước vào trại Cổng Trời, người tù nào cũng được chiếu cố kỷ lưỡng bởi các giám thị  trước khi nhận lảnh những hình phạt từ thiên nhiên, con người trong suốt nhiều năm  trời. Người tù binh Trần Nhật Kim trải qua các trại giam như Phan Đăng Lưu, Gia  Rai, Nam Hà rồi Cổng Trời, Thanh Cẩm nhưng không nơi nào để lại vết tích đau đớn như tại Cổng Trời. Những ngày đầu tiên của ông khi bước chân vào trại vẫn còn ám ảnh ông mãi đến bây giờ, ông kể trên đài RFA:  

“Khi chúng tôi tới Cổng Trời sau một đêm thì hôm sau tôi gặp một cán bộ. Anh cán  bộ này bảo rằng “Đây là chỗ ở cuối cùng của các anh, và các anh đừng nghĩ gì tới  gia đình cũng như đừng hy vọng gì trở về với gia đình nữa”. Ngày hôm sau tôi gặp  thiếu úy Tố là người coi về giáo dục. Thiếu úy Tố bảo với anh em chúng tôi rằng “Các anh tha hồ trốn trại, nhưng tôi báo cho anh em biết là cái trại này chưa có một ai trốn ra mà thành công cả. Các anh có hai con đường, một con đường các anh đã  vào trại thì các anh đã vào rồi. Còn con đường thứ hai các anh đi là cửa sau để lên đồi Bà Then”. Đồi Bà Then là cái nghĩa trang để chôn những người tới trước chúng  tôi. Đó là một đòn tâm lý đối với anh em tù miền Nam”.

Đồi Bà Then mà người tù Trần Nhật Kim cho biết mở ra một câu chuyện lớn hơn phía sau trại giam mang tên Cổng Trời mà lương tâm loài người khó thể chịu nổi. Phải chăng nơi ấy chỉ là một nghĩa trang cho tù nhân hay còn những gì khủng khiếp  hơn cái chết nhưng chưa được công bố? Rồi đây, lịch sử chắc chắn sẽ có lời giải đáp. Lời giải đáp chỉ có thể đầy đủ, chính xác nhất sẽ được phơi bày ra chỉ khi mà chế độ CSVN sụp đổ mà thôi, cũng giống như tội ác của Stalin – cộng sản Liên xô chỉ được phơi bày ra sau khi cộng sản Liên Xô sụp đổ và tội ác của Pôn Pốt - cộng sản Campuchia cũng được phơi bày ra một cách đầy đủ chỉ sau khi chế độ cộng sản Campuchia bị sụp đổ. 

Người tù tại Cổng Trời không còn hy vọng, không còn nghĩ đến ngày ra trại và thậm chí không hề nghĩ rằng mình có thể sống sót để ra khỏi nơi này trong một ngày đẹp trời nào đó. Họ tận dụng hết mọi khả năng sinh tồn trong một cộng đồng nhỏ bé,  thiếu thốn mọi thứ nhưng lại dư dật hình phạt từ con người lẫn thiên nhiên. Những trang sách trong tác phẩm Quần Đảo Ngục Tù của Alexandre Soljenitsyne diễn tả cái  lạnh giá mà người tù nước Nga phải chịu đựng suốt mùa đông đã đánh động con tim  nhân loại bao nhiêu, thì khi nghe người tù trại giam Cổng Trời kể lại chính bản thân họ chịu đựng cái lạnh của đất trời Hà Giang, sẽ khiến người nghe chạnh lòng đến rơi lệ bấy nhiêu.  

Trại giam nằm trên độ cao hơn hai ngàn mét và độ lạnh của nó luôn luôn ở khoảng trên dưới 0 độ C. Linh mục Nguyễn Hữu Lễ kể lại những ngày khốn đốn vì lạnh giá tại đó trên đài RFA như sau: "Chúng tôi lên đó đúng vào đêm Giáng sinh 26 tháng 12  năm 1977 và nhiệt độ trên đó lúc nào cũng ở độ âm tức là dưới 0 độ mà con người ta  chỉ được mang lên đó một chăn, một chiếu, một bộ quần áo thì hãy tưởng tượng sự hành hạ của thiên nhiên đối với con người như thế nào!... Người chết quá đông, mỗi  ngày có thể chết 5 người hay 3 người nhất là những mùa đông nặng nề, tù nhân chỉ còn da và xương mà thôi. Tôi tin chắc các linh mục miền Nam bị đưa lên đó, nhất là những linh mục già nổi tiếng như cha Đinh Cao Thuấn, cha Cao Đức Thuận..., những cha già này cũng có mặt trên trại cổng trời, nói chung từ thiên nhiên đến con người, tất cả đều đứng về phía nghịch với chúng tôi." 

Thiên nhiên bị cáo buộc đã quá khắc nghiệt nhưng không thể trả lời tại sao lại tiếp tay hành hạ người tù như vậy. Câu trách cứ não lòng này sẽ không bao giờ người tù nhận được sự giải thích từ bà mẹ trái đất! Cái lạnh đưa người tù vào chỗ chết, cái  đói thì đẩy họ vào địa ngục trần gian. Chỉ có địa ngục mới có hình ảnh đói khủng  khiếp đến như vậy. Người tù đói thâm niên, đói mà không biết mình đói vì bao tử đã quen với cái thiếu thốn cùng cực. Cái gì họ cũng có thể ăn được nhưng nào phải dễ  kiếm cái để ăn? Bốn bức tường ngăn họ với bên ngoài mà đâu phải là nhà dân, chỉ có rừng núi u ám kéo dài và sương mù buốt giá quanh năm. 

Bữa ăn của người tù trong các trại giam toàn miền Bắc đã ít nhưng so với trại giam Cổng Trời thì nơi đây lại càng ít hơn. Đường xa diệu vợi làm cán bộ rất ngại xuống  núi. Qua đài RFA, LM NguyênThanh kể lại chuyện ăn uống trong trại: "Ăn thì chỉ có  khoai mì, và những loại sắn đã chạy chỉ vàng tức là đã chảy mủ ra rồi, ăn rất độc. Bằng chứng là Linh mục Nguyễn Hữu Lễ và nhiều người đã từng ngộ độc khoai mì, tất cả đều ói mửa và gần như ngất xỉu. Chúng tôi chỉ được ăn khoai mì với lại nước muối mà thôi."

Chưa hết, nếu nghe người tù Trần Quốc Định, tác giả tập truyện Thép Đen nổi tiếng  kể về cái đói đã làm cho người tù đau khổ như thế nào thì lương tâm con người không thể không thức dậy, ông kể trên đài RFA: "Chúng tôi đói đến nỗi phải sàng phân mà ăn. Là vì ăn hạt bo bo của Ấn Độ, mà bo bo thì cứng lắm thanh niên như tôi mà nhai còn nhủng nhẳng thì huống chi mấy ông già, nhai kỹ bao nhiêu thì vẫn còn  phân nửa. Một nửa còn lại nguyên si nó vào xong nó lại đi ra. Mà phân thì lại không có cá thịt gì nên không hôi thối. Do đó các người đói quá sau khi những người tù đi ngoài thì họ vào họ xúc phân đó. Những toán đi ra ngoài đồng đem xuống suối rửa  sạch rồi hầm lại và ăn lại cái bo bo đó!...” 

Cái đói làm cho con người mất nhân tính. Nó kinh khủng hơn cái lạnh một bậc vì khi lạnh người ta có khuynh hướng ngồi lại với nhau để tìm hơi ấm, còn khi đói, con người trở thành thú dữ và khi đã đói thì bao tử gầm rú đòi ăn khiến trí óc không còn  minh mẫn. Đã có biết bao nhiêu tù nhân trong các trại giam cộng sản đánh mất cả lương tâm chỉ vì một mẩu bánh, một cọng rau. Người cộng sản đầy kinh nghiệm biến tù nhân thành thú dữ qua việc kiểm soát bao tử của họ.  

Người tù Nguyễn Chí Thiện kể lại cái đói chung của tất cả trại giam miền Bắc, ông nói trên đài RFA: "Ăn thì ăn đói không có gì cả. Đói điên cuồng, đói quá hóa điên. Ai  trải qua rồi thì mới thấy nó khủng khiếp. Có những thanh niên không chịu được đói  đập đầu vào tường để tự tử. Có người dùng mảnh chai cắt veine (tĩnh mạch - mạch  máu) để cho máu chảy ra mà chết. Tôi chứng kiến nhiều trường hợp như thế, đói một cách kinh khủng." 

Người tù thường được tự cải thiện bữa ăn bằng cách trồng rau hay khoai nhưng khi thu hoạch thì gặp những điều cười ra nước mắt khác. Người tù Nguyễn Chí Thiện với 27 năm trải qua nhiều trại giam của miền Bắc, là chứng nhân của biết bao cái  chết vì đói, kể lại: "Chúng tôi trồng ra không biết bao nhiêu là su hào bắp cải, nhưng nó đem ra Lào Cai Yên Bái nó bán. Có lần nó không bán được nó chất mười mấy tấn bắp cải ở lối đi làm, mà chúng tôi không được ăn. Không có rau ăn. Giám thị nó nói  tiêu chuẩn của các anh không được ăn, thế thôi. Cái đống rau mười mấy tấn đó để lâu nó thối. Bao nhiêu công tù đem ủ thành phân mà tù không được ăn. Anh tù nào đi ngang đống rau thối mà lấy thì báng súng nó đánh gục ngay. Chính vì chính sách tiêu diệt con người như thế cho nên tỷ số người tù miền Bắc chết trong trại rất nhiều." 

Người tù tại trại giam Cổng Trời đói trơ xương nhưng không được thăm nuôi từ thân nhân của mình. Chính sách cách ly tuyệt đối người tù với bên ngoài đã làm cho bộ  mặt nhà tù càng thêm rùng rợn. Không ai biết việc gì xảy ra bên trong và người bên  trong cũng không thể hay biết điều gì xảy ra bên ngoài. Cả thế giới như ngưng lại  trong trí nhớ người tù Cổng Trời, họ chịu đựng âm thầm và kiên tâm đến kỳ lạ. Mọi  thứ thực phẩm nhỏ bé nhất cũng bị kiểm soát gắt gao đến nỗi ông Nguyễn Hữu Đang, một cán bộ phụ trách ngày lễ tuyên ngôn Độc lập cho chủ tịch Hồ Chí Minh bị bắt trong vụ Nhân Văn Giai Phẩm trả lời phỏng vấn của nhà báo người Đức Heinz Schütte cho biết:   

"Án bao nhiêu năm chẳng quan trọng, chẳng đáng kể. Không một mối liên hệ với bên ngoài, không thư từ, không thăm nom, không tiền hay quà hay lương thực gửi tới –  không, anh không nhận được chút gì của bạn bè hay gia đình. Anh không có quyền nhận thăm nom, không tiếp xúc với bên ngoài. Anh chỉ sống chuyên giữa các anh với nhau, những người tù, những tù nhân chính trị. Thế giới của anh, nhân loại đối với anh là 200 người tù – không có những người đồng tổ quốc, đồng công dân; với anh,  không có gì hết, chỉ có 200 người đồng ngục cùng một số phận…"  

Kiều Duy Vĩnh, người sống sót cùng với Nguyễn Hữu Đang trong khi 70 bạn tù cùng đợt tại trại Cổng Trời đều đã bỏ mình tại đây. Ông may mắn có được một người mẹ  vừa liều lĩnh vừa thông minh và đầy kiên nhẫn. Bà đã lặn lội xuôi ngược không biết  bao nhiêu ngày tháng để tìm cho được nơi giam giữ con trai mình. Bà đối diện thẳng với công an trại giam các cấp, hỏi và buộc họ phải trả lời con trai bà bị họ nhốt ở  đâu. Cuối cùng thì bà toại nguyện, biết chỗ của con nhưng không tài nào thăm được,  ông Vĩnh cho biết: 

"Mẹ tôi đến Bộ Công An ở phố Trần Bình Trọng hỏi về đứa con bị tù. Gác cửa không cho vào. Nhưng từ nhà tôi ở chợ Hôm ra hồ Thiền Quang chưa đến 1 km nên hầu như liên tục khi nào mẹ tôi đi đâu là mẹ tôi lại tạt vào Bộ Công An quấy rầy họ. Đến  nỗi người thường trực cứ trông thấy mẹ tôi là tránh mặt không tiếp. Mẹ tôi cứ đến hỏi, hỏi mãi, riết rồi họ phải trả lời. Nhưng cũng mất hơn 3 năm họ mới cho mẹ tôi cái địa chỉ trại tù Cổng Trời: Công Trường 75A Hà Nội. Mẹ tôi lại hỏi tiếp: Thế cái công  trường này nó ở chỗ nào ở cái đất Hà Nội này? Họ bảo họ không biết. Mẹ tôi đời nào chịu. Và cuối cùng, họ phải trả lời là tôi đang ở nhà tù Cổng Trời ở Hà Giang. Thế là mẹ tôi đi Hà Giang tìm nhà tù đang nhốt tôi. Đi với 2 bàn tay trắng: không có mảnh giấy phép đi tiếp tế cho tù. Vất vả như thế nhưng công an không cho bà lên Cổng Trời! Thế là bà cụ đành quay trở lại!”. 

Còn gì bi đát hơn khi nhận được thư mẹ nhưng không biết số phận mình sẽ bị định đoạt như thế nào. Ngày về quá xa và thiếu thốn hàng ngày lại nằm sát bên hành hạ… So với Kiều Duy Vĩnh thì người tù Lưu Nam còn bi thảm hơn, ông không bao giờ được gặp mặt gia đình cho tới khi chết mặc dù con cái hết lòng tìm kiếm. Con trai của ông là ông Lưu Đức Tâm kể trên đài RFA:  

"Ông bố ở trại giam Quyết Tiến ở Hà Giang, còn gọi là trại giam Cổng Trời. Trong 10 năm đó gia đình không có tin tức gì thì dẫu biết cũng không thể đi thăm được. Cho đến năm 1961 gia đình nhận được một bức thư của ông cụ gửi về nên mới biết ở trại  đó. Lúc bấy giờ gia đình cũng không có điều kiện để ra đi thăm được bởi vì mẹ ở nhà  ốm đau bệnh tật, con cái thì còn nhỏ thành ra không đi thăm được, cho nên có gửi  lên cho ông bố một ít quà qua cái địa chỉ đó. Gửi bằng con đường bưu điện nhưng  không biết ông cụ có nhận được hay không, tới năm 1962 thì ông cụ mất. Gia đình không hề được báo tin là chết, tức là không có giấy báo tử. Mãi cho đến sau đó anh  em đi ra ngoài Hà Nội mới hỏi Bộ Nội Vụ, người ta mới bảo rằng ông đã mất.". 

Cách ly người tù là biện pháp chống lại sự tuyên truyền những  hình ảnh đối xử không mấy nhân đạo của trại giam sẽ rò rỉ ra bên ngoài hữu hiệu nhất. Sự im lặng khép kín này nhiều chục năm qua đã tránh tiếng được cho chính quyền cộng sản  miền Bắc đối với dư luận thế giới, thế nhưng dư luận trong giới tù nhân và thân nhân họ với nhau thì sao?  

Hoàn cảnh khắc nghiệt tại Cổng Trời khiến tù nhân chết do bệnh tật, thiếu ăn, biệt  giam hay lạnh giá hầu như xảy ra hàng ngày. Đồi Bà Then là cái tên mà người nào ở  Cổng Trời cũng biết. Nó là một mảnh đất nhỏ được dành làm nghĩa trang mà cán bộ  trại giam luôn lấy làm biểu tượng để cảnh cáo những người tù cứng đầu nhất. Không ai thoát bàn tay tử thần trong cõi đời này, nhưng thấy cái chết tiến về phía mình mà  không có cách gì thoát được thì thật là một bi kịch…  

Những người tù này xuất thân từ nhiều thành phần mà theo linh mục Chu Quang  Tòng thì đa số họ bị bắt do tội “chống đối Nhà nước”, trong đó có cả những người  sắc dân thiểu số, ông nói trên đài RFA: "Hầu hết ở các trại thì có 2 thành phần, một  thành phần có tính chất hình sự còn thành phần tập trung cải tạo thuộc thành phần  chính trị. Những người tập trung cải tạo thì hầu hết là những sĩ quan, nhân viên chính  quyền thời Pháp còn ở lại miền Bắc cho nên năm 60-61-62 thì họ tập trung hết cùng  với các tu sĩ bên công giáo, các chủng sinh các linh mục mà họ cho là có tư tưởng không thích chế độ…”. 

Qua đài RFA, người tù Trần Nhật Kim kể về hoàn cảnh của ông và đồng đội trong  trại Cổng Trời như sau: "Chúng tôi được giam trong một khu gọi là khu O. Nơi đây có  thể nói là một nhà tù trong một trại tù. Chúng tôi không thể bước chân ra khỏi vòng  rào đó. Chỉ có một phòng duy nhất để nhốt những người tù đặc biệt, chẳng hạn như  người tù miền Nam... Anh em trong đó gồm tôi với cha Lễ và các cha nữa cùng làm  trong khuôn trại ấy mà thôi, chúng tôi không có cơ hội đi ra khỏi trại." 

Kinh nghiệm ngồi tù hơn 27 năm của người tù Nguyễn Chí Thiện, còn có một biệt danh là ngục sĩ, cho biết không những lạnh, đói, mà nước độc cũng là một nhân tố  kinh khủng giết chết tù nhân, ông kể: "Điều kiện khí hậu và nước độc giết rất nhiều  người. Thí dụ như khi tôi ở trại Mai Côi, Cầu Lầy, Phú Thọ đây là nơi nước độc kinh  khủng. Ngày xưa trong kháng chiến chống Pháp người ta đã có câu: ‘Ai đi Mai Côi thì thôi đường về. Yêu nhau cho thịt cho xôi, ghét nhau đưa đến Mai Côi, Cầu Lầy’. Tôi ở đúng cái trại này, nước giếng của nó lúc nào cũng xam xám màu chì. Không biết nó có những chất độc gì nhưng rất nhiều vi khuẩn độc ở trong đó. Đói rét, tắm rửa ăn  uống trong cái trại đó và có rất nhiều người chết." 

Văn hào Alexandre Soljenitsyne từng bị cho là cường điệu khi nói về chấy rận tại các  trại giam Gulak trong tác phẩm Quần Đảo Ngục Tù như sau: "Hồi đó phát thức ăn là phát cho tổ. Không phát từng cá nhân. Cứ mỗi tổ 10 người. Tổ nào có một thằng chết dại gì khai báo vội. Hãy nhét đỡ nó xuống gầm ổ, để tiếp tục chia nhau chỗ khẩu phần của nó. Nghĩa là 9 miệng hưởng 10, chừng nào xác có mùi hẵng hay! Chen  chúc khốn nạn vậy mà nhà tù cứ nhét thêm và tù cứ ráng chịu: bao nhiêu cũng vừa. Phiền nhất là đông như vậy tù chỉ được phép 3 tháng tắm 1 lần. Chấy rận nảy nở khỏi nói: Chúng hút máu đến nỗi chân cẳng thằng tù nào cũng đầy nhọt áp xe. Bệnh chấy rận tệ hơn nhiều, vì bệnh dịch quái ác này mà cả khám bị cô lập đúng 40 ngày." 

Vài năm sau, người tù Việt Nam đã sống cùng với những ký sinh trùng này mà theo lời kể của Nguyễn Chí Thiện thì văn hào Soljenitsyne không hề cường điệu tí nào: "Mùa đông thì rận chấy mùa hè thì rệp. Sàn nứa ở trên rừng khi đốt lửa lên để giết rệp thì không biết bao nhiêu là con rệp. Ba bốn người ngồi giết không kịp nên nó sinh sôi như thế. Có cái áo tù khi giũ ra thì hàng ngàn con rận! Kinh khủng như vậy." 

Bên cạnh cái đói, lạnh, người tù còn thường xuyên phải canh chừng những kẻ đầu gấu trong trại. Họ có thể giết người bất cứ lúc nào vì đối với những tử tù này không còn một thứ kỷ luật nào có thể làm cho họ sợ hãi nữa, LM Nguyên Thanh kể lại trên đài RFA: "Bản thân tôi thì đã chịu đựng tất cả những hình khổ đó nên tôi rất hiểu thời bấy giờ những linh mục bị đưa lên Cổng Trời là một cái trại tử hình. Ở đó có thể nói, những con người có thể biến thành những con thú để sống bởi vì họ chỉ cần tranh chấp nhau một miếng khoai mì to hay nhỏ thôi, chia không đều mà họ có thể cầm dao cầm búa giết nhau tại chỗ. Thí dụ như một tên tù tên là Nguyễn Văn Nhân là tù hình sự đã bị kết án tử hình vì tội giết người. Bị kết án tử hình nhưng không thi hành  án. Ngay trong tù, tên Nhân này lại giết một người bạn tù khác". 

Qua đài RFA, LM Nguyễn Hữu Lễ nhận xét mức độ tàn ác của những đầu gấu trong tại giam Cổng Trời: "Việc ác độc nhất của chế độ cộng sản đối với tù chính trị miền Nam nói chung và các người công giáo nói riêng đặc biệt là các linh mục là cái trại  đó giao cho những người đội trưởng là tù hình sự. Đại đa số là những kẻ hiếp dâm, giết người cướp của. Bị kết án từ 15 năm sắp lên cho tới tử hình. Nếu dưới 15 năm thì không được lên đó. Những đội trưởng đó được giao cho cai trị người tù miền  Nam, đặc biệt là các linh mục. Những đội trưởng này được giao rất nhiều quyền hạn,  ngay cả mỗi đội trưởng đều có một cái còng số tám nữa. Họ có thể đánh hay còng bất cứ một người nào và chính mắt tôi đã chứng kiến họ đánh tù miền Bắc không thể nào tưởng tượng được." 

LM Nguyên Thanh kể về trại của ông ở được gọi là khu O với những thành phần mà ông gọi là cặn bã của miền Bắc: "Chúng tôi được ở trong khu O tức là họ xây một vòng tròn tường cao kín cổng cao tường, ở trong cái trại tù được gọi là trại tù tử hình vì trại này nhốt tất cả thành phần cặn bã của miền Bắc. Những tù hình sự can tội cướp của giết người chờ tử hình và chúng tôi bị nhốt chung với những người này. Tôi  lại được chiếu cố hơn cả là vì ở khu O tức là tù trong tù."  

Người tù Trần Nhật Kim xác nhận lời kể của LM Nguyên Thanh bằng lời kể trên đài  RFA: “Trại Cổng Trời có điểm đặc biệt nó cao khoảng hai ngàn thước sát biên giới Trung Quốc, chỉ cách 5 cây số đường chim bay. Với khí hậu mùa đông là 0 độ C mà  chúng tôi chỉ có một bộ bà ba, một chăn một chiếu một cái mền mỏng. Nó có điểm  đặc biệt nữa là chỉ bắt đi kỷ luật vào mùa đông vì mùa hè nó cần tù nhân tăng gia  sản xuất. Mùa đông mà thời gian ở trong phòng kỷ luật thì phương tiện không có, ăn  uống thì kém. Một tháng chúng tôi được 11 ký nhưng người bị kỷ luật thì chỉ có 9 ký thôi. 9 ký này toàn chất bột như ngô, khoai, sắn, đa phần là ngô xay. Vì vậy chúng tôi  bị xuống sức khỏe rất nhanh. Vấn đề hành hạ tôi nghĩ không gì hành hạ bằng thời  tiết. Kèm theo, cái đói và ý tưởng mình không được trở về gia đình nữa, nhưng chúng tôi thường đối diện một sự thật là đói quá." 

Người tù Trần Nhật Kim kể trên đài RFA về trường hợp trốn trại mà ông được biết: "Khi các anh em tù vào phòng mỗi buổi chiều. Thí dụ như hôm nay có 40 người cán  bộ thì họ trực gác các phòng. Anh em xếp hàng ở ngoài cửa và người ta gọi tên từng  người để mấy chục cán bộ nhận diện trước khi người đó bươc vào phòng. Thành thử  ra họ thuộc lòng từng người và biết rõ từng tên. Mỗi phòng đều có quyển sổ có hình ảnh đàng hoàng, ghi tên tuổi rõ ràng thành thử anh em có thoát ra ngoài cũng khó. Trường hợp anh Khoan, anh này ra Bắc trước năm 1970 anh ấy bị bắt và trốn trại. Anh vừa thoát ra khỏi cổng trại thì bị tù hình sự nó phát hiện nó báo cán bộ liền. Anh  bị bắt và bị đánh trước mặt chúng tôi. Họ mang vào trong một chỗ mà chúng tôi nhìn  qua khe cửa đều thấy được. Bốn người vừa đánh vừa đấm khi anh ấy bất tỉnh thì nó khiêng bỏ vào phòng kỷ luật. Anh Khoan hiện nay đang ở tiểu bang Ohio." 

Rồi qua đài RFA, những nhân chứng đã kể những hình ảnh mà các trại giam khá trong lãnh thổ Việt Nam không có được: đó là hầm đá kiên giam, nơi dành để gián tiếp giết tù nhân vì chỉ cần vào đây 10 ngày là sẽ vĩnh viễn ra đi, LM Nguyễn Văn Vinh là một trong những người chết từ hầm đá này. Tù nhân trong tất cả các trại giam của người Cộng Sản luôn giống nhau về nỗi ám ảnh bệnh tật hầu như bất tận. Những viên thuốc nhỏ nhoi mà thân nhân có dịp mang vào trại giam cho họ chỉ có  thể chữa trị những cơn bệnh nhẹ như nhức đầu, cảm sốt thông thường, nhưng khi người tù gặp các chứng như sốt rét rừng, kiết lỵ hay tiêu chảy, nhiễm trùng thì mạng  sống kể như chỉ còn biết trông chờ vào thượng đế. 

Các loại thuốc dân gian được người tù tận dụng tối đa và trong nhiều trường hợp  các chứng bệnh nguy hiểm đã được khống chế một cách kỳ diệu. Có lẽ do quen dần với sự khắc nghiệt của thiên nhiên khiến người tù trở nên miễn nhiễm trong một giai đoạn nào đó. Nhiều loại vi trùng mà bên ngoài bất cứ ai  cũng lo sợ lại tránh xa những con người khốn khổ này? Khi người tù gặp tai nạn hay chấn thương thì sự thể lại khác, nhất là trong trường hợp bị nhiễm trùng do vết thương thì hậu quả thật  khó lường. Linh mục Nguyễn Văn Lý, người tù nổi tiếng vì tranh đấu cho nhân quyền kể lại trên đài RFA những kinh nghiệm mà ông từng chứng kiến như sau:  

“Khi bị thương tích đau bệnh gì đó mà cần phải cưa tay hoặc cưa chân, điều kiện không có nên họ cưa sống như vậy chứ không có thuốc tê thuốc mê gì cả. Họ cột chặt anh em của mình vào giường, rồi họ dùng cưa tay, họ cưa luôn cái khúc chân nào mà đang đau như vậy. Người đó bị buộc chặt vào rồi nhét giẻ vào miệng, để khỏi la hét gì được. Họ cũng muốn cứu mình để mình sống nhưng rất kinh hoàng. Tôi biết một linh mục tên là Hùng đã bị cưa sống như vậy năm 1981 hay 1982 gì đó.”. 

Bệnh tật không có thuốc men là tình trạng chung của tất cả các trại tù trên toàn cõi Việt Nam. Riêng tại trại giam CổngTrời thì tình trạng này lại càng bi đát hơn vì chính sách cô lập tù nhân hoàn toàn với bên ngoài của nó. Trong suốt nhiều năm, những  người tù Cổng Trời không hề gặp mặt thân nhân của mình cho đến khi tất cả âm thầm ra đi trong vòng tay của bạn tù. Một trong những người kiên cường nhất trong tổng số 70 tù nhân này là linh mục Nguyễn Văn Vinh, cuối cùng thì ông bỏ mình  trong hầm đá của trại giam Cổng Trời vì không tuân theo những quy định mà cán bộ  trại giam đưa ra. 

Linh mục Nguyễn Hữu Lễ kể lại trên đài RFA điều mà ông cho là kỳ diệu khi phát hiện ra dấu tích của LM Vinh để lại trong hầm đá trước khi ông chết nhiều năm về  trước: “Cái hầm đá đó tức là nhà kiên giam trên Cổng Trời. Trên đó có một nhà xây  bằng đá rất tối. Nó có hai cái xập hai bên, mỗi bên là cái xập bằng ván, khi người tù  người ta lên đó nằm thì người ta khắc cái tên của người ta lên đó. Người ta dùng  đinh hay là đầu đinh để khắc tên dưới miếng ván mình nằm. Có một bữa tôi vô tình  tôi nằm và mò mò phía dưới thì phát hiện ra những cái tên, một hàng dài rất nhiều. Có những cái tên khó đọc, có những tên đọc đựơc tôi thấy có tên của cha Vinh. Tôi không biết nhiều về cha Vinh ngài bị bắt năm nào tôi không biết. Tôi cũng khắc tên  tôi theo. Sự kiện đó nó nói lên nơi đây đã từng giam giữ một số người trong đó nhiều người đã chết.”. 

Nhà thơ Nguyễn Chí Thiện thì kể rõ hơn cách thức mà người tù tại trại Cổng Trời bị nhốt trong hầm đá như thế nào qua lời tường thuật của Nguyễn Hữu Đang và Kiều Duy Vĩnh (đã kể cho ông nghe và ông kể lại): “Ở Hà Giang thì thực sự không khác gì  nơi chúng tôi ở, nó chỉ rét hơn thôi. Nhưng nó là trại thủ tiêu. Nó không để chết lần chết mòn tự chết mà những người công giáo thì bị nó giết chết. Nó cho mặc quần đùi dẫn vào hang đá nó cùm ở trong đó. Theo như Nguyễn Hữu Đang và Kiều Duy Vĩnh kể lại cho tôi biết thì không ai sống quá 10 hôm. Người tù được cho mỗi ngày một nắm cơm bằng quả trứng. Nó bắt mặc như thế mà ngoài trời lạnh như thế, ban đêmtrời mùa đông nó toàn chờ dịp Noel để nó cùm. Rất nhiều người công giáo bị thủ tiêu  theo lối đó.”. 

Trong tác phẩm "Cuộc Chiến Chưa Tàn" người tù Trần Nhật Kim viết: “Còn một loại  phòng giam khác là những hầm đá chìm dưới đất, vào mùa đông hầm càng lạnh  hơn. Khẩu  phần  ăn  quá  ít,  mỗi  bữa  cơm  nắm  lại  chỉ  lớn  bằng  trái  trứng  vịt  với  muối. Không có lấy một chút chất ngọt, chất béo. Trong hoàn cảnh ngược đãi, thể  xác sẽ bị hao mòn theo thời gian. Có nhiều người đã qua đời ở đây. Chính tại căn  hầm đặc biệt này, cùm xích và cai ngục cũng khác thường. Vòng sắt dẹp ôm cổ chân  lâu ngày sét rỉ, đường kính khoảng 4 phân tây, nhỏ hơn cổ chân bình thường. Khi  cùm, tù nhân để cổ chân trên nửa vòng sắt dưới, cán bộ úp nửa vòng sắt trên xuống  không vào khớp vì thịt cổ chân thừa ra ngoài. Cai ngục dùng gót giầy đạp xuống  phần sắt trên để vòng sắt vào ngàm. Họ làm như một thói quen trong khi tù nhân đau đớn. Phần thịt nơi cổ chân đã dập nát, vết thương chảy máu dễ làm độc vì vòng sắt  xét rỉ, dơ bẩn.   

Không được chữa trị kịp thời và hình phạt kỷ luật vẫn tiếp diễn trong nhiều ngày, vết  thương lở loét sau mỗi cử động. Cổ chân sưng lên khiến vòng sắt như nhỏ lại lún sâu vào thịt, vòng sắt nhám như mặt dũa cọ vào vết thương. Cái đau nơi cổ chân bóp  thắt trái tim, các bộ phận trong người như bị cắt ra từng mảnh. Tù nhân có cảm giác  vết thương ngứa ngáy khó chịu, như đang bị những dòi bọ gậm nhấm. Muốn cử động  cho bớt ngứa lại sợ vòng sắt làm vết thương chảy máu. Lâu ngày nằm một chỗ, bàn chân như nặng hơn, mất dần cảm giác nơi gan bàn chân. Cảm giác nặng nề lên dần tới hông, như không còn chịu sự điều khiển của trí óc.”  

LM Nguyễn Viết Cường cho biết những người tù tại Cổng Trời bị cùm thường vào mùa đông, cụ thể là trứơc lễ Giáng Sinh hằng năm như một lời nhắc nhở cho các giáo dân, tu sĩ, linh mục biết rằng Lễ Giáng Sinh sẽ là niềm đau khổ cho họ hơn là niềm tin hy vọng được mang xuống từ trời… Chờ đến mùa đông mới bắt đầu tra tấn hay cùm kẹp người tù là kinh nghiệm mà cán bộ trại giam tích lũy trong nhiều năm, để khi đem ra áp dụng cho người tù Cổng Trời thì mức tác hại của nó ghê gớm không bút mực nào tả xiết. Cái lạnh đồng lõa với những vết thương hành hạ người  tù bị cùm trong trại khiến họ muốn chết không được mà muốn sống cũng không xong. Đau đớn dày vò họ ngày này qua ngày khác trong mùa đông khắc nghiệt, nhiệt độ luôn ở dưới 0 độ thì da thịt có bằng thép cũng phải nhũn ra huống gì là cơ thể của những người tù quanh năm ốm đói. 

Hình thức biệt giam được dùng để hành hạ tinh thần người tù và cách ly họ một lần nữa trong cái thế giới vốn đã nhỏ hẹp và tăm tối. Rất nhiều hình thức biệt giam, từ nặng tới nhẹ mà cách gọi nó sẽ khác nhau. Kiên giam là cái tên dùng để chỉ mức độ  biệt giam nặng nhất. Cát sô, trại kỷ luật, trại kiên giam đều có cùng một hình thức: cực nhỏ, tối tuyệt đối, bị cùm chân và cách biệt với mọi tù nhân khác. Những nơi này dành cho việc giam giữ các phạm nhân mà cán bộ trại giam cho là bất trị, hay kỷ luật những người vi phạm nội quy trại. Nhục hình trong những phòng tối này có thể làm cho người tù phát điên lên vì những sự tra tấn âm thầm nhưng hết sức hiệu quả. Không phải giam giữ suông mà người tù luôn luôn bị cùm bằng nhiều cách khác nhau tùy theo trại giam.

 

Biệt giam một lần đã là một nhục hình khó quên nhưng bị biệt giam nhiều lần thì  nhục hình ấy sẽ ra sao? Người tù lương tâm LM Nguyễn Văn Lý cho biết trên đài  RFA trường hợp của chính bản thân ông: “Tôi đã ở tù 4 lần tổng cộng 17 năm và bị  quản chế hơn 7 lần, án của tôi vẫn còn 5 năm tù và 5 năm quản chế nữa. Thường  thời gian đầu lúc nào tôi cũng bị biệt giam cả. Đầu tiên năm 1977, tôi bị hoàn toàn biệt giam một mình. Rồi đến đợt tù năm 1983, ba năm đầu tiên hoàn toàn biệt giam.  Không phải mình làm gì cả nhưng họ muốn khống chế như vậy để tạo điều kiện cho mình theo kiểu nói của họ là để ăn năn sám hối! Đó là hình thức tẩy não mình đi. Trong điều kiện mình không có sách báo thông tin gì mà cứ ở một mình như vậy,  người thiếu bản lãnh thì rất dễ bị khủng hoảng tư tưởng đi đến chỗ một loại đầu hàng nào đó, một sự khuất phục nào đó.”. 

Phòng kỷ luật của trại giam Cổng Trời lại càng kinh khủng hơn, LM Nguyên Thanh kể lại trên đài RFA những hình khổ mà người tù phải chịu khi bị giam trong trại kỷ luật này: “Riêng tại trại Cổng Trời thì phòng kỷ luật họ có một loại cùm nó đặc biệt  hơn những trại khác. Tôi cũng đã bị ba bốn năm cùm liên tục ở chân. Riêng tại trại  Cổng Trời thì nó dùng một loại cây gọi là cây gỗ nghiến tức là nó rất cứng giống như cây cẩm lai ở miền Nam. Họ xẻ đôi ra và họ khoét hai cái vòng bán nguyệt ở trên và ở dưới. Khi đặt ống chân vào đó thì nửa thân cây phía trên dập xuống nếu không lựa chiều cho vào chỗ nhỏ nhất của ống chân thì cái cây dập xuống nó có chiều rộng khá rộng cho nên nó có thể dập lên xương ống chân làm nát cả xương. Nhiều người khi vào nhà kỷ luật đó khi ra thì chỉ còn xương bọc da và chân bị hư rồi.”.   

Cái cùm bằng gỗ cẩm lai mà linh mục Nguyên Thanh kể lại chỉ là một trong nhiều thứ dụng cụ mà Cổng Trời dành cho tù nhân. Mọi kỹ thuật hành hạ con người từ thời trung cổ cho đến cận đại đều được cán bộ trại giam Cổng Trời áp dụng triệt để. Các  kiểu gông cùm làm người tù sợ hãi suốt cả cuộc đời được họ vắt óc nặn ra và đem áp dụng vào những con người khốn khổ này. Máu và nước mắt của những tù nhân còn tiếp tục đổ xuống trong các lần tra tấn, cùm kẹp, nhục hình xảy ra trong các trại  giam trên khắp lãnh thổ Việt Nam một khi mà chế độ cộng sản phản khoa học, mất  nhân tính vẫn còn đó! 

Những công cụ tra tấn mà Cổng Trời tận dụng là các loại cùm từ thời trung cổ còn  sót lại đã khiến người tù hoảng loạn và kinh khiếp, so ra, Gulak có khi còn may mắn  hơn Cổng Trời? Trong suốt 12 chương sách trong tác phẩm "Quần Đảo Ngục Tù",  văn hào Soljenitsyne hoàn toàn không nhắc gì tới các loại gông cùm được sử dụng  trong  những  trại  giam  được  xem  là  địa  ngục  trần  gian  này.  Nếu  vì  lẽ  gì  đó  mà  Soljenitsyne quên không nhắc đến các loại dụng cụ dùng để trừng phạt người tù qua  hình thức tra tấn này thì quả thật là một thiếu sót lớn. Ngược lại, nếu các nhà giam  trong Quần Đảo Ngục Tù không có loại gông cùm nào đáng để ý thì quả thật nhà tù  Xô Viết vẫn còn là thiên đường nếu so sánh với các trại giam của cộng sản Việt  Nam, đặc biệt là trại giam Cổng Trời. 

Trại giam trên toàn đất nước Việt Nam không nơi nào mà không có phòng biệt giam  hay trại kỷ luật. Những nơi này luôn luôn đi kèm với các loại cùm mà người tù nào  khi bước chân vào một lần sẽ vĩnh viễn ghi vào ký ức suốt đời không tài nào xóa bỏ. Chế độ giam giữ đặc biệt này vừa có mục đích tẩy não những tư tưởng chống đối của người tù mà vừa là hình thức trừng phạt hữu hiệu nhất đối với những ai không tuân theo các luật lệ của trại. Khi người tù bước chân vào trại giam Cổng Trời thì  trước hết anh ta sẽ được nghe một loại huấn thị sắc máu từ trưởng trại giam, để suốt những năm tháng sau đó ghi đậm trong tâm trí anh ta rằng nơi này là nơi sẽ trả  thù những việc anh ta làm. Việc trả thù đa dạng với những nhục hình nào mà cán bộ trại giam có thể nghĩ ra. Nguyễn Hữu Đang, người tù nổi tiếng trong phong trào Nhân Văn Giai Phẩm trả lời trong một bài phỏng vấn như sau: 

"Ngay khi chúng tôi đến nhà tù, người ta đã tuyên bố: Các anh phải nhớ rằng một khi vào đây là các anh sẽ không có ngày trở lại, các anh sẽ ở đây cho đến lúc chết.  Người ta đã tuyên bố thế – tổng giám thị nhà tù tuyên bố chính thức, công khai trước  tất cả các tù nhân chính trị. Đã vào đây là không có ngày trở lại, không bao giờ ra khỏi nơi này. Cho dù án của anh là 5 năm, 10 năm, 15 năm, 20 năm – các anh cũng sẽ ở đây đến lúc chết. Vì sao? Vì các anh, lũ phản động, phản bội tổ quốc, phản bội cách mạng, các anh đáng chết. Vì lòng khoan dung, độ lượng, nhân đạo, mà chính  phủ để cho các anh được sống, nhưng trả tự do cho các anh, không bao giờ! Trả tự  do cho các anh là trả tự do cho hùm beo, các anh sẽ ở đây cho đến chết." 

Trong suốt bao nhiêu năm hiện hữu, trại giam Cổng Trời chưa hề trả tự do cho một người tù chính trị nào. Trại chỉ giải tán khi bị Trung Quốc xâm lược mà thôi. Chẳng những không được trả tự do, những người tù còn bị vô số hình phạt và một trong  những hình phạt thông thường nhưng đau đớn nhất cho họ là các loại cùm được dùng như hình thức tra tấn. LM Nguyễn Viết Cường cho biết trên đài RFA: "Nhiều  kiểu cùm lắm. Nhiều kiểu cùm và nhiều kiểu xiềng lắm. Đơn giản nhưng mà nó rất  ác. Nhất là khi nó khóa còng số 8. Nó không đánh nhưng nó khóa như thế còn hơn đánh. Cùm lâu nhất là 8 tháng". 

Theo lời kể của nhiều tù nhân thì ở trại Phong Quang có một loại cùm mà người ta gọi là cùm chữ V, đây là một loại cùm bằng sắt đóng chữ V vào chân. Người tù nào bị cùm loại cùm này thì chân coi như bỏ đi. Cán bộ đưa cùm vào chân người tù sau đó lấy búa gõ vào cho khít. Khi cán bộ lau cái tút sắt ở bên dưới thì da, thịt, gân tuột theo hết và người tù rú lên một tiếng và ngất đi. Cùm như thế chỉ trong vòng một hai ngày thì cán bộ bỏ ra thay cái cùm khác. Cái chân hư phải thuốc men rất lâu mới khỏi nổi. Ai bị cùm chữ V một lần thì có vết sẹo ở đàng sau cổ chân. Nhiều người tù kể lại có lúc tại trại Phong Quang hàng mấy chục người nằm dài chân băng bó vì bị cùm. 

Thế nhưng tại trại giam Hỏa Lò còn có một loại cùm khác còn kinh khủng hơn loại cùm chữ V của trại Phong Quang. Đây là một loại cùm hộp bằng xi măng mà mỗi lần nhắc tới những ai từng ở Hỏa Lò đều không khỏi rùng mình. Người tù bị nhốt trong phòng đặc biệt nằm trên một bể phân bên dưới là cống rảnh. Phòng này có hai lần tường bao bọc nên tiếng la khóc của người tù không vang ra phía ngoài được. Cùm hộp được đúc bằng bê tông, hai chân người tù bị cán bộ nắm đè vào cái đũa cùm có lỗ tương tự như con số 8. Sau khi người tù đưa chân vào thì cán bộ dập phần hộp xi măng còn lại xuống cho khớp với phần hộp bên dưới. Đau đớn làm người bị cùm chỉ rú lên được một tiếng rồi ngất đi, xương chân coi như bị vỡ. Cùm này chỉ để 12 tiếng là mở ra để thay cùm khác.  

Một kiểu còng khác không kém đau đớn được mang cái tên rất mỹ miều: "khóa cánh  tiên" đây là loại còng được dùng hầu hết trong các trại giam mà trại Cổng Trời, hầu như sử dụng nhiều nhất nhằm khống chế những người tù hình sự hay những kẻ to  con cứng đầu. Người tù Nguyễn Chí Thiện kể lại trên đài RFA những gì mà tù nhân bị loại khóa tàn ác này hành hạ như sau: "Nó có cái khóa gọi là khóa cánh tiên mà cái này không cần phải vi phạm đâu nhé, anh đun trộm ấm trà anh cũng bị khóa. Nó ghét là nó khóa. Khóa cánh tiên là cái khóa số 8, khóa vòng hai tay ra phía sau lưng và phải 3 người mới khóa nổi. Hai tay  người tù cứ mở rộng ra và khép lại đàng sau lưng, hai người mới khép nổi như thế. Khi bị như thế anh càng to, thì lồng ngực anh càng như muốn vỡ. Rồi người thứ ba là anh tù tự giác, nó đưa cái khóa vào và khóa lại. Khóa lại như thế thì sức người không chịu nổi 15 phút vì đa phần bị đau đớn điên cuồng, chỉ trong vòng 15 phút là ngất đi. Hình thức khóa cánh tiên làm cho người ta, ai cũng sợ vì nó đau không thể tưởng tượng được. Tôi là người bị khóa mấy lần nên tôi có thể tả như vầy: trong thời tiết 0 độ mà nó cởi áo hết khóa ngoài giữa sân, mồ hôi trên trán chảy đầm đìa. Nó đau ở  hai thái dương điên cuồng lên. Lúc bấy giờ thành tâm mà nói tôi chỉ muốn chết mà thôi." 

Ban đầu, nhiều người tưởng rằng trưởng trại sợ để tù nhân chết sẽ ảnh hưởng đến điểm thi đua, nhưng sau một thời gian người tù mới biết được cái nỗi sung sướng bệnh hoạn nằm sâu trong tiềm thức của cán bộ trại giam khi tận hưởng những đau đớn mà họ sáng tạo ra để trừng phạt những người tù bất hạnh. Đối với tù nhân nữ thì mức độ tận hưởng của cán bộ quản giáo có khác hơn đối với tù nhân nam, bệnh  hoạn và ác độc hơn. LM Nguyễn Văn Lý kể lại những phương cách mà mới nghe qua không ai có thể tin được vào tai của mình, ông kể trên đài RFA: 

"Những hình khổ khác thì tôi đã tường thuật khá rõ ở trong 54 nhục hình. Những nhục hình đối xử ở bên các bạn nữ, hình thức mà xúc phạm nhân phẩm của họ rất  kinh hoàng. Chúng bắt những người tù nữ này, xin lỗi, chổng mông lên ở dưới cái  sàn đó, rồi một cán bộ mang găng tay loại găng tay lao động chứ không phải găng tay vệ sinh của y tế đâu. Găng tay thô nhám lao động, thọc vào cái chỗ kín của các bà đó, họ thọc như vậy, chẳng có vệ sinh gì cả. Bà nào có HIV/AIDS thì sẽ lây qua các bà khác dễ dàng lắm. Các bà chỉ đứng khóc với nhau. Mỗi bà chịu nhục hình một lúc, tất cả đều trần truồng như nhộng vậy… Một hình khổ nữa là họ lấy những vật dụng cứng họ thọc vào nơi chỗ kín của phụ nữ. Họ lấy dùi điện rà vào những chỗ đó  để đốt cháy. Nó vừa làm đau khổ vừa xúc phạm nhân phẩm người phụ nữ..." 

Làm sao LM Nguyễn Văn Lý nghe lại được những lời kể mà bất cứ ai có nhân tính cũng đều phải quay mặt đi như thế, ông nói: "Họ cấm không cho nói lại nên đâu dám  nói. Mãi đến khi hồi gần đây họ cho tù hình sự nhốt chung với một số tù chính trị,  chính các bạn tù chính trị này khi ở chung, được các bà các cô hình sự kể lại. Vì trên thân thể có những dấu tích do những lần tắm chung thì họ thấy dấu tích, họ hỏi thì các bà kể lại." 

Khổ nạn của người tù hầu như vô tận. Mỗi trại giam có một cách hành hạ người tù tùy theo sự tưởng tượng phong phú của cán bộ trại giam. Người tù chỉ biết chờ tới phiên mình. Họ là những tù nhân ngơ ngác sống trong vòng vây địa ngục trần gian mà bên ngoài bị cách ly với bên trong như hai thế giới. Chỉ khi nào may mắn thoát được cái trại giam này thì lúc đó nỗi ám ảnh mới có cơ may ngày một phai nhạt đi. 

Bổng một ngày kia, tiếng súng đầu tiên từ bên kia biên giới phía Bắc đã thay đổi nhiều số phận của những người tù trong trại giam Cổng trời. Ít ra thì nhờ nó mà họ bớt lạnh hơn, đường trở lại gia đình ngắn hơn, và nhất là được sống gần với con  người hơn tại các trại giam dưới đồng bằng Bắc Bộ. Đối với những người đã ở lâu trong trại giam Cổng Trời thì ý tưởng trại giam này sẽ giải thể hay bị phá tan là một điều hoàn toàn không tưởng. Ngoài vị trí quá cao không thể tấn công hay phá hoại, trại Cổng Trời còn là nơi gần như bất khả xâm phạm vì quanh năm mây mù che phủ, việc phòng bị rất chắc chắn khó thể xâm nhập. Nhưng rồi, điều không tưởng đã xảy ra. Cái ngày nó bị xóa sổ đến rất bất ngờ và những tù nhân trong trại chào đón tin này với một niềm hân hoan tột độ. Người tù biết rằng mặc dù họ không được trả tự do nhưng sẽ không phải tiếp tục sống trong cái địa ngục trần gian này. Hy vọng đó đã làm cho hầu hết tù nhân thắp lại niềm tin sống sót mà bao nhiêu năm qua đã tắt ngúm trong lòng họ. Cái ngày đó là ngày 20 tháng 08 năm 1978. Lý do: Trung Quốc đánh Việt Nam. 

Người tù Trần Nhật Kim nhớ lại và kể trên đài RFA: "20 tháng 8 năm 1978 chúng tôi được di chuyển từ trại Cổng Trời về trại Thanh Cẩm vì khi đó quân đội Việt Nam và Trung Quốc đang đánh ở các tỉnh miền Bắc rồi. Chúng tôi được di chuyển khỏi trại Cổng Trời trước đó 1 tháng. Sở dĩ tôi biết nó đánh tan trại Cổng Trời là vì một nửa tù hình sự chạy thoát được còn một nửa thì bị bắt lại mang xuống trại Thanh Cẩm. Tôi gặp những người này kể lại tôi mới biết là trại Cổng Trời đã bị đánh tan và không còn ai ở đó nữa." 

LM Nguyên Thanh kể lại, ông và một số người khác rời trại trước nhóm của ông Trần Nhật Kim 5 ngày, và cũng về Thanh Cẩm sau đó: "Cho đến 15 tháng 08 năm 1978 thì chúng tôi được sơ tán về trại Thanh Cẩm bởi vì Trung Cộng lúc ấy sắp sửa  đánh 6 tỉnh miền Bắc. Trước khi được đưa về trại Thanh Cẩm, Thanh Hóa thì chúng tôi đã bị bắt buộc phải làm ngày làm đêm đào hào ở các vùng chân núi." 

Trung Quốc đánh Việt Nam khiến trại Cổng Trời đóng cửa là điều mừng cho những người đang ở tù nhưng đối với những tù nhân đã được thả trước đó thì chính biến cố này lại đem phiền toái dồn dập đến với họ. Người tù Nguyễn Chí Thiện kể về  trường hợp của ông trên đài RFA như sau: "Khi Trung Quốc đánh miền Bắc vào tháng 02 năm 1979 thì công an bắt đầu gọi tôi lên sở lên đồn liên tục, viết kiểm điểm đe dọa bắt bớ đủ thứ. Đến nước này tôi thấy nguy cơ nếu mà nó bắt lần nữa thì khó  sống. Thế nên tôi quyết định phải gửi tất cả thơ tôi làm được trong vòng 15 năm ra  ngoại quốc. Tôi vào tòa đại sứ Anh ngày 16 tháng 07 năm 1979 lúc 9 giờ sáng để gửi tập thơ ra ngoài. Sự thực tôi làm thơ để mong gửi vào miền Nam cho dân chúng biết chế độ miền Bắc để thêm tinh thần chiến đấu. Có ai làm thơ để gửi ra ngoại quốc bao giờ?”.  

Người cộng sản vốn đa nghi nên mỗi khi có sự cố nào xảy ra thì những người tù lại được lôi ra chiếu cố một cách cẩn thận. Cũng tương tự như nhà thơ Nguyễn Chí  Thiện, ông Kiều Duy Vĩnh, một đại úy thời Pháp ở lại miền Bắc vì hoàn cảnh gia đình  đã gần bỏ thây trong trại giam Cổng Trời, mãi đến khi trại này không còn thì ông mới được thả về nhà. Tưởng được yên thân, nhưng khi Mỹ tấn công miền Bắc thì người được chiếu cố đầu tiên vẫn là ông, một tù nhân bị xem là nguy hiểm, ông kể: "Tôi  được thả về Hà Nội đến năm 1972, khi Mỹ lại bỏ bom tại miền Bắc thì tôi lại bị bắt! Bị bắt từ năm 1972 cho tới sau năm 1975 sau khi họ chiếm Sài Gòn thì năm 1976 tôi được về. Cả trước sau tôi tù 15 năm." 

Khi được hỏi tại sao họ lại nghi nan một cách vô lý như vậy, trong khi ông bị cách ly hoàn toàn với bên ngoài thì đâu còn cơ hội nào để làm gián điệp cho địch nữa? Ông Vĩnh bức xúc kể trên đài RFA: "Đấy! cộng sản họ hay vô cùng là ở chỗ ấy. Tôi làm gì? Tay không một tấc sắt? Đi tù 10 năm về không còn một tí gì kể cả kinh tế không còn gì hết. Tôi đi làm thợ mộc làm cu li kiếm ăn. Tại sao lại thế nhỉ? Họ bảo, anh phải biết anh chứ! Anh là cái ngòi nổ thì tôi cứ cất đi là yên tâm hơn cả. Cái ấy là cảnh giác cách mạng mà lỵ! Tôi mới hỏi tội trạng gì? - Tội phản cách mạng! Mãi năm 1976, họ chiếm được Sài Gòn xong, tôi mới sống yên ổn. Cho đến thế kỷ 21 này thì tôi mới không bị gọi lên công an chứ còn lúc nào cũng bị gọi ra sở để hỏi thăm sức khỏe." 

Nhưng thực tế, ngay cả hồi sau này, tức là năm 2010 khi tuổi đã gần 80 ông Kiều  Duy Vĩnh vẫn không được buông tha, ông kể: "Mới vừa gần đây, vào tháng 08/2010, sở công an Hà nội cử người hỏi thăm tôi, tôi bảo thẳng, ông bỏ trò lịch sự khôi hài ấy đi. Tôi 80 tuổi còn làm được gì mà hỏi thăm sức khỏe? Sự chuyên chính vô sản đến cực độ. Một anh già 80 thở không ra hơi vẫn bị hỏi thăm xem thế nào?" 

Thử lần về quá khứ xem những con người này mang tội gì mà đáng bị đối xử như vậy? Trước tiên là ông Phùng Văn Tại, một Giáo sư dạy trong đại chủng viện hoàn toàn không có một hành động nào chống phá cách mạng hay tuyên truyền gây nguy  hiểm cho chế dộ. Tội của ông là dạy cho chủng sinh theo tài liệu của Giáo sư Dương Quảng Hàm, ông kể trên đài RFA: "Tôi dạy về giáo sử văn chương. Một trong những tội là dám dùng tài liệu cũ là dùng bộ sách Việt Nam Văn Học Sử Yếu của Giáo sư Dương Quảng Hàm để dạy cho học sinh chủng sinh cho nên  đấy là một cái cớ. Thêm nữa là tôi ra một bài văn, con hãy bình luận câu nói sau đây: Lao động là vinh  quang theo quan điểm giáo hội công giáo. Bài đó tôi cho học sinh 7 điểm và đó là cái  cớ. Trong những ý gạch đầu giòng trên bảng mà tôi cho học sinh làm bài."  

Nhà thơ Nguyễn Chí Thiện cũng không khác với ông Phùng Văn Tại là mấy, ông dạy học sinh theo sự thật lịch sử mà cả thế giới biết, tuy nhiên đối với người Cộng sản thì việc này là cố tình phản tuyên truyền, nhà thơ kể: "Khi bị bắt sự thực mà nói thì tôi không làm gì cả. Hôm ấy một ông bạn, ông ấy là giáo viên dạy sử. Ông ấy ốm nhờ tôi dạy hộ một lớp bổ túc văn hóa mà lớp ấy ở trước nhà tôi ở phố Ga Hải Phòng. Tôi cũng tình cờ vào dạy giúp ông ấy có hai tiếng thôi. Tôi giảng về đại chiến thứ hai  rằng sở dĩ Nhật đầu hàng là do hai quả bom nguyên tử của Mỹ nó bỏ xuống Hiroshima và Nagasaki. Thế nhưng bài giảng đó nó sai với sách giáo khoa. Sách giáo khoa nói do Liên Xô đánh tan quân Nhật ở Mãn Châu thì Nhật phải đầu hàng chứ không phải do Mỹ. Tôi chỉ giảng như thế thôi. Mình cũng vô tình nhưng nó theo dõi mãi đến đầu năm 1961 nó bắt tôi ra tòa với tội là phản tuyên truyền. Khi ra tòa thì tôi cũng nói tôi giảng theo đúng lịch sử thôi. Lúc bấy giờ họ xử tôi hai năm tù nhưng  tôi phải ở 3 năm rưỡi."... 

Năm 1975 sau khi kiểm soát toàn bộ miền Nam, sĩ quan chế độ Sài Gòn được lệnh mang theo lương thực 10 ngày hoặc 30 ngày cùng các thứ cần dùng để đi học tập. Lời hứa 30 ngày đó đã trở thành kỷ niệm khó quên cho cả miền Nam khi không một  người nào có cái may mắn được Nhà nước giữ lời hứa. Thật ra, trước đó hơn 10  năm, ngay tại miền Bắc lời hứa tương tự đã được áp dụng với nhiều tu sĩ công giáo  khi họ được lệnh đem theo quần áo cho mấy ngày đi học tập thôi... LM Chu Quang  Tòng nhớ lại: "Họ gọi, họ bảo mình đem quần áo cho mấy ngày thôi. Trại giam lúc bấy giờ là Ty công an Hà Bắc tại Bắc Giang. Ngày 11 tháng 07 năm 1964 thì họ gọi lên cho biết là đi tàu suốt! Tức là lên trại giam Trung ương 2 Yên Bái, trại mà họ giam thiếu tướng De Castries." …

 

Một nhân chứng khác cho biết giá trị lời hứa của các cán bộ trại giam như thế nào, tù binh Đỗ Lệnh Dũng cho biết qua đài RFA: "…Đối với chính quyền miền Bắc tôi không có một sự tin tưởng nào vào những lời hứa của họ." 

Còn không biết bao nhiêu người nữa là nạn nhân các lời hứa mây bay này. Mặc dù đã nhiều chục năm trôi qua, những người tù chính trị và gia đình họ vẫn còn ám ảnh  bởi những gì mà các trại giam đã gây ra. Họ không phải là tù binh nên công ước  Geneve không thể bảo vệ. Họ bị bắt và chịu đủ thứ hình phạt chỉ vì tư tưởng và niềm tin tôn giáo khác biệt với chế độ. 

Sau khi Liên bang Xô Viết sụp đổ, nhiều nạn nhân trong tác phẩm Quần Đảo Ngục Tù của Alexandre Soljenitsyne đã được phục hồi quyền công dân và xã hội buộc phải nhìn họ với đôi mắt khác với thời cộng sản. Những con người đó tuy mất mát  tất cả sau bao nhiêu năm tù tội nhưng dù sao thì cuối cùng họ vẫn được đối xử công bằng hơn những nạn nhân Việt Nam,  những con người tội nghiệp này vẫn sống trong âm thầm không ai biết đến sau nhiều năm đất nước “hoàn toàn thống nhất”.  

Đã bao nhiêu năm trôi qua rồi nhưng vết thương của những người còn sống từ trại giam Cổng Trời trở về vẫn không hề lành lại được. Họ chiêm bao hàng đêm về cuộc sống quá lâu và quá tàn bạo trong trại giam mang tên Cổng Trời. Những con người  hiền hòa như các vị linh mục, tu sĩ, giáo dân chưa bao giờ có ý tưởng chống lại Nhà nước cách mạng trong buổi bình minh của chủ nghĩa xã hội trên khắp đất nước Việt Nam. Họ là nạn nhân của một ý thức hệ, một chính sách cai trị chuyên chính và một  tư tưởng duy ý chí đến cuồng tín, sai lầm, phản khoa học.  

Những nạn nhân mà các bức tường của trại giam Cổng Trời bao vây nhiều chục năm cho đến ngày nay, vẫn đêm đêm mơ thấy gông cùm và trái tim họ vẫn luôn nhói  đau bởi hậu quả của nhiều năm, nhiều lần xiềng xích. Người tù Liên bang Xô Viết  trong các trại giam Gulak đã trở về đời sống bình thường nhưng người tù Việt Nam vẫn chưa thoát ra được cái bóng đen quá khứ. Sổ hộ khẩu của họ tuy không đóng dấu sự khác biệt nhưng trong cuốn sổ thành kiến của từng cán bộ địa phương thì họ và gia đình vĩnh viễn không bao giờ được trắng án. 

Những người bị giam giữ vì chiến đấu trực diện với quân đội miền Bắc tuy thua trận, bị tù đày nhưng họ đáng được đối xử với quy chế tù binh. Trong ý nghĩa nào đó họ có quyền được tôn trọng sau khi trở về gia đình. Những chiếc thang xã hội không thể đạp họ và gia đình họ ra khỏi các nấc tiến thân, và nhất là bản án nào cũng phải có ngày chấm dứt kể cả bản án tử hình. Kéo dài thời gian giam giữ những người tù chính trị này là một cách trả thù không lương thiện. Sau bao nhiêu năm,  những tưởng thời gian đã đủ chín muồi để những bản án này có thể được đem ra công khai để trả lại những gì mà các thế lực cuồng tín đã vượt qua cả lương tâm dân tộc để hành hạ những nạn nhân này trong quá khứ. 

Đối với những người công giáo bị bắt, bị giam cầm tra tấn đến chết, nói theo người công giáo thì họ đã được Chúa trả công, còn những người may mắn sống sót thì sao? Ai sẽ trả công cho họ, và liệu họ có xứng đáng hưởng quyền tự do tín ngưỡng  như bao văn bản mà Nhà nước đã không ngớt tuyên truyền cổ động hay không? Bởi  lý tưởng tự do truyền đạo, khi được thả ra, điều mà người linh mục quan tâm nhất vẫn là đàn chiên của mình. LM Nguyễn Hữu Lễ kể lại ngày ông ra trại đã chứng kiến những hình ảnh nhiều làng mạc công giáo của miền Bắc ngày xưa bây giờ ảm đạm và hoang phế chứng tỏ rằng sự sa sút của giáo hội công giáo trong nhiều họ đạo.  

Tuy nhiên, khi nhìn lại kết quả giữ đạo của giáo dân, LM Lễ nhận ra rằng cơ sở tôn giáo dù có bị xuống cấp do bị cấm đoán nhưng lòng sùng đạo của họ không hề suy  giảm và điều này chứng tỏ chính sách tiêu diệt công giáo đã thất bại, LM Lễ nói trên  đài RFA: "Sau khi tôi ra khỏi tù, tôi ở lại miền Bắc thăm viếng nhiều nơi trong các giáo phận thì thấy nhiều nhà thờ bị phá tan hoang. Các chủng viện ngày xưa bây giờ chỉ còn cái nóc không thôi. Những nhà dạy giáo lý hồi xưa bây giờ trở thành hợp tác xã. Có chỗ thì nhốt bò, nhốt trâu có chỗ chứa lúa thóc. Nói chung các cơ sở tôn giáo người ta đã cố gắng triệt phá. Nhưng điều tôi thấy rất rõ trong khi người ta cố gắng triệt hạ những cơ sở tôn giáo ấy thì niềm tin của người công giáo lại càng mạnh hơn."  

Khi bị bắt là một chủng sinh, lúc được thả ra thì LM Chu Quang Tòng ngay lập tức tìm mọi cách để tiếp tục con đường tu hành, ông nhận xét trên đài RFA về cộng đồng công giáo trong những năm sau này: "Tôi có thể khẳng định giáo hội miền Bắc lúc bấy giờ sau khi bị bách hại tinh thần lại càng cao. Cái hướng của linh mục và anh em tu sĩ bị bắt được người ta đánh giá là niềm hy vọng về người công giáo. Người ta vui mừng lắm. Chúng tôi cũng khẳng định là hầu hết anh em chúng tôi đã đi tù. Qua  những sự chịu đựng gian khổ ấy chúng tôi có cảm tưởng một cách thực tế là Giáo hội miền Bắc lớn mạnh lên bằng những đau khổ và sự bắt bớ. Đây là niềm tin mà thật sự ra khi kể chuyện thì Nguyễn Chí Thiện, Vũ Thư Hiên… những người này  chúng tôi đã ở chung với nhau cả rồi. Chúng ta phải khẳng định những bài thơ của Nguyễn Chí Thiện hay truyện “Đêm giữa ban ngày” của Vũ Thư Hiên đều trăm phần trăm đúng cả." 

Niềm tin mà người công giáo miền Bắc theo đuổi hàng trăm năm nay vẫn cứng cáp  trước các thế lực muốn tiêu diệt nó. Những hoạt động tôn giáo nói chung hồi sau này (những năm gần với 2010) cho thấy sức sống của nhiều tín ngưỡng vẫn tiềm tàng trong lòng người dân, không thế lực nào có khả năng xoay chiều đời sống tâm linh bằng cách bách hại hay đàn áp. Hà Nội chưa bao giờ từ bỏ ý tưởng khống chế tôn  giáo bằng bất cứ phương tiện nào có thể. Vô thần và hữu thần chính là lò thuốc súng sẵn sàng bốc cháy bất cứ lúc nào nếu một trong hai phía mất kềm chế. Nếu không tiêu diệt được tôn giáo thì người cộng sản sẽ tìm cách vô hiệu hóa nó. Dành  quyền duyệt xét phong chức là một ví dụ. Đối với hội thánh công giáo, mọi việc  phong chức và bổ nhiệm đều phải qua Vatican duyệt xét thì mới được giáo hội thừa nhận. Việt Nam đã làm ngược lại và hội thánh từ nhiều chục năm nay vẫn buộc lòng phải chấp nhận, đó là: Ủy ban Tôn Giáo Nhà nước duyệt xét trước khi Vatican phong chức hay bổ nhiệm một vị trí nào đó trong giáo hội Việt Nam. 

Đối với những trình tự ngược này không phải ai cũng nhận ra mục đích vô hiệu hóa của nhà nước đối với giáo hội, nhưng trong vai trò và hoàn cảnh như từ xưa đến nay, Vatican không thể làm gì hơn là thỏa hiệp trong một chừng mực có thể để hội  thánh Việt Nam tiếp tục hoạt động. Còn những nạn nhân của các vụ giết hại, đàn áp thì sao? Chưa từng có người nào đứng ra đòi công lý khi chính họ hoặc thân nhân của họ bị cầm giữ trong các trại tù mà không qua xét xử. Nhà nước dửng dưng như không phải chính mình ra lệnh đàn áp và vì vậy chưa có bất cứ một động thái nào có  thể nói là làm dịu bớt nỗi đau của những nạn nhân này.  

 

Người dân luôn luôn có nhu cầu được lắng nghe và nếu chính quyền muốn giải tỏa những trở ngại giữa hai phía để đất nước có thể sống chung hòa thuận thì không lý gì người dân lại từ chối, bởi đây là quyền lợi hợp pháp (phù hợp với luật Việt Nam và luật quốc tế), một phần thưởng cho họ, với điều kiện duy nhất là phía đối diện phải thật tâm. Tất cả các vấn đề còn lại đều có thể chia sẻ. Một sự đền bù nào đó bù đắp cho những lầm than khốn khổ mà gia đình nạn nhân phải chịu đựng trong bao năm  sẽ có chăng?  

Đối với gia đình ông Lưu Đức Tâm, một gia đình nạn nhân Cổng Trời từ những ngày đầu thì họ chỉ mong được yên thân đừng bị chính quyền nghi hoặc hay đố kỵ đã là  hạnh phúc cho họ. Tất cả mọi chuyện hầu như còn nằm trên bàn thờ của cụ thân sinh nhưng một lời xin lỗi, thậm chí an ủi từ chính quyền xem ra còn quá xa vời, ông Tâm cho biết trên đài RFA: "Nhà nước thì người ta bảo người ta đúng. Dựa trên cơ sở nào, pháp lý nào mà mình có thể làm được? Về phía người sống, gia đình thấy vô vọng trong vấn đề này cho nên lực bất tòng tâm, cũng ráng chịu thế thôi chứ chẳng biết làm gì cả. Còn nói để xin được hay làm được một cái gì đấy thì thực tế mình chưa bao giờ nghĩ tới bởi vì nó vượt quá tầm tay của mình." 

Đối với LM Nguyễn Hữu Lễ thì lời xin lỗi khan không đem lại được gì cho nạn nhân và ông không tin vào sự thành thật của giới chức cầm quyền: "Thứ nhất nếu nói về một lời xin lỗi, xin lỗi khan thì rất dễ vì lời xin lỗi đó nó được thực hiện đến mức độ nào hay chỉ xin lỗi để trôi qua cái gân gà đang mắc trong cổ, không có giá trị gì cả. Điều thứ hai giả sử “được tự do hành đạo” thì tôi xin thưa thế này. Cái bản chất của chế độ đối với các tôn giáo tự nó đã nghịch với nhau. Chế độ chủ trương vô thần, còn các tôn giáo chủ trương hữu thần, tự bản chất của sự vô thần hữu thần đã không ngồi được với nhau. Có ngồi với nhau chăng là một cuộc hôn nhân gượng ép để cho người ngoài thấy rằng cái cặp này có thể sống chung một mái nhà với nhau nhưng  không thể nào nói rằng đây là một cuộc hôn nhân hạnh phúc được."  

Cuộc hôn nhân mà LM Nguyễn Hữu Lễ gọi là gượng ép này dù sao cũng đã tồn tại trong nhiều chục năm qua. Lúc chua lúc đắng, lúc máu chảy lúc lành lặn kéo da, thì liệu có giải pháp nào để sống cùng nhau được chăng giống như sống chung với lũ? Những cái chết vô nghĩa của những người tù khiến đồng đội âm thầm gạt nước mắt chôn cất, cũng như các đau khổ khác mà người tù tại “trại giam Cổng Trời” phải liên tục chịu đựng đã phần nào được hé mở và sáng tỏ qua các lời kể của những nhân chứng sống mà biên tập viên Mặc Lâm, đài RFA đã dày công sưu tầm và đưa tin từ ngày 25/12/2010 đến 28/12/2010. Qua đó, tội ác của Hồ Chí Minh và đảng CSVN dùng luật rừng để hành hạ tù binh, bách hại tôn giáo đã hiện rõ. Những tiếng  nói của những tù nhân còn sống sót là những bằng chứng hùng hồn vạch trần  tội ác của Hồ Chí Minh và đảng CSVN đối với tôn giáo nói riêng và đối với dân tộc Việt Nam nói chung. Tội ác này quả thật là khủng khiếp, thật là một vết nhơ trong lịch sử VN và nhân loại.  

Thời Hồ Chí Minh còn sống, ở miền Bắc, chùa chiền – nơi tu dưỡng tinh thần, đạo lý dân tộc từ ngàn đời để lại cũng bị tàn phá hoặc bỏ hoang đổ nát. Thiên Chúa Giáo, Tin lành thì bị đàn áp quyết liệt. Nhiều nhà thờ bị biến thành kho chứa thóc, nơi sinh hoạt đoàn … Từ sau 1975 đến nay, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, Phật  giáo Hòa Hảo... cũng bị chung số phận ấy. Bao tín đồ của các giáo phái đã phải tự thiêu (thậm chí tự thiêu tập thể) nhằm phản tỉnh một chế độ bạo tàn. 

 

Tôn giáo chính là cái nôi nuôi dưỡng đạo đức, lương tâm, tinh thần nhân bản, là một trong những điều kiện quyết định cấu thành nên nền văn hoá dân tộc. Thật vậy, nhà  văn Nguyễn Khải có viết một đoạn rất giản dị mà sâu sắc: “Chùa là cái Thiện của làng, chúng tôi mời sư về trông nom, tối một hồi chuông, sáng một hồi chuông, thằng ăn cướp nghe chuông mãi cũng có lúc phải hồi tâm nghĩ lại” (truyện ngắn Người Ở Làng Pháo). Bykov, một nhà văn lớn của Liên Xô (cũ) cũng viết: “không thể có luân lý nếu không có đức tin”. Vậy đấy, cái tác dụng lớn lao của tôn giáo mà bất cứ một xã hội nào cũng cần đến là giá trị nền tảng đạo đức. Chống lại tôn giáo chân chính là chống lại tâm linh nhân dân và chống lại nền tảng đạo đức xã hội, khiến các vấn đề nhức nhối bùng phát khó cứu chữa tạo nên cuộc khủng hoảng trên nhiều mặt của  đời sống xã hội. Do vậy, có phải đảng cộng sản Việt Nam ngay từ 1945 đã bộc lộ  những yếu tố phản động hay không? Và việc bác cùng với đảng ra sức tìm cách tiêu diệt tôn giáo là một việc làm có đạo đức hay không? 

Trước đây, tiếp theo sau việc đàn áp tôn giáo, bác và đảng đã “lập thành tích” trong  cải cách ruộng đất. Trong cải cách ruộng đất miền Bắc từ năm 1949 - 1956 mà chủ yếu là từ 1953 đến 1956 dưới sự cầm đầu của bác đã để xảy ra nhục hình khắp nơi, bắn giết, tù đày bừa bãi, nhân dân bị hành hạ ngược đãi một cách bất công. Đấu tố, xét xử không dân chủ, không công bằng, không khoa học, rất là vô lý, phi nghĩa. Vì bị oan sai, không chịu nổi nhục hình, rất nhiều người đã tự tử, rất nhiều người đã treo cổ hoặc chui đầu vào đường ray xe lửa để tự sát như theo lời kể của nhà văn Dương Thu Hương, bà đã từng chứng kiến khi ấy bà mới chỉ lên 8 tuổi. Sự việc đã  dẫn đến trên 200 ngàn người bị bắn giết bừa bãi, chết oan sai...  

Nhà thơ Tố Hữu lúc bấy giờ là trưởng ban tuyên truyền trung ương đảng, sau này khi đã về già, Tố Hữu viết trong hồi ký (xuất bản năm 2000) như sau: "Không thể kể hết những cảnh tượng bi thảm mà những người bị quy oan là địa chủ, ác bá phải chịu đựng ở những nơi được phát động cải cách ruộng đất!". 

Chính cương đảng CS đề ra việc đào tận gốc, trốc tận rễ giai cấp địa chủ. Theo đó, giai cấp địa chủ là kẻ thù của đảng, của nhân dân, phải bị tiêu diệt. Vì thế trong CCRĐ, địa chủ có thể bị bắn tại chỗ hoặc bị lãnh án tù rồi chết trong nhà tù. Do đó  khi bị quy là địa chủ nhiều người đã tự tử vì uất ức hay để tránh những nhục hình mà không ai có thể chịu nổi.  

Chỉ riêng việc HCM cầm đầu cải cách ruộng đất để gây ra oan sai, nhục hình,  bức tử đồng bào chết hàng loạt, chỉ riêng việc này thôi cũng đủ lý do muôn thuở để Hồ Chí Minh không thể nào xứng đáng là “danh nhân văn hóa thế giới” cho được, mà ông ta chính là một tội đồ đã phạm tội ác diệt chủng và chống nhân loại. Thật là nhục nhã cho CSVN, thật là ô danh cho dân tộc Việt Nam khi có một ông bạo chúa tự xưng là “bác kính yêu, cha già kính yêu của dân tộc” đã tạo lập ra đảng cộng sản và lập ra một chế độ CSVN man rợ như thế, tàn ác, dã man  chẳng khác nào quân cộng sản Pôn Pốt – Campuchia diệt chủng vì cũng có chung một loại máu cộng sản nhưng họ luôn khéo ngụy trang che đậy, bưng bít. Nếu như  CSVN rêu rao rằng “Hồ Chí Minh là danh nhân văn hóa thế giới...” thì chẳng qua là họ đã lừa phỉnh dân tộc Việt Nam, lừa phỉnh tổ chức UNESCO của Liên hiệp quốc và đã lừa phỉnh cả thế giới, bởi vì bản chất bao đời nay và bản chất muôn thuở của CSVN là gian xảo! 

 

Nếu chỉ xét riêng vụ cải cách ruộng đất này thôi cũng đã đủ cho thấy, Hồ chí  Minh là một người hành xử không có văn hóa và là một con người không có đạo đức! Thế thì, đảng bảo mọi người phải học tư tưởng văn hóa và đạo đức của HCM là học cái gì? Học cái tư tưởng và đạo đức giết người mất nhân tính đó hay sao? 

Sau cuộc cải cách ruộng đất ở miền Bắc do HCM gây ra, sự kinh hoàng sợ hãi của cái chết bao trùm khắp nơi. Rồi HCM lại “công khai đọc lời xin lỗi đồng bào”, lại “sửa  sai”. Cuộc sửa sai càng làm gia tăng sự sợ hãi vì người tham gia cải cách nay sợ bị trả thù. Một xã hội chỉ biết sợ và biết thù là căn bản để  đảng cộng sản (CS ) dựa vào đó xây dựng một nền chuyên chính vô sản, một thể chế công an trị còn tồn tại đến  ngày nay. Cũng cần nói CCRĐ đã phá tan nền tảng văn hoá nhân bản của dân tộc, phá tan phong tục cổ truyền và nếp sống làng thôn Việt Nam, để từ đó đảng CS dễ dàng áp đặt tư tưởng Nga Xô-viết của Mác-Lênin và Trung Quốc của Mao vào cuộc  sống của mọi tầng lớp nhân dân tại miền Bắc Việt Nam. 

Chỉ riêng đợt 5 CCRĐ, được thực hiện ở 3.563 xã (3 ngàn 5 trăm sáu mươi ba xã) với khoảng 10 triệu dân và tỷ lệ địa chủ đã được quy định trước 5,68%. Như vậy con số nạn nhân đã có thể lên đến 568.000 người (do 10 triệu X 5,68%= 568 ngàn  người). Con số này bao gồm thân nhân, gia đình của những người bị quy là địa chủ. Khi bị quy là thành phần địa chủ, họ cũng bị cô lập đối xử phân biệt và bị cướp hết  tài sản. Nhiều người chết vì đói, vì bị ức hiếp hay bị hãm hiếp…  

Sách của “đảng ta” đưa ra: 172.008 người đã bị quy vào thành phần địa chủ và phú nông, là những người bị xếp vào loại kẻ thù của nhân dân, bị “đào tận gốc, trốc tận  rễ” nghĩa là không bị bắn tại chỗ thì cũng bị lãnh án tù rồi chết trong nhà giam. Con số này có thể không chính xác, nhưng số nạn nhân quyết không thể thấp hơn thế được vì nó được ghi trong Văn kiện đảng toàn tập do nhà xuất bản chính trị quốc gia ấn hành, và vì nó không nói gì đến những người bị kết án là Quốc Dân đảng. Những người quốc dân đảng này nằm trong một danh sách riêng khác, thường thì họ bị bắn ngay tại chỗ, sẵn dịp mà CSVN xử luôn trong cuộc cải cách ruộng đất này. Trong số  172.008 người này, có cả những đảng viên Cộng sản trung kiên, do bị bắt lầm mà trước khi chết, họ vẫn còn hô to khẩu hiệu, đảng cộng sản muôn năm (“?”). 

Cũng cần nói, trước cuộc CCRĐ đó, trong cuộc đấu chính trị và đấu giảm tô, số nạn nhân đã lên đến hằng vạn người. Như thế, con số người bị giết trong CCRĐ và chỉnh huấn có thể lên đến vài trăm ngàn người, chúng ta chỉ lấy con số trung bình là khoảng hơn 200 ngàn người bị giết hại thì nó không phải là con số được phóng đại. Với Hồ Chí Minh và đảng CSVN, đây là “một thành quả vĩ đại” vì đã tiêu diệt được giai cấp địa chủ. Nhưng sự thực đây lại là cuộc diệt chủng khủng khiếp chưa từng xảy ra trong lịch sử Việt Nam.  

Đợt cải cách ruộng đất này là một cuộc thảm sát hàng loạt, là một tội ác chống nhân loại theo công ước quốc tế, vì một trong những tội ác đối với loài người được qui định rõ ràng là hành hạ, ngược đãi hoặc giết một số người vì thành phần xã hội, tín  ngưỡng hoặc quan điểm của họ. Tội ác này rất tày trời, nhưng CSVN rất thâm độc, quỷ quyệt, họ bưng bít hết mọi thông tin, nên khó có ai trong và ngoài nước Việt Nam nhất là người ngoài nước sớm biết được. Mọi bài viết về vấn đề này, khi đó  đều bị bắt, bị tịch thu. Cụ thể là sau vụ CCRĐ, các trí thức trong vụ Nhân Văn Giai Phẩm đã bị đàn áp, bắt bớ, tù đày khi có người dám nói lên những bất công mà trong đó có bất công của đợt cải cách ruộng đất vừa qua đó. 

CSVN gian ác giống như Stalin ở Liên Xô, hay PônPốt ở Campuchia. Stalin đã thực hiện chính sách diệt chủng đối với nhân dân Liên Xô và giết người bừa bãi đối với thế giới. Một trong những vụ gây tội ác đó, Stalin đã giết hại hơn 20 ngàn dân Ba Lan rồi đổ tội cho phát xít Đức là Hitler lúc bấy giờ. Giờ đây, cộng sản Liên xô sụp đổ, mọi người đã khám phá ra tội ác  đó. Tội diệt chủng của tập đoàn cộng sản PônPốt thì do CSVN bới ra và hô hào khắp nơi trên thế giới, vì làm như thế CSVN  mới có cớ dễ dàng xâm lược Campuchia và tiêu diệt tập đoàn cộng sản PônPốt lúc bấy giờ.  

Riêng tội ác diệt chủng của CSVN trong CCRĐ miền Bắc đến bây giờ vẫn còn được CSVN che giấu, khéo ngụy trang, bưng bít, ít người biết đến bởi vì nhiều lý do. Lý do thứ nhất là đến giờ này (2012) chế độ CSVN vẫn chưa bị sụp đổ nên nhiều tài liệu mật chưa bị phơi bày. Lý do thứ hai là vào thời điểm xảy ra vụ việc thì CSVN bế quan tỏa cảng, bưng bít hết mọi thông tin, bài viết nào có liên quan đến nó đều bị tịch thu, tác giả sẽ bị bắt như vụ Nhân Văn Giai Phẩm xảy ra ngay sau vụ CCRĐ. Lý  do thứ ba là phương tiện thông tin khi đó chưa hiện đại như ngày nay, lực lượng  công an CSVN dễ dàng kiểm soát và xiết chặt mọi nẻo, mọi đường... 

Vì những lý do bưng bít thông tin đó mà đến tận hôm nay (2012), CSVN vẫn ngạo mạn rao giảng cái gọi là “đạo đức Hồ Chí Minh” và rồi nào là “tư tưởng Hồ Chí Minh”,  hoặc “Hồ chí Minh là danh nhân văn hóa thế giới”, v.v và v.v... Xin nhắc lại 172.008  người bị giết hại, trong đó có 123.266 người (nghĩa là 71,66%) sau này được chính thức xác nhận là oan trong CCRĐ. Con số này được ghi trong một tài liệu được biên soạn rất công phu, in ấn rất thẩm mỹ nhưng có lẽ ít ai đọc, quyển sách mang tên Lịch Sử Kinh Tế Việt Nam 1945-2000, do Viện Kinh Tế Việt Nam xuất bản. Có lẽ vì rất ít người đọc hay vì một lý do “tế nhị, nhạy cảm” nào khác của đảng nên con số rất  quan trọng này chưa được ai trong Bộ Chính trị nhắc đến lần nào cả. Tài liệu nói rằng đợt cải cách được thực hiện tại 3.563 xã với mười triệu dân và tỷ lệ địa chủ, phú nông được quy định trước là 5,68% (trang 85, tập II), một con số tùy tiện nhưng lại có dáng dấp như kết quả của một tính toán rất chính xác.  

Tỷ lệ này được các cai đội cải cách ruộng đất thi hành một cách máy móc, vì tài liệu nói, các xã dù số địa chủ không có hoặc quá thấp, họ cũng cố sức truy bức để đôn tỷ lệ địa chủ lên đạt mức tối thiểu 5% như một qui định bắt buộc (trang 86, Tập II, sách  Lịch Sử Kinh Tế Việt Nam 1945-2000). Nếu như vậy, tổng số người bị xét xử phải trên 500.000 người (năm trăm ngàn người, do 5% của 10  triệu) chứ không phải 172.008 người hay 200.000 người như mọi người ước lượng. Về thành phần của  con số 172.008 nạn nhân này, bảng thống kê ghi như sau: Địa chủ cường hào gian ác: 26.453 người, trong đó 20.493 người bị oan (77,4%). Địa chủ thường: 82.777  người, trong đó 51.480 người bị oan (62%). Địa chủ kháng chiến: 586 người, trong  đó 290 bị oan (49%). Phú nông: 62.192 người, trong đó 51.003 người bị oan (82%). Tổng cộng: 172.008 nạn nhân, trong đó 123.266 người bị oan: 71,66%( gần bằng  72% bị oan sai).  

Rõ ràng gần 60 năm trước, tại miền Bắc Việt Nam lúc bấy giờ, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, dưới sự lãnh đạo của ông Hồ Chí Minh và đảng Lao động Việt Nam, tức là đảng Cộng sản sau này, đã diễn ra cuộc cải cách ruộng đất. Với những án tử hình thi hành tại chỗ, những án tù dài hạn nhưng đa phần thì nạn nhân chết ngay khi vào tù, hoặc hầu hết nạn nhân đều chết trong khi đang bị giam cầm, và khi ấy, một bầu không khí nặng nề, đe dọa đã lan rộng khắp nơi, khiến người dân phải chìm  đắm trong nỗi lo sợ tột cùng bởi phải nằm trong “địa ngục trần gian”.  

Suốt những năm cải cách ruộng đất, từ 1949-1956 mà chủ yếu là từ 1953 đến 1956, hàng trăm ngàn người dân, cán bộ, chiến sĩ bị nhục hình, tù đày, bị bắn giết dã man diễn ra trơ trơ trước mắt hàng ngày, nhưng HCM với vai trò lãnh đạo đảng và nhà  nước CSVN (Chủ tịch đảng kiêm Chủ tịch nước), là người tạo lập ra đảng CSVN vẫn  làm ngơ, vẫn giả câm giả điếc là một hành động không thể chấp nhận được! Qua cuộc CCRĐ do chính HCM ký sắc lệnh thi hành, nhục hình đã phổ biến khắp nơi và sự sợ hãi đến rợn cả người đã bao trùm toàn lãnh thổ miền Bắc. Chính những người trong Bộ Chính trị CSVN, mỗi khi nói đến cuộc thanh trừng thời cải cách ruộng đất, họ cũng đều phải dùng hình dung từ “tàn khốc” để nói lên những gì xảy ra hàng  ngày, hàng giờ tại miền Bắc trong suốt mấy năm trời cao điểm của cải cách ruộng đất.  

Như trên đã nói, nhà văn Dương Thu Hương trong cuộc phỏng vấn dành cho ký giả  Đinh Quang Anh Thái của Little Saigon Radio vẫn còn nhắc lại về những năm cải cách ruộng đất:  "Tám tuổi, tôi đã phải đi theo các đoàn học sinh để chứng kiến những cuộc đấu đá địa chủ. Ngay trước cổng nhà tôi là một người chết treo cổ. Sau lưng nhà tôi, đường tàu, cũng là xác một ngừơi tự tử chết bằng cách tự đặt cổ mình vào đường ray. Khi tôi tám tuổi, buổi sáng tôi đi tưới rau, tôi đã thấy những người chết đó, và điều đó làm cho tôi vô cùng khủng khiếp”. 

Nhà văn Trần Mạnh Hảo cũng trong một cuộc phỏng vấn của ký giả Đinh Quang Anh Thái, khi nói lên lý do tại sao ông muốn từ bỏ chủ nghĩa Mác-Lênin, đã phát biểu: "Tôi nhận ra cái điều này cũng lâu rồi, mà nhận từ từ, bởi vì tôi đã được chứng kiến  cuộc cải cách ruộng đất ở ngoài miền Bắc mà gia đình tôi là nạn nhân. Tôi thấy nó rất là khủng khiếp. Tôi không hiểu cái chủ nghĩa gì mà nó chỉ có một biện pháp duy nhất là trấn áp ngừơi ta, mang người ta ra đấu tố và bắn bỏ người ta, mà không có xét xử công minh, cũng không có bằng cớ gì cả. Cuộc cải cách ruộng đất là một cuộc diệt chủng như là Pon Pot và Yeng Sari (đã làm bên xứ chùa Tháp) mà thời đó tôi đã chứng kiến”. 

Dã tâm của Hồ Chí Minh cùng đảng CSVN trong cuộc cải cách ruộng đất này là gì? Họ có thật sự đem lại ruộng đất, chia ruộng đất cho dân nghèo sau khi tịch thu ruộng  đất của địa chủ hay không? Hoàn toàn không có! Dân nghèo cuối cùng cũng chẳng có được gì cả! Chính việc phân chia giai cấp, đấu tranh giai cấp, quy định thành  phần xã hội, dẫn đến việc phân chia tài sản một cách bất công phản khoa học và với  thâm ý tước đoạt quyền tư hữu đất đai, CSVN đã gây nên bao cảnh giết chóc và đổ  vỡ. Và rồi, những ai được phân chia ruộng đất sau đó phải trả lại tất cả cho đảng và  nhà nước qua Hợp tác xã… với một mỹ từ “đất đai là sở hữu toàn dân”. Nghĩa là,  sau đó, đất đai chỉ nằm trong tay bác và đảng mà thôi . 

Gian ác thật, bác và đảng núp bóng cải cách ruộng đất (CCRĐ), núp bóng khẩu hiệu mị dân là “chia ruộng đất cho dân nghèo” để rồi giết hại hàng trăm ngàn người dân  vô tội và rồi kết quả thì ruộng đất chẳng chia cho dân nghèo nào cả mà thuộc về tay  sở hữu toàn dân là sở hữu nhà nước hết. Rõ ràng, Hồ Chí Minh và đảng CSVN đã lộ nguyên hình là ác quỷ! Những đảng viên CS nào tiếp tay cho ác quỷ thì không nói; những người dân bị ác quỷ tuyên truyền bùa mê làm mê hoặc, mờ mắt thì không tính; nhưng những người dân thấy rõ dã tâm của ác quỷ, muốn chống lại cũng khó bề chống lại nổi bởi vì họ bị ác quỷ không phải là loại ác quỷ tầm thường, mà đó là loài ác quỷ hung tợn nhất trong tất cả các loài ác quỷ, mệnh danh là “ác quỷ Cộng Sản Việt Nam” dùng ma thuật cao cường nhất để phun nọc đọc tuyên truyền làm mê hoặc tiếp những ai chưa bị mê hoặc, dùng địa ngục trần gian là “quần đảo ngục tù cộng sản” để trấn áp, dùng lực lượng quân đội, công an, an ninh ác quỷ cộng sản dày đặc, hung tợn nhất để giết hại nếu ai dám chống đối!…  

Trong mấy ngàn năm lịch sử dân tộc, có lẽ, không biến cố nào đau thương bằng sự kiện CCRĐ ấy. Đau thương vì: đó là cuộc đảo lộn xã hội nông thôn Việt Nam một cách toàn diện từ kinh tế tới văn hóa, đến luân lý do một chủ trương cải tạo nông  nghiệp quá ư lạ lùng và tàn nhẫn; vì đó là cuộc tàn sát trực tiếp lẫn gián tiếp gần nửa triệu nông dân chỉ trong thời gian ngắn mà không phải bằng bom đạn chiến tranh; vì kết quả có được chỉ là sự suy sụp nông nghiệp, tan hoang làng xóm, đổ vỡ tình người, băng hoại đạo đức. Ách nô lệ khoác lên toàn thể nhân dân miền Bắc! 

Ngày 07 tháng 02/2008, cô Phương Anh, phóng viên đài RFA  phỏng vấn ông Nguyễn Văn Thủ, quê ở tỉnh Hưng Yên, năm ấy ông 72 tuổi, đang sống ở Hà Nội. Ông Thủ kể lại: “Tất cả mấy người đi tù trong CCRĐ mà tôi biết đó đều chết trong tù hết. Có những người bị tử hình, ông cụ tôi bị kết án tử hình, bắn chết ngay, lôi ra bắn chết ngay, bắn ngay trước mặt mọi người, con cháu… Đấu tố bố mình, bắt con cháu phải ra nhìn… Còn những người khác bị tra tấn, bị chết thì cho là họ tự tử, bắn thì rõ  ràng rồi, mấy trường hợp… Cuối cùng thì sửa sai, biết là sai lầm, rồi xin lỗi, thế thôi!”.  

Sau đó, phóng viên Phương Anh đã phỏng vấn rất nhiều người, qua các lời kể, mọi người có thể hình dung được những đau khổ tận cùng mà những người dân lúc đó phải chịu đựng, do chính những người cùng làng cùng xóm với mình gây ra theo chỉ đạo của các đội cải cách ruộng đất mà người chỉ huy cải cách ruộng đất cao nhất bấy giờ là ông Hồ Chí Minh. 

Ngày 18 tháng 05/2006, phóng viên Nguyễn An đài RFA đã phỏng vấn nhà thơ Nguyễn Chí Thiện về một phiên xử của toà án nhân dân tại ngoại thành Hà nội trong cuộc cải cách ruộng đất. Ông Nguyễn Chí Thiện cho biết:  

“Hồi làm cải cách ruộng đất ở Thái Hòa ấp, ở đấy có một ông địa chủ tên là ông Bảy Dần. Ông ta là một người cũng có ruộng đất nhưng không phải giàu lắm và ông ta còn lại là một ông đồ dạy học nữa. Lúc bấy giờ, tôi cũng len lên được hàng đầu để  mà xem buổi đấu tố. Ông Bảy Dần cũng mặc áo the, cũng ăn mặc tử tế lắm, đội khăn hẳn hoi. Ông ta thế là bị trói vào cột. Trước hết ông ta bị trói vào cột và đàng sau cột độ mươi thước thôi thì có một cái hố đào sẵn. Có một điều đặc biệt là, ông ta  đã ngoài 60 rồi, mà ông ta vẫn cứ phải xưng cháu hoặc xưng con với bất cứ một  người nào lên đấu tố, dù người lên đấu tố chỉ đáng tuổi con ông thôi. Thậm chí tôi còn nhớ một cô con gái lên tố ông ta thì ông ta cũng phải xưng con với người con gái đó - con gái mình đẻ ra đấy ạ.  

Bây giờ nói đến tòa án nhân dân mà ngồi xử thì toàn là nông dân thôi, toàn là nông dân họ sắp xếp lên ngồi thôi. Chị làm "chánh án", tôi còn nhớ chị ấy còn mù chữ nữa, không biết viết a,b,c thế mà lại lên làm chánh án. Sau một ngày đấu tố nhục nhã như thế rồi thì họ bắt đầu tuyên án. Họ tuyên án với tất cả những tội ác mà địa chủ đã phạm phải, mà toàn bộ là bịa đặt thôi. Người ta tuyên án ông ấy bị tử hình. Đặc biệt là trong quá trình đấu tố thì ông địa chủ này không có quyền cãi mà chỉ có quyền bất cứ ai đấu tố thế nào đều chỉ có quyền "nhận tội"  nhận tội lỗi của mình chớ không hề có một lời cãi nào được phép cả và phải nhận ngay lập tức.  

Buổi hôm đó, sau khi đấu tố xong thì lập tức có 6 anh du kích, 6 anh du kích này đứng cách khoảng độ 2 mét... thế là bắn chết ông ta ngay. Sau khi bắn chết xong thì chặt dây thừng - không phải là cởi nữa mà là chặt dây thừng, lấy con dao chặt dây thừng ra và lôi ông ta ra chỗ cái hố đó. Xin nhớ một điều, không có áo quan, thế là họ vất tụt xuống hố đó là lấp đất ngay lập tức thôi. Lấp đất xong thì đất ấy cũng không được đấp thành mộ mà đắp bằng như bình thường thôi chớ không đắp gồ lên như một khối u như là một mộ phần. Đấy là điều mà tôi chứng kiến tận mắt...”. 

Hậu quả của CCRĐ như lời kể của ông Thiện vừa rồi là nó phá hoại đạo lý luân thường của dân tộc. Từ xưa đến nay, cha mẹ đối với con, giữa thầy đối với trò, vợ chồng đối với nhau, họ hàng cha chú đối với nhau đều có một luân thường đạo lý,  nhưng cải cách ruộng đất về xúi dục con tố cha, vợ tố chồng, nàng dâu tố mẹ chồng, bố chồng v.v... đấu đá lẫn nhau như vậy. Ngoài ra, CCRĐ cũng phá hủy, tiêu diệt  các tôn giáo, chèn ép các tôn giáo, tước đoạt tài sản, đất đai của các tôn giáo để làm  cho các tôn giáo không tồn tại được một cách độc lập... Đến tận hôm nay (2012), nhà cầm quyền CS vẫn tiếp tục tước đoạt quyền tư hữu đất đai của người dân cũng như của các tôn giáo, và các tòa án nhân dân vẫn tiếp tục là công cụ mà cộng sản dùng để bịt miệng, trói tay, giam thân những ai muốn đòi công lý và sự thật điển hình như vụ đàn áp, cướp đất, cướp nhà thờ của giáo dân Cồn Dầu. Thành ra, việc nhìn lại cuộc cải cách ruộng đất là một kiểu “ôn cố tri tân” cần thiết cho mọi người dân Việt Nam chúng ta sáng mắt ra. 

Ngoài việc cướp bóc, trấn lột tài sản, ruộng đất như vừa nói, CSVN dưới sự chỉ đạo của HCM còn bắn giết dã man thường dân vô tội trong lúc đấu tố, đó là chưa kể nhiều người bị chết vì các lý do khác, như tự tử trước khi xét xử, chết khi bị tra của  hay bị giam cầm ở xã, chết trong tù, người nhà địa chủ chết đói do bị bao vây, v.v...  Dầu gì đi nữa, với những con số ước tính đã cho thấy đây là một tội ác tày trời. Tội tàn sát thường dân vô tội này chính là tội ác chống nhân loại đê hèn nhất, không thể chối cãi của CSVN! 

Đến khi sửa đổi hiến pháp sau 1975, bằng một điều khoản mới trong hiến pháp, đảng đã nhẹ nhàng quốc hữu hóa toàn bộ ruộng đất trong cả nước! Thế thì làm sao có thể nói là đảng “đem lại ruộng đất cho dân cày” được trong quá khứ đến hiện tại và tương lai? Quả thật là người nông dân chịu bao nhiêu đau thương tang tóc, theo đảng vì lời dụ dỗ đường mật của đảng, cuối cùng chẳng được gì cả, chỉ là trắng tay! Thế mà, đến tận thời buổi 2012 này, mặc dù vẫn còn bị tiếp tục cướp đoạt nhà, đất, rất nhiều người vẫn còn chưa nhận ra hai chữ “mị dân”, “lừa dân” của bác, của đảng và nhà nước CSVN. 

Chính sự mị dân sau cuộc CCRĐ ở miền Bắc khi xưa, bằng sự “xin lỗi”, bác và đảng  đã che đậy tội ác phá hoại truyền thống tốt đẹp mấy nghìn năm của dân tộc. Đó là truyền thống hiếu hòa, thương yêu, đùm bọc lẫn nhau ở nông thôn Việt Nam được  dân tộc ta xây dựng hàng nghìn năm nhưng đã bị phá vỡ trong vòng vài năm CCRĐ. Nếu ai đã từng sống ở nông thôn Việt Nam trước “cách mạng”, trước CCRĐ đều cảm nhận cái tinh thần “đùm bọc nhau”, “lá lành đùm lá rách” còn khá đậm đà trong mối quan hệ giữa người với người. Nhưng tất cả những tinh hoa ấy đã mất hết rồi, kể từ ngày nước mắt cá sấu của bác chảy ra vài giọt, và bác cất lên tiếng nói “xin lỗi”  một cách đơn giản, sau khi bác cho dùng nhục hình giết chết hàng mấy trăm ngàn người dân vô tội. 

Với cái gọi là chính sách phân định thành phần giai cấp, đảng CSVN chia cư dân nông thôn thành cố nông, bần nông, trung nông (có ba loại, trung nông yếu, trung nông vừa, trung nông  cứng), phú nông (có hai loại, phú nông thường, phú nông ngấp nghé địa chủ - đây là “sáng kiến” của người chấp hành để khi cần thì dễ “kích” họ lên địa chủ, chứ trong chính sách thì không chia ra), địa chủ (có mấy loại: địa chủ yêu nước và kháng chiến, địa chủ thường, địa chủ cường hào ác bá, địa chủ phản  động). Sự phân chia có vẻ “khoa học” lắm, nhưng khi thực hiện thì tất cả đều do cảm tính chủ quan, do nhu cầu của “đội” (khi trên bắt phải đủ 5% địa chủ, bắt phải có ác  bá, phản động để bắn, thì cứ phải “kích” lên cho đủ số), do ý muốn chủ quan của  “ông đội” CCRĐ (nhiều khi ý muốn đó rất quái đản, thấy thái độ của đương sự có vẻ ngang bướng, hoặc có thù ghét cá nhân thì cứ “kích” lên cho bõ ghét).  

Về nguyên tắc, muốn phân định thành phần thì phải “tố khổ”, phải “tố” nhau, vạch nhau ra để “xếp” thành phần, với lối xúi giục, cưỡng ép người dân tố giác lẫn nhau rất phổ biến trong CCRĐ, mà từ đó trong nhân dân xảy ra tình trạng người dân chia rẽ nhau, thù ghét nhau, đó là mưu đồ của cộng sản: “chia để trị”. Có thể là thế hệ mới lớn lên, nhất là những người đang sống ở các nước dân chủ tiên tiến, thì khó mà tin là đã có những chuyện như thế. Khốn thay, đó lại là sự thật đắng cay đã từng xảy ra trong lịch sử nước nhà Việt Nam chúng ta dưới thời cộng sản!  

HCM có đạo đức gì để mà học? Chính HCM đã phạm trọng tội, ông ta đã phá  hoại đạo lý, luân thường của dân tộc! Trong lịch sử dân tộc Việt Nam chưa bao giờ đạo lý làm người bị đảo điên một cách quái đản như trong CCRĐ. Đó chính là cuộc CCRĐ hủy hoại văn hóa do HCM chủ trương gây ra. Để ngụy trang, che đậy tội ác của mình, cũng giống như bao lãnh tụ cộng sản khác, Hồ Chí minh đã luôn tìm cách tự đánh bóng mình, bày ra những trò sùng bái cá nhân, thần thánh hóa  lãnh tụ… Do đó, các lãnh tụ cộng sản gian ác khó có thể bị đem ra xét xử ngay trong lòng chế độ cộng sản của nước họ, mà có chăng là họ chỉ bị Tòa án quốc tế xét xử sau khi chế độ cộng sản đã bị sụp đổ mà thôi! 

HCM cũng đã mang trọng tội về việc phá hủy truyền thống tâm linh và văn hóa của dân tộc. Bằng cuộc CCRĐ, ông ta và đảng cộng sản cũng một lần nữa cố tình triệt hạ các tôn giáo và truyền thống tâm linh của dân tộc. Trước CCRĐ, các nhà thờ  Thiên chúa giáo, các tu viện, nhà cô nhi... như đã nói, đều có ruộng đất riêng. Các Chùa có ruộng hậu do tín chủ cúng cho Chùa; các Nhà Thờ họ có ruộng họ; các Đình có ruộng làng... để lo việc sửa sang, tu bổ Nhà Thờ, Chùa, Đình, cúng tế hàng  năm, lo việc từ thiện, v.v... và để nuôi sống các linh mục, tu sĩ, tăng ni và những người chuyên lo việc trông nom, thờ phụng... Nhờ thế, hoạt động tôn giáo, tâm linh, từ thiện được tiến hành bình thường không có trở ngại. 

Nhưng với chủ trương CCRĐ của HCM và đảng CSVN, tất cả các ruộng đất đó đều nhất loạt bị coi là ruộng đất phong kiến và bị trưng thu để “chia cho nông dân”. Với cái đòn độc địa đó, tất cả các Nhà Thờ, Tu viện, Nhà cô nhi, Chùa chiền, Điện thờ, Miếu, Nhà thờ họ, Đình... đều trở nên điêu đứng và tàn tạ. Riêng đối với Nhà Thờ Thiên chúa giáo, CSVN còn làm mạnh tay hơn vì cộng sản vốn chẳng ưa Thiên chúa giáo. Họ luôn giáo dục cho các đảng viên CS có lòng căm thù, luôn đề cao cảnh giác  với Thiên chúa giáo, luôn cho rằng các giáo dân của tôn giáo này là ngoại lai, là dễ  dàng và sẵn sàng tiếp tay ngoại quốc để làm phản động, làm gián điệp v.v... Do đó,  phong trào giáo dân Thiên chúa giáo ồ ạt di cư vào Nam đã diễn ra trong giai đoạn  CCRĐ này. Đó cũng là lý do đã hình thành nên rất nhiều vùng định cư cho đồng bào giáo dân, tại nhiều vùng đất miền Nam dưới thời Việt Nam Cộng Hòa với một cái tên gọi thân thương giống nhau, là “Bà con đồng bào Bắc 54” mà hầu hết chỉ là những giáo dân Thiên chúa giáo .  

Trong cuộc CCRĐ này, người của đảng ngang nhiên dùng các cơ sở thờ cúng vào  việc họp hành, đóng quân, làm hội trường, làm kho hợp tác xã mua bán, kho hợp tác xã sản xuất, chuồng nhốt trâu, bò v.v...Khi cái thiện bị dìm xuống mà cái ác được cổ  võ, thì chẳng có gì đáng ngạc nhiên là đạo đức bị suy đồi, băng hoại dưới chế độ  của những người cộng sản do Hồ Chí Minh lập ra.  

Trước khi đàn áp các trí thức trong vụ Nhân văn - Giai phẩm (NV-GP diễn ra sau CCRĐ), cuộc CCRĐ cũng đã tiêu diệt một phần lớn nhân tài, trí thức rồi. Song song đó, một số lớn công trình văn hóa cũng bị hủy hoại. Tội ác của HCM quả thật chẳng nhỏ chút nào! Như vậy thì làm sao ai dám gọi là “nhà đạo  đức”, là “danh nhân văn hóa” cho được? Cộng sản Việt Nam còn dám tuyên  truyền tốt cho Hồ Chí Minh ư?  

Theo lời kể của ông Nguyễn Minh Cần, nguyên phó chủ tịch Ủy ban thành phố Hà  Nội thì: “Trong cuộc CCRĐ của ông Hồ, cụ Nguyễn Mai (1876-1954) là hậu duệ đời thứ 14 của dòng họ Nguyễn Tiên Điền, gọi thi hào Nguyễn Du (1765-1820) đời thứ  11 là bác, đầu năm 1954, lúc 78 tuổi, cụ bị đội và đoàn CCRĐ quy là địa chủ (vì có vài mẫu ruộng cho thuê để sống) lại bị “kích” lên thành phần phong kiến cường hào (vì cụ từng đỗ cử nhân khoa Canh Tý (1900) lúc 24 tuổi, lại đỗ Tiến sĩ khoa Giáp  Thìn (1904) lúc 28 tuổi), mà thật ra cụ không hề nhận chức tước, phẩm hàm gì, chỉ cam phận sống thanh nhàn ẩn dật. Cụ bị đấu tố ba đêm liền, bị kết án 15 năm tù khổ sai, bị giam ở trại Đâng, tỉnh Hà Tĩnh, là nơi nước rất độc, nên ngay mùa Thu năm ấy, cụ bị phù thũng chết trong trại tù, bị vùi xác ở ven rừng. 

Cụ Nghè Nguyễn Mai từ trần trong uất hận là nỗi đau lớn, nhưng nỗi đau còn lớn hơn nữa cho dân tộc là do cụ bị quy oan như vậy, mà đội CCRĐ đã phá hủy nhiều đền đài, bia, miếu thờ của các danh nhân họ Nguyễn Tiên Điền và nghiêm trọng hơn nữa đã đốt cháy ngôi nhà năm gian chứa đầy thư tịch quý giá của dòng họ Nguyễn Tiên Điền, trong đó có di cảo của đại thi hào Nguyễn Du. Một sự mất mát lớn lao về văn hóa không có gì bù lại được! (Xem sách “Bể Dâu Trong Dòng Họ Nguyễn Du” của Đặng Cao Ruyện, NXB Miền Đông Hoa Kỳ, 2002, tr. 200, 201). 

Chưa hết, trong cuộc hội nghị cán bộ do TƯ Đảng triệu tập sau khi có nghị quyết sửa sai trong CCRĐ hồi tháng 09/1956, ông Cù Huy Cận, lúc đó là thứ trưởng Bộ Văn hóa, nói ở cuộc họp tổ là: “Tấm bia đá của vua Lê Lợi đã bị đội CCRĐ phá hủy...”. Đây là một tội ác tày trời đối với lịch sử, đối với tổ tiên cha ông mà như  thế, đời đời Hồ Chí Minh cũng không thể nào là người có đạo đức, là “danh  nhân văn hóa” cho được khi chính ông ta bày ra cái cuộc CCRĐ bất nhân, bất nghĩa, phản dân chủ, hủy diệt văn hóa này!

 

Cũng theo lời kể của ông Nguyễn Minh Cần: “Trong cao điểm CCRĐ, thiếu tướng ương Thừa Vũ, chủ tịch ủy ban quân quản thành phố Hà Nội, về quê thăm nhà ở  làng Tó (Thanh Oai) thuộc ngoại thành Hà Nội. Ông bị đội CCRĐ bắt giữ cùng với  anh cần vụ-lính hầu và xe ô tô, van xin gì cũng không được thả ra. Về sau do một sự tình cờ, chính quyền Hà Nội biết được mới cho người đến nhận ông về. Đại thần của chế độ mà còn bị tập đoàn CCRĐ lộng quyền, hành hạ như thế huống hồ dân đen?”.  

Với chính sách hà khắc của đảng CSVN do HCM cầm đầu, ngay  sau hiệp định Geneva 1954, đã có hơn 1,5 triệu người từ miền Bắc di cư vào Nam tìm tự do. Như vậy, cần phải lên án Hồ Chí Minh và chế độ tàn bạo phi nhân do ông tạo lập chứ làm gì có chuyện ông ta là “danh nhân văn hóa thế giới”? 

Cuộc CCRĐ đầy tội lỗi và sai lầm. Thế mà, HCM còn cho rằng: đây là một thắng lợi “?”. Rồi cảm thấy có điều gì đó không ổn (bởi vì có lần HCM đã đóng kịch khóc rơi nước mắt cá sấu trước mọi người để “xin lỗi đồng bào” về CCRĐ), cho nên, ông ngụy biện, chống chế cho rằng “có sự thiếu sót của đảng trong CCRĐ “?”. Trong một lá thư, đề ngày 18/08/1956, gởi đến “đồng bào nông thôn” nhân dịp CCRĐ căn bản đã hoàn thành, Hồ Chí Minh xác định CCRĐ là “một thắng lợi vô cùng to lớn” và “có  thắng lợi này là nhờ Đảng và Chính phủ ta có chính sách đúng đắn”. Ông viết tiếp: “Cải cách ruộng đất là một cuộc đấu tranh giai cấp chống phong kiến, một cuộc cách mạng long trời lở đất, quyết liệt gay go. Lại vì kẻ địch phá hoại điên cuồng; vì một số cán bộ ta chưa nắm vững chính sách, chưa thực sự đi đúng đường lối về quần chúng; vì sự lãnh đạo của Trung ương Đảng và Chính phủ có chỗ thiếu cụ thể, thiếu kiểm tra đôn đốc, cho nên khi CCRĐ đã xảy ra những khuyết điểm sai lầm” (HồChí Minh Toàn tập, tập 7, trang 507) “?”. 

Khi thảm kịch Cải cách Ruộng đất (1949-1956) theo chủ trương của bác và đảng, một đảng độc tài do HCM đẻ ra và cầm đầu, vừa hạ màn, với hậu quả đã để lại cả một vùng nông thôn tan hoang đầy tang thương trên miền Bắc vì trận bão diệt chủng  rợn người, với hơn 200 ngàn nạn nhân, thì cũng bắt đầu một tấn thảm kịch khác có  tên là “Vụ án Nhân Văn - Giai Phẩm”, vụ án này đã bắt đầu ghi thêm chiến công gây tội ác của Hồ Chí Minh và CSVN! Lần này, nạn nhân phần lớn là những trí thức, văn nghệ sĩ có khát vọng tự do dân chủ và đầu óc suy tư độc lập.  

Cả thảm kịch trước cũng như thảm kịch sau đều do các lãnh tụ đảng cộng sản Việt Nam đạo diễn, mà cầm đầu là Hồ Chí Minh và đều khủng khiếp chưa từng thấy trong lịch sử mấy ngàn năm của đất nước ta. Đó là trận đòn chí mạng mà bác và đảng  đánh vào trào lưu Nhân Văn - Giai Phẩm không chỉ gây đau thương cho hàng trăm, hàng ngàn con người, mà nghiêm trọng nhất là nó đã đánh gục hầu như cả một thế  hệ trí thức, văn nghệ sĩ miền Bắc, dìm họ trong nỗi khiếp sợ triền miên, đè bẹp trí sáng tạo của họ, tạo nên một nếp nghĩ theo công thức chết cứng của đảng, tạo nên một thứ “văn nghệ minh họa” (hay còn gọi là “văn nghệ ba phải ”) tồi dở. Hồ Chí  Minh và đảng CS đã làm cho cả nền văn học, nghệ thuật, văn hoá, giáo dục bị lụn bại, méo mó, què quặt, thụt lùi hàng mấy chục năm trời so với trước. Suy cho cùng, đây chính là tội ác hủy diệt văn hóa lớn nhất của bác và đảng đối với dân tộc Việt Nam chúng ta! 

Hầu hết các văn nghệ sĩ tham gia phong trào Nhân Văn - Giai Phẩm đều bị đưa đi học tập cải tạo, bị bắt bớ, giết hại, tù đày, quản thúc trong nhiều năm sau khi mãn tù, như cựu tù nhân Nguyễn Hữu Đang trong phần trại giam Cổng Trời đã nói đến.

 

Hồ Chí Minh đã chủ trương đàn áp tôn giáo, bày ra CCRĐ và đàn áp các trí thức trong vụ án Nhân văn - Giai phẩm. “Đàn áp tôn giáo thì chỉ có loài ma quỷ mới làm như thế, cho nên, HCM và đảng CSVN chẳng khác nào là loài ma quỷ”! CCRD là vi  phạm nhân quyền, diệt chủng, phạm tội ác chống nhân loại. Vụ án Nhân văn - Giai  phẩm là hủy diệt văn hóa, là tiêu diệt trí thức... HCM đã gây ra tội ác như vậy thì còn đâu nữa lý do để mà đưa tên vào UNESCO để mà ứng cử chức danh “danh nhân  văn hóa thế giới”, thế mà CSVN vẫn còn xem thường nhân loại, định lường gạt, lừa đảo cả thế giới hay sao đây mà dám gọi HCM là “danh nhân văn hóa”? 

Có thể tóm tắt tiến trình gây tội ác của HCM và đảng CSVN do chính ông ta lập ra như sau:  

1/ Đầu tiên là tội ác đàn áp tôn giáo (1945-1949).  

2/ Thứ hai là cải cách ruộng đất (1949-1956), nó đã giết hàng chục vạn người vô tội.  

3/ Thứ 3 là cuộc chỉnh đốn Nhân văn - Giai phẩm, hay nói cách khác đây là phát súng nhắm vào trí thức, văn nghệ sĩ (1955-1958).  

4/ Thứ tư là phát súng chiến tranh (1960-1975).  

5/ Thứ năm, những chính sách sai lầm sau 1975: các trại giam cải tạo tập trung mọc ra như nấm, thực hiện cải tạo công thương nghiệp… mà đảng CSVN gọi là làm theo “tư tưởng và đạo đức Hồ Chí Minh”. Các trại giam cải tạo thì tiếp tục tra tấn, đày ải, giết người hàng loạt. Việc cải tạo công thương nghiệp, đánh đổ tư sản thì không phải chỉ xảy ra một lần mà đảng đã làm đến hai lần theo tư tưởng bác, trước đây đã có một lần ở miền Bắc. Cải tạo công thương nghiệp, xóa bỏ giai cấp tư sản, đảng làm như thế làm chi đến hai lần, để rồi sau năm 1986, đảng lại mời gọi đầu tư trở lại, lại làm lại từ đầu, một cách phí công, phí của, phí thời gian, đưa cả xã hội Việt Nam đi thụt lùi? 

Với cuộc chiến tranh Việt Nam, hàng triệu người Việt bị chết, bị  giết, hàng triệu người còn sống thì mang trên mình thương tích và di chứng chiến tranh, hàng triệu người dân Nam Việt hoảng sợ xuống thuyền, hoặc băng rừng bỏ trốn, biết bao sinh mạng đã đắm chìm vĩnh viễn xuống đại dương? Hoặc vùi thây chốn rừng sâu? Bao phụ nữ, người mẹ Việt Nam đã bị hải tặc làm nhục trên đường lánh nạn, bao người sống sót đã phải khổ sở nơi đất khách quê người? Cho nên, chiến tranh đã đi qua hơn 35 năm mà nỗi ám ảnh kinh hoàng vẫn còn đó. Để lại một vết thương lớn trong tâm hồn người Việt.  

Với khẩu hiệu “tất cả vì miền Nam thân yêu”, biến toàn bộ miền Bắc thành một “hậu phương lớn” phục vụ cho chiến tranh, nền kinh tế vốn đã yếu càng trở nên kiệt quệ.  Đạo lý, nhân tâm, vốn đã bị giày xéo nay lại rơi vào nỗi sợ hãi trước gang tấc của số  phận. Sau chiến tranh, sau 1975, nhân dân lại thêm một chặng dài đắm chìm trong  cảnh lầm than. Những năm 80 của thế kỷ 20, chính sách phản động “cấm chợ ngăn  sông” gần như đã đưa nhân dân về thời kỳ đồ đá, “thế giới hoang dã của động vật”!  Nhân dân nuôi được con heo, con gà, con vịt cũng không được ăn, không được bán.  đóng gạch làm nhà cũng bị phá… Trong khi thế giới đã đạt đến những thành tựu của thời đại internet, kỷ nguyên tri thức thì người Việt vẫn chui ra chui vào ngôi nhà mái lá, rơm rạ, tường đất lụp xụp, với bốn bề bị bưng bít thông tin… 

 

Làm theo tư tưởng HCM có hiệu quả là như thế ư? Cái thiếu hiểu biết, kém văn hóa  đến mức đần độn của đảng và chính quyền đã làm nên sự mất ổn định liên tục của  nền kinh tế và dẫn đến kết quả là nạn lạm phát phi mã (1985) có lúc giá cả tăng hơn 700% (bẩy trăm phần trăm) tạo nên một cuộc khủng hoảng kinh tế trầm trọng. Thông tin bị bưng bít tối đa bằng tất cả mọi thủ đoạn mà cơ quan an ninh CSVN có thể tận dụng được. Người dân gần như không biết gì trên thế giới. Quan chức thì quan liêu, nhũng nhiễu dân lành. Luật pháp bị xem nhẹ quá mức đã tạo nên một tình trạng hỗn loạn xã hội mà hậu quả thì thật khôn lường. Thử hỏi có đảng nào, chính quyền nào phản động hơn đảng và chính quyền cộng sản Việt Nam? 

Cùng với những chia rẽ sâu sắc vốn có của chiến tranh, rất nhiều các sĩ quan quân  đội và viên chức thuộc chế độ Việt Nam Cộng hòa bị bắt đi học tập cải tạo, mà thực  chất nhiều người đã bị giam giữ không án hơn 10 năm, càng làm cho địa ngục trần  gian càng lộ rõ nguyên hình của nó dưới thời cộng sản. Thêm vào đó, nền kinh tế  Việt Nam còn chịu ảnh hưởng nặng nề của cuộc xung đột kéo dài tại biên giới với  Trung Quốc và do việc đóng quân quá lâu (hơn 10 năm) ở Campuchia sau chiến  tranh biên giới Tây Nam, những sai lầm về đường lối kinh tế, những sai lầm trong chính trị trong việc dùng “ánh sáng chủ thuyết cộng sản” phản dân chủ, phản khoa  học… đã tạo nên làn sóng khổng lồ nhiều người bỏ nước ra đi như đã nói trên, đất nước đã rơi vào cảnh bần cùng hóa, băng hoại hóa tất cả!  

Khi hệ thống CNXH sụp đổ, khi quỹ tiền tệ thế giới và ngân hàng thế giới tiếp tục gây sức ép, hệ thống chính trị khủng hoảng, nhân dân quá nghèo khổ, đã buộc CSVN phải mở cửa  để sửa chữa những sai lầm. Nhưng tiếc thay, đã nhiều năm mở cửa, “đổi mới” CSVN vẫn bộc lộ bản chất phản động của họ. Về mặt quản lý, cộng sản đã giấu giếm nhân dân, tự ý cắt hàng trăm km2 đất biên giới và một phần lớn vùng biển Vịnh Bắc Bộ cho Trung Quốc (năm 1999 và năm 2000), gây nên một sự  sửng sốt lớn trong lòng những người yêu nước. Đó là chưa nói đến việc CSVN hèn hạ dâng mất hai quần đảo chiếnlược,  giàu  có về hải khoáng sản Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Cộng… 

Về mặt đường lối, chính sách đối nội, có quá nhiều những bất cập. Thành phần kinh tế tư nhân vẫn chưa thoát ra được hành lang pháp lý chật hẹp và sự phân biệt đối  xử, chưa có dân chủ trong kinh tế. Người dân chưa có tự do tư tưởng, tự do ngôn  luận, tự do báo chí, chưa có dân chủ trong văn hóa, và không có tự do chính trị tức  là chưa có dân chủ trong chính trị,… Đó là những quyền thiêng liêng của con người, là động lực quan trọng đưa dân tộc đến với tiến bộ văn minh, nhưng dân tộc Việt  Nam chưa hề có được. Những người đấu tranh dân chủ đã không mệt mỏi, dũng cảm đòi giới cầm quyền phải trả lại những quyền lợi cơ bản ấy cho nhân dân. Vậy mà chính quyền cộng sản đã đàn áp, cô lập và tuyên truyền những người đấu tranh vì sự tiến bộ, vì tự do dân chủ là phản động, trong khi chính họ, Hồ Chí Minh và đảng cộng sản mới chính là những thành phần phản động nguy hiểm nhất của dân  tộc Việt Nam!  

Bản chất của cộng sản là phản động, là lừa dối và thậm chí lừa dối ngay từ lúc còn là “trứng nước”! Thật vậy, trước khi xuống tàu buôn Pháp làm phụ bếp vào ngày 05 tháng 06 năm 1911, thì chàng trai 21 tuổi Nguyễn Tất Thành, với tên mới là Văn Ba  mà CSVN bây giờ gọi là Hồ Chí Minh, ông ta không hề có ý định ra đi tìm đường cứu nước. Nếu anh Ba đã có sẵn mục đích rõ ràng như sau này anh kể lại: ‘‘…Tôi muốn  được đi ra ngoài, xem nước Pháp và các nước khác. Sau khi xem xét họ làm như  thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào ta…’’ thì thật đáng quý biết bao. Tuy nhiên, nó lại mâu thuẫn với một sự kiện do những tài liệu ở nước ngoài viết rằng: Ngày 15 tháng  09 / 1911, khi vừa đặt chân đến cảng Mác-Xây (Marseille) – Pháp, tức là chỉ hơn 3  tháng sau khi rời bến Nhà Rồng - Sài Gòn, thì anh Thành-HCM đã vội vàng viết đơn xin được vào học nội trú Trường Thuộc Địa (Ecole Coloniale).  

Nhưng bác đã bị nhà trường từ chối với lý do: Đơn không được xét vì bác là đối tượng di chuyển tự túc đến Pháp chứ không phải được tuyển chọn từ xứ Đông Dương sang, theo như quyết định ban hành ngày 30/04/1910 của Bộ Thuộc Địa Pháp. Lá đơn xin làm tay sai ác ôn tương lai này của bác do ông Nguyễn Thế Anh sưu tầm được trong văn khố Pháp ngày 02 tháng 02/1983, có sao chụp lại cẩn thận. Cũng cần lưu ý rằng, theo những tài liệu trong nước thì: Trường Thuộc Địa là nơi chuyên đào tạo ra những tên Việt gian phản động, tay sai đắc lực của thực dân Pháp lúc bấy giờ. Nếu năm 1911 Trường Thuộc Địa chọn bác Thành, thì 9 năm sau, bác có còn chọn con đường của Lênin cho cách mạng Việt Nam nữa hay thôi? Rõ ràng khi ấy, bác chỉ sẽ là một trong những tên Việt gian ác ôn, phản động, tay sai của thực dân Pháp mà thôi nếu được đào tạo từ “cái lò ấy” mà ra! Thế thì bác đã có ý định làm Việt gian phản động chứ nào có, chứ làm gì có tìm đường cứu nước như  bác đã từng ba hoa khoác lác, như CSVN hằng rêu rao!? 

Rồi đến cha của bác cũng được CSVN đánh bóng nhằm mục đích tuyên truyền tô hồng cho việc thần thánh hóa lãnh tụ: Năm 1910, cha ông Thành là ông Nguyễn Sinh Huy, tức cụ phó bảng Nguyễn Sinh Sắc (1863 – 1929), tri huyện Bình Khê -  Bình Định, trong một cơn say rượu đã sai người đánh chết anh nông dân tên là Tạ Đức Quang bằng roi và gậy. Sở mật thám Pháp sau khi điều tra xong đã buộc ông vào tội ngộ sát khi đang say rượu. Hội Đồng Nhiếp Chánh tại Huế sau đó đã ra quyết  định kỷ luật: hạ bốn bậc trong ngạch quan lại thời bấy giờ, bị triệu hồi về Huế, rồi cuối cùng là ông bị sa thải luôn. Bà Thanh con gái ông cũng kể: ông là người nghiện rượu nặng, hồi nhỏ bà vẫn thường bị bố đánh rất đau bằng roi, có khi lại còn quẳng  cả roi đi để đánh bằng tay. Trong khi đó, một số tài liệu lịch sử trong nước thì viết rằng: “Cụ Sắc nhà nghèo, ham học, thông minh, thi đậu phó bảng,‘‘bị ép’’ ra làm quan. Có lần cụ nói: “Quan trường là chốn nô lệ trong những người nô lệ, lại càng nô  lệ hơn.”. Cụ thường làm những việc trái ý bọn quan lại, nên bị cách chức.” (“?”). 

Như vậy là nguồn tài liệu của CSVN, chỉ biết tô hồng cho bác và cho chính thân nhân gia đình của bác, đã đưa ra những điểm mâu thuẫn với sự thật, nhất là lý do ra  khỏi chốn quan trường của ông Sắc - cha của bác Hồ, để rồi tìm cách gần như bắt mọi người phải sùng bái lãnh tụ quá lố nhằm mục đích chính trị có lợi cho CSVN. Việc thần thánh hóa lãnh tụ, thần thánh hóa những vị lãnh đạo là những ông cầm  đầu chế độ cộng sản đều có lý do, có ý đồ đen tối của CSVN. Đó là họ đi trước một bước để nhằm ngụy biện, che đậy, chống đỡ cho những sai lầm, phạm pháp của họ một khi nếu có xảy ra, kể cả phạm các tội ác tày trời nhất và kể cả phạm tội bởi cố ý.  Bởi vì nắm quyền trong một chế độ độc tài, độc đảng, các lãnh tụ, lãnh đạo cao cấp  của đảng rất tự tung tự tác, thường xuyên làm những chuyện rất bậy bạ, phạm pháp. Do đó, biết trước như vậy, họ cố tình thần thánh hóa lãnh tụ, tăng cường nạn sùng bái cá nhân các lãnh đạo một cách tối đa nếu có thể được để đề phòng bất trắc.

 

Những lãnh tụ, lãnh đạo cộng sản một khi mà phạm pháp thì không ai dám đem ra xét xử, không ai dám nói tới, bởi vì họ đã được thần thánh hóa trước hết rồi “?”! Nếu như có ai đó mà dám nói tới tội ác của lãnh tụ, của lãnh đạo cao cấp thì sẽ bị cho là phạm thượng, là phạm điều 258 “?”. Do đó, trong các chế độ cộng sản độc tài phản dân chủ, mọi người phải thầm hiểu và tự hiểu rằng: luật pháp không có quyền xét xử  lãnh tụ cũng như các lãnh đạo cao cấp của đảng “?”! Điển hình như việc CSVN không bao giờ đem thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ra xét xử mặc dù có hai đơn kiện của Tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ cho rằng thủ tướng Dũng có ít nhất hai lần phạm pháp. Rõ rang, sự thần thánh hóa và nạn sùng bái cá nhân lãnh tụ, lãnh đạo cao cấp tràn lan trong các chế độ cộng sản là có lý do của nó chứ chẳng phải để chơi!  

Cũng qua những sách báo ở trong nước kể lại thì: khi từ chiến khu Việt Bắc trở về Hà Nội sau chiến thắng Điện Biên Phủ (tháng 10/1954), bác đi thăm rất nhiều vùng quê trên miền Bắc, đi ra nước ngoài, v.v… Nhưng riêng quê ông thì mãi tới ngày 16  tháng 06/1957, tức là phải gần 3 năm sau, ông mới về thăm quê lần đầu. Có một cái gì đó không ổn trong tinh thần vì nước quên… quê của ông Hồ. Phải chăng do ông ngại cán bộ, chiến sĩ và nhân dân biết tấn bi kịch trên của gia đình mình? Hay còn nhiều bí ẩn không hay gì khác nữa? Cũng nhằm thần tượng hóa lãnh tụ, tại Việt  Nam, dưới sự tuyên truyền của Đảng Cộng sản, hình ảnh Hồ Chí Minh phổ biến khắp nơi như là một "tấm gương sáng ngời về đạo đức", một "nhân cách cao thượng", được coi là một "thần tượng". 

Những tác phẩm nói về Hồ Chí Minh chỉ ca ngợi những đức tính tốt đẹp. Ngoài những phát biểu, hình vẽ, hình chụp của HCM, những câu nói và khẩu hiệu tuyên truyền khác có thể đọc thấy ở mọi nơi đó là: “Đời đời nhớ ơn Bác Hồ vĩ đại; Sống, chiến đấu, lao động và học tập theo tấm gương của Chủ tịch Hồ Chí Minh; Chủ tịch  Hồ Chí Minh vĩ đại sống mãi trong sự nghiệp chúng ta v.v...”. Trẻ em Việt Nam được giáo dục một cách có hệ thống về lòng kính yêu Hồ Chí Minh từ lứa tuổi mầm non.  Tại các bậc họ phổ  thông, học sinh ngoan và giỏi được tặng danh hiệu "Cháu  ngoan bác Hồ". Trong các trường tiểu học, 5 lời dạy của Hồ như trên đã nói, được hầu hết học sinh học thuộc lòng: “Yêu tổ quốc, yêu đồng bào; Học tập tốt, lao động  tốt; Đoàn kết tốt, kỷ luật tốt; Giữ gìn vệ sinh thật tốt; Khiêm tốn, thật thà, dũng cảm”. 

Tuy nhiên, trong 05 điều dạy này, không ai thấy chữ “đạo đức tốt” đâu cả. Có lẽ, bác quên hay do xuất phát từ bản chất vô đạo đức mà bác không hề dạy: kính trọng ông  bà, cha mẹ, kính trọng thầy, cô giáo và tu rèn đạo đức “?”. Phải chăng vì thế mà có nhiều học sinh ngày nay đã rất vô lễ với ông bà, cha mẹ, thầy cô, không biết hiếu  thảo, tôn sư trọng đạo là gì? Bác đã chỉ chú tâm rao dạy, tuyên truyền “phong cách  cách mạng cộng sản theo kiểu Mác-Lênin ”, côn đồ mà quên mất những đạo đức cơ  bản nhất của một người học sinh? Chính vì vậy mà đến thời kỳ đổi mới sau 1990, ở miền Nam, các trường học bắt đầu dạy lại, chấn chỉnh lại trong học sinh bằng các  khẩu hiệu: “Tôn sư trọng đạo” và “Tiên học lễ, hậu học văn...”, nhưng chẳng biết có còn chấn chỉnh kịp nữa hay không, vì sau một thời gian quá dài bác và đảng đã làm băng hoại hết đạo đức của cả một thế hệ trẻ, của cả một dân tộc.  

Nguy hại ở chỗ, bác và đảng đã sử dụng trường học làm nơi để gây ra sự băng hoại đạo đức con người! Một con người được đào tạo dưới mái trường cộng sản được họ đánh giá có đạo đức tốt là con người đó chỉ biết sùng bái bác, sùng bái đảng cộng sản là đủ, ngoài ra không cần đạo đức gì nữa hết.  

(Còn tiếp)

Đặng Cứu Quốc
Trich  pdf Luật rừng trong rừng luật (hiệu đính) (4.03 MB)