Cha danh 73. Đi tìm tung tích cha Hồi 3 (Phạm Ngọc Lân)

Lượt xem: 195

“…tôi có thể tin chắc lời mẹ kể là đúng: trên đảo năm 1943 có ba sĩ quan, một Đại Úy, một Trung Úy và một Thiếu Úy, mà cha tôi là Trung Úy. Tôi cũng hiểu thêm tại sao không tìm ra tài liệu nào về đảo Tagne trước năm 1945 : những tài liệu đó đã bị hủy khi có vụ đảo chính Nhật…”

Nhắc lại năm 1980 khi Long cùng vợ con qua Pháp, chàng có viết thư cho Cơ quan lịch sử quân đội của Bộ Quốc Phòng để tìm tung tích cha mình có mặt tại Đông Dương năm 1943 trên hòn đảo Bình Ba  ngoài vịnh Cam Ranh. Nhưng được trả lời là các dữ kiện cung cấp không đủ để tìm ra hồ sơ trong văn  khố. 

Bẵng đi gần ba chục năm, khi đã về hưu, có thời giờ và hoàn cảnh, chàng bắt đầu tự mình tìm kiếm hồ sơ cha trong các văn khố của quân đội Pháp. Đa số tài liệu tập trung trong lâu đài Vincennes phía đông Paris. Tìm trong văn khố của Lục Quân, sau đó của Hải Quân, nhưng chưa có gì là cụ thể. Đó là cuối năm  2006, việc này được kể trong hai đoạn 14 và 15 của cuốn sách này. 

phamngoclan44
Ngôi nhà trung tâm của lâu đài Vincennes với cái « donjon » cao ngất ở giữa. Vincennes nằm sát thành phố Paris về phía  đông. Trong một khuôn viên rộng lớn, lâu đài (với nhiều ngôi nhà khác không có trong hình) dùng làm văn khố chính của quân đội Pháp. Hình chụp năm 2008. 

Trong suốt thời gian tìm kiếm này, chàng ghi tất cả vào vở, vào máy vi tính, vào máy hình, để có thể  tra cứu ngay khi cần thiết. Những dòng sau đây được trích ra từ những ghi chép đó. 

(Trích bút ký của Long) 

Tháng 10-2007 

Trở lại phòng nghiên cứu tài liệu của văn khố Hải Quân Pháp trong lâu đài Vincennes. Bà trưởng phòng hỏi có tìm được tung tích cha mình chưa. Lần trước bà đã giúp tìm ra một sĩ quan hải quân cùng  tên với cha, và có phục vụ tại Đông Dương trong thời gian sau khi thế chiến thứ hai kết thúc. Ông này mới mất, nhưng rất may tìm ra điện thoại của người con gái hiện sống ở Paris. Tôi gọi ngay hỏi thăm nhưng người này không biết là cha mình có mặt ở Việt Nam năm 1943 hay không, nhưng cô ta nghĩ là  không. 

Coi như hướng tìm đầu tiên này đi đến bế tắc. Thật ra họ của cha rất thông dụng bên Pháp, rất nhiều người thế hệ đó trùng cả tên lẫn họ, cũng như ở xứ mình tìm một người tên Nguyễn Văn Long vậy. 

Nhưng đã phóng lao phải theo lao, đâu dễ bỏ cuộc. Càng bế tắc càng cố tìm. Tuy sống gần Aix-en-Provence miền nam nước Pháp nhưng mỗi lần có dịp lên Paris, tôi lại dành nhiều thời giờ làm công việc « mò kim đáy biển » này. 

Lần này bà trưởng phòng nói đã tìm hết cách giúp trong khả năng của bà, và giới thiệu một chuyên viên về văn khố. Những người này là những nhà sử học của quân đội, luân phiên nhau đến phòng nghiên cứu tài liệu để hướng dẫn những người đến đây tìm đúng hồ sơ thích hợp. Vì vậy, mỗi lần trở lại đây,  thường là gặp một người khác. Lại phải trình bày mình muốn gì, nhưng cũng có cái hay là mỗi người có sáng kiến khác nhau, nên sẽ chỉ ra những hướng đi khác nhau. 

Nhờ vậy mà biết được rất nhiều dữ kiện về Hải Quân Pháp đồn trú ở Đông Dương trong thời đệ nhị thế  chiến. Biết được tên họ của nhiều sĩ quan có mặt tại Việt Nam thời đó. Không thấy Jean Martin. Nhưng  chưa tìm ra không có nghĩa là không có. Một khi mắt chưa nhìn thấy một danh sách chính thức tất cả các  sĩ quan Hải Quân đóng tại Đông Dương trong thời kỳ này thì vẫn còn hy vọng. 

Một hôm bà trưởng phòng hỏi « Có chắc cha ông là sĩ quan không ? » Câu hỏi cắc cớ, mẹ mình nói là Trung Úy thì mình biết vậy, còn không có giấy tờ gì thì sao chắc 100% được ? «Sở dĩ tôi hỏi vậy vì nếu ông cụ là hạ sĩ quan thì hồ sơ không giữ ở văn khố Vincennes này, mà có thể ở Toulon. Ngày xưa có  nhiều người không phải sĩ quan mà nói là sĩ quan cho nó oai! » Mình không nghĩ cha mình lừa mẹ mình như thế, nhưng cũng hỏi « Nếu vậy phải làm sao ? » Bà trưởng phòng cho số điện thoại của văn khố Quân Đội Pháp ở Toulon. Bà nói văn khố quân đội ở Vincennes là chính, nhưng cũng có nhiều chỗ khác  nhỏ hơn trên nước Pháp. 

Tôi sống trong một tỉnh rất nhỏ trên đường nối liền hai thành phố lớn miền nam nước Pháp là Aix-en- Provence và Marseille. Toulon chỉ cách Marseille chưa tới 100 cây số, lái xe khoảng hơn một tiếng, nếu cần tôi chạy đến đó dễ dàng. Nhưng khi điện thoại, họ nói văn khố tại đấy không có phòng nghiên cứu tài liệu cho khách đến ngồi tìm trực tiếp như ở Vincennes, tôi phải viết thư gửi bưu điện nói rõ mình muốn gì, họ sẽ trả lời cũng bằng thư. Thời đại Internet nhưng họ không dùng – hay chưa dùng – điện thư! 

Rồi cuối cùng họ cũng trả lời nhanh chóng: tôi phải chứng minh liên hệ của tôi với người quân nhân  Jean Martin, họ mới tìm trong văn khố xem có hồ sơ không. Đành chịu ! Làm sao chứng minh ? Thêm một bế tắc, nhưng chuyện nhỏ… Mình phải thử con đường này cho chắc ăn là không bỏ sót một con  đường nào, trong thâm tâm vẫn tin cha mình là Trung Úy như lời mẹ kể. 

Trở lại Vincennes, gặp một chuyên viên văn khố khác, người này bóp trán suy nghĩ rồi chỉ ra một con  đường khó đi hơn. «Ông thử tìm trong tài liệu của Tổng Tham Mưu, phòng nhân viên, có thể có tài liệu  nào đó đề cập đến cha ông chăng.» 

Thủ tục cũng như những lần khác. Người đó tìm ra một cuốn sổ trong vô số cuốn sổ chiếm hết các kệ  sách quanh phòng. Đó là cuốn sổ liệt kê các hộp tài liệu của Tổng Tham Mưu, phải xem trong đó hộp tài  liệu nào có thể giúp mình tìm ra một cái gì đó. Ghi mã số của hộp này vào một tờ giấy, để tờ giấy vào một  cái ngăn gần bàn của bà trưởng phòng. Cứ nửa giờ có một người lấy các tờ giấy « đặt hàng » đó đi đến  kho văn khố ở đâu không biết, độ mươi mười lăm phút trở lại trao các hộp đó cho những người đặt hàng. Thường mỗi hộp chứa nhiều hồ sơ, mở từng hồ sơ ra, và đọc từng trang giấy mỏng đánh máy hay viết tay  có từ gần 70 năm trước. 

Có các quyết định thăng chức, các giấy cho đi phép, giấy thưởng, giấy phạt, với tên những người dần  dần mình nghe quen. Một hôm có một tài liệu về một vụ hỏa hoạn tháng 7 năm 1942 tại Đà Lạt. Đó là  giấy khen của Toàn Quyền Đông Dương thời đó là Tướng Hải Quân Decoux, vinh danh những quân nhân  Hải Quân đã can đảm, hết mình chữa lửa trong trận hỏa hoạn quan trọng này. Trong danh sách khen  thưởng có một Martin. Lại một cảm xúc mạnh nhưng chóng qua: thay vì ghi cấp bậc như những người khác, ông Martin này được ghi là « nhân viên hành chánh ». 

Sau đó cũng tìm ra trong vài tài liệu khác người nhân viên hành chánh Martin này, và có một chi tiết quan trọng là năm 1943, ông này làm việc tại Sài Gòn, không phải ngoài đảo Bình Ba. Vậy là rõ ràng, không phải cha mình! 

Càng ngày càng thêm kinh nghiệm, đọc các trang giấy nhanh hơn, biết chỗ nào chỉ cần lướt qua, chỗ nào cần đọc kỹ. Phải chăng đúng là mò kim đáy biển? Không biết, chỉ biết là cần nhiều thời giờ và nhất  là kiên nhẫn. Thời giờ mình có vì đã về hưu, kiên nhẫn mình đang tự rèn luyện nhờ công việc này. 

*

Một hôm, một chuyên viên văn khố khác đưa ra một đề nghị có vẻ xa vời hơn. Từ trước đến giờ tìm  tung tích một người có mặt ở Đông Dương năm 1943. « Ông tìm khá nhiều tài liệu rồi mà vẫn chưa ra tung tích của cha ông, tôi nghĩ tới một con đường khác. Ông thử tìm tài liệu về biến cố quân Nhật cướp chính quyền ở Đông Dương vào tháng 3 năm 1945 xem sao. Đây là một biến cố rất quan trọng, có rất nhiều tài liệu về biến cố này, có thể có tên cha ông trong số các tài liệu này chăng ? » 

Tiếng Việt mình quen gọi biến cố này là « đảo chính Nhật », thật ra không phải một cuộc đảo chính  theo nghĩa một phe phái chính trị dùng võ lực cướp chính quyền của một phe phái khác trong một nước.  Trong tiếng Pháp, đảo chính gọi là «coup d’Etat », còn biến cố này họ gọi là « coup de force ». Biến cố  này giống như một cuộc đảo chính vì phe chủ xướng hành động trong vòng bí mật, qua một đêm quân Nhật đã đánh quân Pháp và làm chủ toàn cõi Đông Dương. Nhưng không phải là một cuộc đảo chính vì quân Nhật và chính quyền Pháp không phải là hai phe phái chính trị trong cùng một quốc gia đánh nhau  để giành quyền lực. Nhật là một thế lực ngoại bang có quân được phép đồn trú tại Đông Dương theo một thỏa hiệp giữa hai chính phủ Pháp và Nhật từ đầu thế chiến thứ hai. Đêm 9 tháng 3 năm 1945, Nhật  không tôn trọng thỏa hiệp đó nữa, thay vì chỉ « mượn » lãnh thổ Đông Dương để làm bàn đạp tiến đánh các nước chung quanh, họ đã bất ngờ đánh úp quân đội Pháp trên toàn cõi Đông Dương, bắt làm tù binh tất cả quan chức và quân nhân Pháp. Từ đó người Nhật lên nắm quyền cho đến khi họ đầu hàng quân Đồng Minh vào tháng 8. 

Tài liệu về giai đoạn này rất nhiều. Về biến cố tháng 3 năm 1945 đã đành, nhưng còn nhiều hơn nữa là tài liệu về cuộc phóng thích các tù binh Pháp bị Nhật bắt khi xảy ra biến cố. Cuộc phóng thích diễn ra vào tháng 9 sau khi quân Nhật đầu hàng quân Đồng Minh và tướng Leclerc qua Đông Dương chỉ huy quân  Viễn Chinh Pháp được quân Anh cho tháp tùng vào miền Nam Việt Nam, tái lập nền cai trị thuộc địa. 

Đặc biệt là những bản báo cáo của từng cá nhân các sĩ quan bị bắt làm tù binh. Mỗi người phải kể lại  quân Nhật đã đánh đơn vị mình như thế nào, mình bị bắt trong trường hợp nào, khi là tù binh được đối xử  ra sao, v.v. 

Ngày 26 tháng 10-2007, tôi tình cờ đọc được một chi tiết rất nhỏ nhặt, nhưng đã có ảnh hưởng lớn trong công việc tìm kiếm của tôi. Cho đến hôm đó, tôi chưa thấy một tài liệu nào nhắc đến đảo Bình Ba là nơi cha tôi đóng quân năm 1943 và chính nơi này cha mẹ tôi đã tượng hình ra tôi. Hôm đó tôi thấy tên  « Ile de Tagne », tức là đảo Tagne, được mô tả nằm trong vịnh Cam Ranh. Lạ thật, có khi nào mình nghe tên hòn đảo này! 

Phản xạ của một người sống trong đầu thế kỷ 21, cái gì không  biết chỉ cần mở máy tính ra, vào Internet, đánh mấy chữ « Ile de Tagne ». Lập tức trong nháy mắt đã có rất nhiều câu trả lời, nhưng tập trung vào hai đề tài chính: một đơn vị quân đội và một cuốn sách. 

Đơn vị quân đội là Đại Đội Kỷ Luật của các Trung Đoàn Ngoại Quốc tại Vùng Cực Đông (Compagnie  de Discipline des Régiments Etrangers en Extrême-Orient) đóng trên đảo Tagne từ 1946. Còn cuốn sách  mang tên « L’honorable partie du Vietnam » (« Phần đáng kính của Việt Nam ») do nhà L’Harmattan ở  Paris xuất bản. Tác giả Raoul Picault – một người Pháp phục vụ trong Hải Quân có mặt tại Đông Dương  từ 1938 đến 1945 – có mặt trên đảo Tagne khi xảy ra cuộc đảo chính Nhật ngày 9 tháng 3-1945, kể lại  những gì xảy ra ngày hôm đó, làm cách nào ông lên được đất liền, trốn tránh trong rừng núi quanh đó cả mấy tháng trời trước khi bị quân Nhật bắt. 

Nhưng một tài liệu làm tôi lưu ý nhất vì mô tả rất chính xác vịnh Cam Ranh (được phiên âm ra tiếng Pháp là Camraigne) có hòn đảo Tagne nằm ở cửa vịnh. Tài liệu mang tên « ANNALES MARITIMES ET  COLONIALES (1) » (« Tập san Hải quân và Thuộc địa ») xuất bản từ năm 1825. Điều đáng chú ý ở đây là hơn 30 năm trước khi quân Pháp đánh chiếm Việt Nam, họ đã có những tài liệu chính xác về các vùng  biển của Việt Nam mình. 

Như vậy chắc chắn là đảo Bình Ba và đảo Tagne chỉ là một. Đây không phải là một trường hợp đơn lẻ, nhiều khi người Pháp dùng một tên khác cho những địa danh của Việt Nam. Một thành phố lớn như Đà Nẵng cũng biến thành Tourane thì hòn đảo nhỏ bị đổi tên cũng chẳng lấy gì làm lạ. 

Tập trung việc tìm kiếm vào đảo Tagne, tôi khám phá ra là đảo này năm 1945 có ba sĩ quan hải quân trách nhiệm những khẩu đại bác lớn dùng để trấn giữ cửa vào vịnh Cam Ranh. Khi có vụ đảo chính Nhật  vào tháng 3 năm 1945, tất cả đều bị bắt làm tù binh. Khi được phóng thích vào tháng 9, ba sĩ quan này  phải làm bản báo cáo còn được giữ nguyên vẹn trong văn khố. Đọc bản báo cáo của người sĩ quan chỉ huy đảo, được biết đêm 9 tháng 3 khi quân Nhật đánh chiếm đảo với một lực lượng áp đảo, toàn bộ quân nhân  đã phải rút vào đất liền nhưng đã có đủ thời giờ đốt hết tài liệu, và tháo gỡ những cơ phận cốt yếu của đại  bác để không còn sử dụng được nữa. Họ phải lẩn trốn trong rừng nhưng sau một thời gian, không còn lương thực và đạn dược, họ đã bị quân Nhật bắt làm tù binh. 

Như vậy là tôi có thể tin chắc lời mẹ kể là đúng: trên đảo năm 1943 có ba sĩ quan, một Đại Úy, một Trung Úy và một Thiếu Úy, mà cha tôi là Trung Úy. Tôi cũng hiểu thêm tại sao không tìm ra tài liệu nào về đảo Tagne trước năm 1945 : những tài liệu đó đã bị hủy khi có vụ đảo chính Nhật. 

Và mày mò loay hoay tìm kiếm cuối cùng đã đọc được một tài liệu mà tôi xem là then chốt trong công việc mình làm. Đó là danh sách đầy đủ các sĩ quan Hải Quân có mặt tại Đông Dương khi xảy ra biến cố  đảo chính Nhật. Có người thiệt mạng, phần đông bị bắt làm tù binh và được phóng thích 6 tháng sau. Biết  rằng không có một thay đổi nhân sự nào trong quân đội Pháp từ 1941 đến 1945, không có ai được giải ngũ trở về Pháp, cũng không có một quân nhân nào mới đến từ Pháp. Lúc đó chính phủ Pháp của Tướng Pétain đã phải chấp nhận cắt nửa nước Pháp cho Đức và dời đô từ Paris về thành phố Vichy. Vậy thì tên của cha tôi phải có trong danh sách này. 

Nhưng tên cha tôi không có trong danh sách đó. 

*

Tháng 11-2007 

Lại thêm một ngõ cụt, đành phải quay lại tìm con đường khác. 

Dù sao tôi cũng đã tiến thêm được một bước so với những lần lâm vào ngõ cụt trước đây: đó là tôi có trong tay danh sách đầy đủ những sĩ quan Hải Quân tại Đông Dương năm 1945. Từ đó tôi nảy ra ý kiến là  tìm xem có ai còn sống để hỏi thăm họ về cha mình. 

Muốn vậy tôi trở lại văn phòng thường trực của hội ái hữu  « Cựu khóa sinh trường Hải quân » (« Anciens élèves de l’Ecole Navale ») nằm trên đường Amsterdam ở Paris, nơi tôi đã đến tháng 10-2006, hơn một năm trước. Kỳ này tôi cũng gặp người trách nhiệm văn phòng này, nhưng là một người khác, cũng là một đề đốc đã nghỉ hưu, mặc quần áo dân sự. Khác với ông năm ngoái, ông này sau khi nghe tôi  trình bày hành trình cam go mình đã trải qua, tỏ vẻ thông cảm và đưa cho tôi một cuốn sách in rất đẹp : « Tặng ông cuốn kỷ yếu năm 2007 của trường, trong đó có tất cả tên tuổi của những sĩ quan tốt nghiệp từ khi trường thành lập từ thế kỷ 19 đến nay. Những người còn sống đều có địa chỉ và số điện thoại, ông có  thể liên lạc với họ nếu cần. » 

Thật là một món quà vô giá! Năm ngoái, ông đề đốc kia chỉ giúp viết thư hỏi xem đương sự có muốn liên lạc với mình không, năm nay ông này cho nguyên cuốn kỷ yếu có tất cả mọi người, sống cũng như chết, muốn liên lạc với ai cũng được! 

Về nhà đọc cuốn kỷ yếu với đầy hứng thú. Lần đầu có trong tay một tài liệu với đầy đủ dữ kiện trong một lãnh vực mình đang quan tâm. Danh sách các sĩ quan sắp xếp theo từng khóa tốt nghiệp, trong mỗi  khóa xếp theo thứ tự ABC. Thích thú khi tìm ra cả tên của hai người quen là những sĩ quan Hải Quân của  miền Nam  Việt Nam, những người hiếm hoi tốt nghiệp từ ngôi trường nổi tiếng này. Đó là  các ông Nguyễn Tiến Ích và Trần Văn Sơn (bút hiệu Trần Bình Nam), cả hai người sống bên Mỹ nhưng tôi đều  quen thân. 

Trong số những người còn sống, tôi rất mừng vì có 10 người trong danh sách tôi tìm được ở văn khố, người trẻ nhất 90 tuổi, người già nhất 99 tuổi. Thời điểm 1945, tất cả đều là sĩ quan rất trẻ, cấp bậc Hải  Quân Thiếu Úy hoặc Hải Quân Trung Úy, có mặt tại Đông Dương. 

Tôi vội vàng điện thoại ngay cho từng người. Với tuổi cao như thế, không làm ngay có thể sẽ không  khi nào còn làm được nữa. Tất cả đều trả lời điện thoại, đều còn minh mẫn, đều biểu lộ cảm tình khi biết  mình tìm tung tích cha. Tôi ngạc nhiên vì tất cả đều còn nhớ rõ giai đoạn sống ở Việt Nam trong thời Đệ  Nhị Thế Chiến, hơn 60 năm trước. Nhưng không ai sống ở đảo Tagne, và cũng không ai nghe nói đến tên  cha tôi. 

Nhưng rồi tôi lại gặp may mắn một lần nữa. Trong số 10 người này, có ông Paul Romé đã lên tới chức  Đề Đốc trước khi về hưu. Ngoài công việc chính của ông là sĩ quan, ông còn là một học giả tìm hiểu và  viết về Hải Quân Pháp, tác giả nhiều bài viết đăng trên các tạp chí chuyên ngành, và tác giả nhiều cuốn  sách điển hình là cuốn « Les oubliés du bout du monde: Journal d'un marin d'Indochine de 1939 à  1946 » (« Những người bị lãng quên ở tận cùng thế giới: Nhật ký một thủy thủ ở Đông Dương từ 1939  đến 1946 »). Ông Romé cho biết ông có qua đảo Tagne dù không đóng quân tại đấy, và ông khẳng định là  không có ai mang tên cha tôi trong số các sĩ quan Hải Quân thời đó cả. « Tôi sống ở đó 6 năm, sĩ quan  Hải Quân không đông lắm, chúng tôi biết nhau hết. » 

Mặc dù ông nói vậy, nhưng qua điện thoại tôi vẫn cố kéo dài câu chuyện để mong tìm ra một chỉ dấu gì chăng, vì ông này khác với 9 người kia ở chỗ ông có thêm nghề tay trái là viết về đời sống của các quân nhân trong Hải Quân Pháp, nên bỏ rất nhiều công sức tìm kiếm tài liệu. Hơn nữa ông tỏ ra rất muốn  giúp tôi trong cuộc tìm kiếm tung tích cha. 

Và tôi có lý khi cố níu kéo ông nói chuyện qua điện thoại. Tới một lúc nào đó ông sực nhớ ra là Hải Quân hình như chỉ đóng tại đảo Tagne vào khoảng năm 1944 hay 45 gì đó, và nếu vậy thì năm 1943 đơn vị đóng quân tại đấy thuộc Lục Quân chứ không phải Hải Quân. « Nếu căn cứ trên đảo Tagne thuộc Lục  Quân thì cha của ông là một sĩ quan Lục Quân, không phải sĩ quan Hải Quân. » 

Lại được một phen bàng hoàng vì giả thiết này. Tôi đã bắt đầu tìm kiếm bên Lục Quân, không thành công, bên đó mách qua Hải Quân tìm. Bên Hải Quân đã có lúc tràn đầy hy vọng, nhưng rồi lại thất vọng. Bây giờ có người đưa ra một giả thiết mới, như vậy lại phải trở về tìm bên Lục Quân! Cũng như khi chơi  một loại cờ tôi không nhớ tên, mình rơi trúng vào ô « Quay trở lại ô khởi hành »!   

Ông Romé hiểu được tầm quan trọng của giả thiết này đối với tôi, nên ông hứa sẽ tìm tài liệu chính xác  rồi sẽ gọi điện thoại cho tôi biết. Qua ngày hôm sau, giữ đúng lời hứa, ông điện thoại nói đã tìm ra tài liệu đó rồi, xác nhận là căn cứ Cam Ranh, trong đó có đảo Tagne (tên Việt Nam là đảo Bình Ba) được chuyển  giao cho Hải Quân từ tháng giêng năm 1944. « Như vậy là trong năm 1943, căn cứ này thuộc Lục Quân, và cha của ông chắc là một sĩ quan pháo binh vì trên đảo Tagne có đặt mấy cỗ pháo loại lớn dùng để bảo vệ cửa vào vịnh Cam Ranh. Chắc cha ông thuộc đơn vị « Quatrième R.A.C. », nhưng cũng có thể đơn vị khác, tôi không rõ lắm. » Tôi hỏi R.A.C. là gì, ông trả lời là « Régiment d’Artillerie Coloniale », tức là  Trung Đoàn Pháo Binh Thuộc Địa. 

Tôi không biết phải cám ơn ông thế nào cho đủ (2). Với tinh thần làm việc tới nơi tới chốn và với tấm lòng vị tha muốn giúp đỡ người khác vô vị lợi, ông đã là một tấm bảng chỉ đường quý báu cho tôi trở lại  con đường cũ. 

Và bây giờ tôi chắc chắn một điều : cha tôi không phải là một sĩ quan Hải Quân.

(còn tiếp)

Phạm Ngọc Lân

Chú thích:

(1) Tài liệu này trên Internet là một phiên bản của cuốn sách trong thư viện Trường Luật của Đại Học Harvard, tiểu bang  Massachussets Hoa Kỳ. Thư viện này nhận được cuốn sách vào ngày 2 tháng 10 năm 1925 (đúng 100 năm sau ngày sách phát  hành bên Pháp), ghi rõ trên con dấu tiếp nhận sách. Cuốn sách mang tựa đề « Annales Maritimes et Coloniales » (« Tập san  Hải quân và Thuộc địa »), xuất bản năm 1825 bởi một viên chức của Bộ Hải Quân tên M. Bajot « với sự phê chuẩn của Ngài  Bộ Trưởng Hải Quân và Thuộc Địa, và dưới sự bảo trợ của Ngài Đô Đốc Pháp Quốc » (avec l’approbation de S. Exc. le ministre de la Marine et des Colonies et sous les auspices de S.A.R. l’Amiral de France »). 

Tài liệu này được Google chuyển qua dạng « tài liệu số » (document numérisé, digitized document) và đăng lên Internet. 

(2) Ông Paul Romé sinh năm 1917 trong vùng Bretagne miền tây nước Pháp, theo học trường Hải Quân Brest. Nhiệm sở đầu  tiên của ông là Đông Dương, ông phục vụ tại đó 7 năm từ 1939 đến hết 1945. 

Cấp bậc cuối cùng của ông trước khi về hưu là Đề Đốc (Contre-Amiral) là một chức tướng 2 sao của Hải Quân. 

Năm 2007 tôi nói chuyện điện thoại với ông (năm đó ông 90 tuổi) và được ông tận tình giúp đỡ tìm tài liệu về tung tích cha  mình. Khi cuốn sách tiếng Pháp De Père Inconnu xuất bản năm 2015, tôi liên lạc lại để tặng ông tác phẩm có nhắc đến tên ông, thì được biết ông đã mất năm 2010, hưởng thọ 93 tuổi.