Những năm tháng ẩn náu tại tòa soạn Bách Khoa (Nguyễn Gia Thưởng)

Lượt xem: 3172

"'...Cách đây 44 năm đúng vào ngày này, tôi từ giã căn nhà mình đang ở và lên đường tìm đường thoát thân. Ngày nay tôi ngồi đây hàn huyên cùng quý bạn là nhờ ơn cưu mang của anh Lê Ngộ Châu và chị Nghiêm Ngọc Huân. Anh chị đã không màng đến an nguy tính mạng của mình đã cho tôi nơi ẩn náu chờ ngày thoát ra khỏi Việt Nam..."

30_4_1975_20

Vài lời bộc bạch

Cách đây 44 năm đúng vào ngày này, tôi từ giã căn nhà mình đang ở và lên đường tìm đường thoát thân. Ngày nay tôi ngồi đây hàn huyên cùng quý bạn là nhờ ơn cưu mang của anh Lê Ngộ Châu và chị Nghiêm Ngọc Huân. Anh chị đã không màng đến an nguy tính mạng của mình đã cho tôi nơi ẩn náu chờ ngày thoát ra khỏi Việt Nam. Có lẽ tôi là một trong số hiếm hoi cán bộ tình báo của Phủ Đặc Ủy Trung Ương Tình Báo không ra trình diện học tập. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 đánh dấu một bước ngoặt lớn trong đời tôi cũng như hàng triệu người Việt Nam. Tôi ghi lại đây để tưởng nhớ đến anh chị, những người đã yêu thương tôi và che chở, bảo bọc tôi, dẫn đưa tôi vào nghề báo chí.

Những năm tháng ẩn náu tại tòa soạn Bách Khoa (Phần 1)

Từ giã Sài Gòn

Ngày 26/4/1975, cha mẹ và em Thủy tôi lên đường vào phi trường Tân Sơn Nhất đi cùng với bác Trà. Chồng của bác Trà là bác Bùi Quang Hanh, kiến trúc sư. Mấy ngày trước đó, mẹ tôi nóng lòng kiếm đường ra đi. Cha mẹ tôi chạy tìm khắp nơi manh mối đi vào phi trường Tân Sơn Nhất. Nơi nào cũng gặp bế tắc, họ đồn rằng ông Nguyễn Cao Kỳ ra lệnh không cho thanh niên trên 18 tuổi rời khỏi Việt Nam. Tôi có đến cô Duyện, em kế của cha tôi, để hỏi đường đi, nhưng cô cũng không mặn mà giúp chúng tôi. Cô Duyện không những không giúp chúng tôi mà còn hù dọa là chẳng còn đường nào mà đi nữa. Cuối cùng, bác Trà là người giúp cho cha mẹ và em Thủy tôi thoát khỏi Việt Nam. Sau khi từ giã cha mẹ, tôi trở vào sở. Tôi vẫn nghĩ là chúng tôi là những người ưu tiên được Hoa Kỳ bốc đi, nhưng tình hình biến đổi mau chóng. Tôi nói với cha mẹ tôi cứ yên tâm lên đường. Tôi đã có sở lo. Kết cuộc, cha mẹ và em Thủy tôi cùng với gia đình bác Trà lên phi cơ đi đến đảo Guam ở Phi-Luật-Tân. Trong lòng họ yên chí là tôi cũng đi được, có khi còn nhanh hơn họ. Tôi ở lại sở cho đến đêm 29/4, tôi vẫn hy vọng được bốc đi nhanh chóng.

Đêm 29/4, sở tôi nhận một quả pháo 122 ly bắn từ phía bên kia Thị Nghè. Một hố sâu độ hai thước, đường kính bốn thước nằm ngang con đường ra vào của sở. Sau tiếng pháo nổ, tôi nghe như tiếng mưa rào đổ ngoài trời. Pháo có rớt trúng đầu mình thì mình đi, chứ không thèm núp. Nhưng rồi lại tôi nghĩ nó chỉ làm mình què chân, què tay thì sao? Tôi vụt nhảy xuống nấp dưới gầm bàn sắt nơi văn phòng tôi đang trực. Tôi chờ xem có tiếng pháo nào nữa không. Chờ mãi không thấy động tịnh gì, tôi trở lại giường để ngủ.

Sở làm việc của tôi có cái tên rất kêu, Phủ Đặc Ủy Trung Ương Tình Báo , PĐUTƯTB, nằm ở số 3 bến Bạch Đằng, ngó thẳng ra sông Sài Gòn. Tôi quyết định ở lại sở để tử thủ. Hy vọng được « di tản đến một nơi an toàn » coi như tan theo mây khói, vì ngày 28/4, ông Phụ Tá Điều Hành Nguyễn Phát Lộc cho biết kế hoạch di tản đã hỏng. Ông khuyên anh em mỗi người tự lo liệu lấy bản thân. Và sau này, chính ông Lộc cũng phải đi học tập. Ông Nguyễn Phát Lộc là tác giả của hai quyển sách Tử Vi : Tử Vì Hàm sốTử Vi Tổng Hợp. Tôi bắt đầu tìm hiểu Tử Vi từ hai quyển sách này. Tôi đinh ninh thế nào ông cũng có kế thoát thân, nhưng sau này tôi nghe tin ông đã qua đời trong trại học tập cùng với ông Nguyễn Kim Thúy, Trưởng Ban R.

Tôi không rõ thực hư ra sao, nhưng có tin cho rằng ông Nguyễn Khắc Bình, lúc đó nắm quyền chỉ huy sở tôi đồng thời là tổng giám đốc Cảnh Sát Quốc Gia, đã đưa một danh sách những người quen biết và chạy chọt với ông ta cho cơ quan thẩm quyền Hoa Kỳ phụ trách về di tản, và lấp liếm cho biết danh sách này là của nhân viên của sở. Người Mỹ thấy danh sách này không đúng sự thực, nên đã kêu ông Bình lập lại danh sách cho chính xác. Chưa kịp làm lại danh sách thì ông Dương Văn Minh đã tuyên bố đầu hàng. Và mạnh ai nấy chạy để cứu lấy thân. Sau này tôi được ông Phan Công Tâm, giám đốc Ban A, cho biết là ông đã phải vất vả chen lấn để vào Tòa Đại Sứ Mỹ ở đường Thống Nhất để được di tản.

Trước đó một tuần, chúng tôi được lệnh đốt hết những tài liệu của sở. Tôi còn nhớ lúc đó có tập hồ sơ đồ sộ có tên là « Firebird » (Kế hoạch Hải Âu). Trong lúc đốt, tôi thấy có nhiều tên tuổi của cán binh cộng sản được gài trở về để làm gián điệp nhị trùng. Tôi không rõ chính quyền Hoa Kỳ có phục hoạt những người này hay không. Có một điều chắc chắn là Cộng sản không bao giờ dùng những ngươi này nữa.

Tôi không thấy ở trong sở động tịnh gì cả, tôi có cảm tưởng chỉ còn có một mình tôi ở lại. Tôi thầm nghĩ không lẽ mình hy sinh lãng xẹc, đổi mạng sống của mình với một vài cán binh cộng sản khác đến vây bắt mình. Tôi định bụng cầm lựu đạn trong người và cho nổ tung khi những người anh em phía bên kia ập vào bắt tôi. Tôi lại nghị đến cha mẹ, anh em, nhớ đến những bạn bè của tôi. Tôi tự nhủ mình không thể nào chết như thế này được, mình phải sống để tìm cách phục hồi danh dự cho những người đã nằm xuống. Cái chết của tôi sẽ làm cho cha mẹ anh em tôi buồn khổ. Tôi từ bỏ ý nghĩ đen tối đó và tôi lên giường ngủ. Sáng hôm sau tôi rời nhiệm sở để đến nhà một bà giáo sư người Pháp, tôi coi như mình đã chu toàn trách nhiệm với sở làm và không muốn tự hủy hoại thân xác một cách vô lý.

Tôi đạp xe đi đến nhà một bà giáo sư Pháp dạy em Thủy tôi ở Trường Marie Curie, vì trước đó tôi được biết bà có quen một thuyền trưởng người Corse có tàu đi Pháp. Tôi vẫn còn nhớ tên bà là Renée Duquenne. Tôi đến nhà bà và bà đã tử tế cho tôi trú ngụ. Từ nay trở đi tôi không trở về nhà cũ của tôi ở trong hẻm 1/4 Trần Tấn Phát nữa. Trong những trạng huống nguy ngập, tôi tự đặt nguyên tắc không bao giờ trở lại nơi mình đã ở, vì thói thường mật vụ và công an luôn đặt người theo dõi tại nơi cư ngũ cũ của người mà họ cho là phạm pháp. Sau này chị Huân cho tôi biết cô giúp việc cạnh nhà tôi là một cán bộ CS nằm vùng, nhưng cô này không làm khó dễ những người ở lại nhà này. Tâm trí lúc đó chỉ nghĩ  đến cách tìm đường đi ra khỏi nước Việt Nam. Nơi đây chẳng còn gì để tôi quyến luyến. Tôi đã mất hết. Hoàn toàn mất hết.

Suốt đêm, tôi trằn trọc không ngủ được. Tôi nghe tiếng máy bay trực thăng làm con thoi đưa người từ nóc Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ ở đường Thống Nhất ra hạm đội nằm ở ngoài khơi. Nhà bà giáo sư Pháp, nằm ở bên cạnh nhà thương Grall, nên tiếng máy bay trực thăng nghe rất rõ.

Đêm hôm đó không hiểu vì sao bụng tôi đau quặn, có lẽ vì không quen ăn thịt cừu với rau mồng tơi Tây, épinard, mà bà Duquenne cho tôi ăn bữa tối. Tôi vội vàng đi kiếm cầu tiêu. Nhưng không kịp nữa. Bao nhiều đau khổ đã vung vãi ra quần. Tôi phải vứt hết quần đùi và quàn dài đi và rửa người cho sạch, rồi mặc quần áo mới vào. Thật là ê chề.

Sáng hôm sau, tôi chờ đợi tin của bà Duquenne, hy vọng là trốn lên được tàu thủy để đi. Nhưng lòng tôi thắt lại khi bà ấy nói không có một chiếc tàu nào được phép rờii cảng Sài Gòn cả. Tôi lặng lẽ đem giấy tờ tùy thân đi đốt, chỉ còn giữ lại đúng cái thẻ căn cước bọc nhựa.

Tôi leo lên xe đạp và lầm lũi đi trong lòng với bao nhiêu ngổn ngang, buồn tủi chen lẫn với uất ức. Tôi cảm giác như trời đất quay cuồng. Tôi đã mất hết, thật sự mất hết. Bao nhiêu hy sinh của bao nhiêu người nay chỉ còn lại một sự thất bại to lớn mà không ai có thể ngờ được. Thiên hạ cầm cờ Mặt Trận Giả Phóng Miền Nam, ngọn cờ nửa xanh nửa đỏ với ngôi sao vàng ở giữa, chạy tứ tung trên đường phố, la hét inh ỏi. Tôi chỉ biết cúi đầu đạp xe tiến về phía Gò Công. Tôi đi ngang qua cầu Long An, rồi qua Mỹ Tho và cuối cùng đến Gò Công. Trên đường đi tôi chỉ ngừng xe để vào nhà dân làng để xin nước. Lâu lâu gặp những chốt chặn do một số người, có lẽ là « cách mạng 30/4 », lập nên. Nhưng tôi đi qua không gặp một trở ngại nào.

Đến gần chiều tôi đến Gò Công. Tôi đến nhà thằng bạn tên K. Trước đây tôi với nó cùng làm chung sở. Chúng tôi hay dắt nhau đi nhậu nhẹt ở Sài Gòn mỗi cuối tháng và có về chơi xứ Cầu Muống của nó vài lần. Tôi đã có lần giúp nó dịch bài học về Luật từ tiếng Pháp sang tiếng Việt. Tôi không thân với nó nhưng trong lúc rối ren, tôi chỉ nghĩ đến việc tìm đường ra đi khỏi Việt Nam và tôi nghĩ ngay đến Gò Công. Tôi hỏi nó có ý định đi không, sao nó còn ở đây, không đi ? Nó trả lời bố mẹ nó không cho nó đi. Sau này tôi mới biết là bố nó ủng hộ cộng sản và chứa chấp trong nhà một ông cán bộ huyện ủy. Tôi buồn quá không nghĩ ra được cách nào để trốn ra khỏi Việt Nam. Tôi xin tá túc tại nhà nó một đêm và sáng hôm sau tôi liều đi Rạch Giá. Lúc đó vì tâm trí bấn loạn, tôi không nghĩ đi đến Vàm Láng, nơi nhiều người đã lên thuyền ra khơi để gặp hạm đội Hoa Kỳ, trong số đó đó ca sĩ Phương Dung, được mệnh danh là « con nhạn trắng Gò Công ».

Chui vào hang hùm

Tôi đạp xe đạp từ Gò Công đến bến xe đò ở Ngã Ba Trung Lương. Tại đây tôi đã tìm ngay được một chiếc xe đò đi Rạch Giá. Chiếc xe đạp bỏ lên mui xe, tôi bước lên xe tay cầm cái giỏ bằng vải dù xanh, tìm chỗ ngồi và ôm chặt nó vào trong người. Tất cả gia tài còn lại chỉ còn đúng cái giỏ này và chiếc xe đạp. Trong giỏ có chứa những quần áo tùy thân và một cái nhẫn bằng ngọc nhỏ tí mẹ tôi đưa tôi trước khi chia tay ra đi.

Đến chiều, xe đò đến Rạch Giá. Tôi đi tìm chùa để xin tá túc qua đêm, chờ ngày hôm sau tìm đường lên tàu vượt biên. Đến chùa nào tôi cũng bị từ chối. Có lẽ họ sợ bị liên lụy nên không dám chứa bất cứ ai. Tôi có gặp một vài người đi với vợ con, vẻ mặt hớt hải, nhờ ông sư chỉ mối dẫn đường để lên tàu trốn khỏi Việt Nam. Họ sẵn sàng bỏ ra rất nhiều vàng để tìm đường thoát. Nhưng tất cả đều vô ích. Tôi buồn bã đi rảo thành phổ để tiếp tục đi kiếm chùa để ngủ tối nay. Tôi đang đạp xe và suy nghĩ miên man, thình lình xuất hiện bên cạnh tôi một thanh niên cũng đi xe đạp. Anh ta hỏi tôi có muốn đi vượt biên không, anh ấy chỉ đường cho đi. Tôi lấy làm lạ một người mình không quen biết lại có lòng tốt như vậy. Lúc đó không hiểu sao, tôi nhanh trí biạ chuyện tôi về Rạch Giá để đi kiếm ông anh di tản chiến thuật từ Nha Trang về. Anh em chúng tôi hẹn gặp nhau ở cảng nhỏ bé này. Tôi nói với anh thanh niên tốt bụng này: 

- Bây giờ hòa bình về với đất nước rồi, cách mạng đã thành công, chạy trốn ra nước ngoài làm gì. Chỉ có những kẻ có nợ với nhân dân mới tìm kiếm đường ra đi mà thôi.

Anh ta hỏi tôi tối nay ngủ ở đâu và ngỏ ý nếu tôi không có chỗ nghỉ đêm nay, anh ta mời tôi về nhà anh ấy. Tôi trả lời cho đến bây giờ chưa biết ngủ đâu. Anh ta kêu tôi đi theo anh ta để tìm chỗ ngủ.

Anh ta dắt tôi đi ngay vào trụ sợ cảnh sát, nơi các đồng chí cách mạng của anh đã biến thành một bộ tham mưu đi lùng bắt những tên « ngụy » đang tìm cách trốn ra khỏi Việt Nam. Anh ấy đưa tôi đến một dãy ghế nằm sắt bên cửa sổ và bảo tôi ngủ đêm nay ở đây đi. Anh ấy nói với các đồng chí của anh: 

- Ông này hiền khô à! Đừng có sợ ổng!

Đêm hôm đó, tôi ở lại với một người đàn bà đang có bầu. Khi công tác lùng bắt người về đêm kết thúc, họ về thì bà này trách mắng tại sao lại để bà ấy một mình với anh lạ mặt này. Biết là mình đã vào hang hùm rôi, nên tôi cố làm sao thu gọn người để chẳng ai để ý đến mình.

Tôi nằm lên trên mấy chiếc ghế, thân thể co ro, hai bàn tay thọc vào giữa hai cái đùi khép chặt. Tôi cố tìm giấc ngủ và thiếp đi hồi nào không hay.

Thình lình có người lạy tôi dậy và nói :

- Mày ra coi ngoài xe, mày có để cái gì nó kêu lạ lắm. Không lẽ mày gài lựu đạn! 

Tôi ngồi vụt dậy, chạy ra ngoài sân. Tôi thấy cái giỏ sách của tôi đã bị mở tung và cạnh đó là cái máy cạo râu chay bàng pin nhỏ tí teo đang phát ra tiếng rù rù. Một anh cán bộ đã lục soát giỏ của tôi và đã nghịch ngợm bật cái máy cao râu làm nó chạy. Vì nghe tiếng động lạ và không biết nó dùng vào việc gì, nên anh cán bộ hoảng sợ ném nó xuống đất. Tôi vội vàng cầm cái máy lên và nói đây là cái máy cạo râu. Đương sự cầm lấy và đưa lên mặt, thử cạo. Anh ta sung sướng cạo được ít sợi râu dưới cằm. Đương sự lên mặt dạy đời: 

- Mày sài đồ Mỹ Ngụy nguy hiểm lắm đó nghe chưa! Tao định vô bắt nhốt mày vì cái thứ này đó!

 Một chị cán bộ đứng bên cạnh nguýt anh ta và nói: 

- Sài đồ Mỹ Ngụy tốt thấy mẹ, còn bày đặt! 

Tôi có ý định tặng cho anh ta cái máy cạo râu, nhưng lại chợt nghĩ đó là món vật kỷ niệm của anh Thành tôi, mẹ tôi mang từ bên Bỉ về sau khi đã chôn cất anh ấy tươm tất. Tôi chìa tay ra cho anh này biết tôi có ý muốn đòi lại cái máy cạo râu. Đương sự trả lại cho tôi, không nói một câu nào.

Tôi trở vào nhà và trở về với những hàng ghế trước đây để tiếp tục ngủ. Nhưng lần này có một thanh niên khác đi theo tôi và không hiểu sao anh lại kể hết những thành tích công tác đêm nay cho tôi. Anh ta nói:

- Mày biết không, bọn ngụy tụi nó ngu lắm, tụi nó giấu tiền, giấu vàng ở đế giầy, rồi thắt lưng và có lúc ngay gấu quần nữa. Bọn anh bắt được hết.

Tôi lạnh cả người vì trong gấu quần phải của tôi, mẹ tôi có khâu giấu một lượng vàng ở mỗi gấu quần. Tôi vội vàng kéo ngay hai cái gấu quần lên và đưa vào ngay mặt anh ta và nói: 

- Cái chỗ này mà giấu, ai mà chẳng thấy. Bọn chúng ngu thiệt.

Trong lòng tôi run sợ nhưng bề ngoài tôi cố tỏ ra bình tĩnh ngồi nghe anh cán bộ này. Anh ta luyên thuyên kể tiếp những thành quả công tác bắt người của anh. Và sau đó anh bỏ đi, tôi lăn ra ghế ngủ tiếp.

Tôi chưa chợp mắt, lại có người khác lay tôi dậy.

-  Em ơi! Cho chị mượn chiếc xe đạp của em nghe! Ở trong bưng lâu ngày không được đi xe đạp. Chị thèm đi xe đạp lắm!

Tôi nói chị ấy cứ tự nhiên lấy xe đi cho thỏa thích. Tôi lại co ro thu người nhỏ lại, lăn nằm trên ghế, lần này tôi kéo gấu quần vào phía trong để cho họ đừng thấy chúng lúc lắc ở bên ngoài. Tôi thiếp ngủ.

Khoảng năm giờ sáng, tôi thức giấc vì có tiếng nói ồn ào. Ngồi dậy, tôi thấy họ đang ngồi bàn họp. Họ có đến trên mười người. Tôi nghe họ gọi tên « anh Năm » nhiều lần. Tôi đoán chừng ông này là xếp. Tôi lấy cái túi xách và đi ra cửa phòng. Tôi vẫy tay chào từ biệt mọi người và không quên cám ơn:

- Cám ơn anh Năm và mọi người đã cho tôi ngủ qua đêm ở đây. Chắc tôi phải về Gò Công, không thể ở đây lâu, làm phiền các anh, các chị quá.

Nói xong tôi vội vàng hé mở cánh cửa và lách mình đi ra. Tôi phải đi nhanh vì trong lòng tôi sợ họ thay đổi ý kiến, bắt tôi ở lại và khám xét thì khốn nạn đời. Tôi lấy chiếc xe đạp và mở cánh cửa sắt, dắt chiếc xe ra. Tôi phóng một mạch ra bến xe đò, mua vé chợ đen và leo lên ngồi trên mui, vì xe đầy ắp người không còn chỗ ngồi cho hành khách nữa. Tôi trở về Gò Công.

Một năm ở Cầu Muống

Gia đình của thằng K có hai căn nhà. Một nhà ở trên thành và một nhà ở Cầu Muống. Hai ba tuần đầu, tôi ở trên thành, tôi dạy sinh ngữ cho mấy đứa em của thằng K. Có lúc tôi dạy tiếng Pháp, có lúc tôi dạy tiếng Anh.

Sau này vì đến mùa mẵng cầu mà người Bắc gọi là na và mùa dưa hấu, tôi phải về ở Cầu Muống để phụ làm việc với gia đình thằng K. Đang từ vị thế của một thằng bạn tôi từ từ trở thành một tên đầy tớ trong nhà lúc nào không hay. Tối đi ngủ tôi phải có bổn phận giăng mùng cho cậu Sáu và sáng dậy phải thu xếp mùng màn chiếu gối. Ở nhà thằng K, mọi người gọi nó là cậu Sáu. Và cậu Sáu rất có uy trong gia đình. Cậu Sáu có bằng Cử nhân Luật.

Một đêm, tôi nằm mơ thấy bị công an đuổi bắt. Tôi tìm đường chạy trốn, nhưng cuối cùng tôi bị họ bắt. Có một tên cầm khẩu súng lục kê họng súng vào miệng tôi và bóp cò. Tôi nghe một tiếng nổ chát chúa và tôi giật mình thức dậy, người ướt đẫm mồ hôi. Từ đó mối lo bị phát hiện là một tên ngụy trốn không đi học tập cải tạo luôn đeo đuổi tôi. Tai tôi cũng từ đó phát ra tiếng ve chuông không bao giờ ngưng (y học gọi là acouphen).Ra đến nước ngoài thỉnh thoảng tôi vẫn còn nằm mơ bị công an đuổi bắt trong gần 5 năm.

Trong cảnh ăn nhờ ở đậu này, tôi may mắn gặp được một người anh rể của thằng K. Tên anh ấy là Tư Nghẽ (có lẽ là Nghĩa đọc trại ra). Anh ấy có thân hình vạm vỡ và rất siêng năng làm việc. Sau ngày 30/4/1975, anh ấy được mời vào làm công an vì anh ấy thuộc diện trốn quân dịch, không có nợ máu với nhân dân. Nhưng anh đã từ chối vì không thích làm nghề này, chỉ thích đi đánh cá, làm ruộng, làm vườn. Anh Tư Nghẽ rất quý mến tôi có lẽ vì thấy hoàn cảnh đơn độc của tôi giống tình cảnh mồ côi cha mẹ của anh trước đây. Mỗi lần đi đánh cá về, có cá tươi, có cua bể ngọn anh đều kêu tôi và thằng K sang nhà anh ấy ăn. Cũng có lúc anh chỉ kêu có mình tôi sang nhà anh ấy để chia sẻ những thứ anh có.

Anh Tư Nghẽ gặt lúa rất giỏi. Mùa lúa đến, anh không hết việc vì ai cũng chuộng sức làm việc của anh và nhất là tính tình chất phác, chân thật của anh. Tuy vậy anh ấy không phải là một con người không biết nhìn người. Anh ấy có những phán đoán rất chính xác khi nói tới ông bố vợ của anh. Tôi nhớ mãi một lần tôi cắm câu, tôi bắt được một con cá lóc. Tôi hí hửng đem khoe thành tích. Tôi chưa kịp đem đi nướng con cá thì bị bố thằng K tịch thu, nói rằng cá ở đìa của ông thuộc sở hữu của ông. Ông dành riêng con cá cho một mình ông ấy, gia đình không ai được đụng vào. Quả thật miếng ăn là miếng tồi tàn, mất ăn một miếng, lộn gan lên đầu.

Trong thời gian tôi ở Cầu Muống, tôi học đủ nghề cả. Cuốc đất, vô phân mấy cây mẵng cầu, đào cỏ gấu. Tôi đi xin tre để về chuốt cần câu cắm để bắt cá lóc. Là dân thành thị, chưa bao giờ biết gồng gánh là gì. Có một hôm trời mưa tầm tã, tôi phải gánh hai giỏ mẵng cầu. Mẵng cầu ở Gò Công nổi tiếng là ngon, nhờ trồng ở gần biển. Các vườn mẵng cầu thường nằm sát biển và được bảo vệ bằng một hàng rào cây lau rất cao. Từ vườn mẵng cầu (mà người Gò Công gọi là Vòng), tôi phải đi hơn 400 thước qua ruộng để về đến nhà. Tôi bước đi trên những bờ ruộng eo hẹp và trơn trợt. Tôi cố gắng giữ thăng bằng nhưng không xong. Tôi ngã xuống ruộng. Bao nhiều trái mẵng cầu trong thúng đều đổ ra và nổi lều bều trên mặt nước. Tôi lò mò thu góp những trái mẵng cầu bỏ trở lại vào trong thúng. Cuối cùng tôi cũng gánh được hai thúng về nhà, đôi vai đau ê ẩm. Tôi cảm thấy tủi thân vô cùng. Tôi chẳng có ai để giãi bày tâm sự cả.

Đến mùa mẵng cầu rộ trái, tôi phải vác mền chiếu và mùng ra ngủ ở ngoài vòng. Ở dưới quê, những vụ ăn trộm trái cây thường hay xảy ra khi đến mùa gặt hái. Tôi đem theo một quyền tiểu thuyết tiếng Anh để đọc cho đỡ buồn. Trong số sách đó có một quyển nói về cuộc thảm sát của các sĩ quan Ba - Lan tại Katyn do lệnh của Stalin. Tôi không còn nhớ chính xác tựa đề cuốn sách và tên tác giả. Ở trang đầu quyển sách, tác giả có ghi một câu mà tôi nhớ mãi cho đến bây giờ: « Nếu các bạn không màng đến chính trị, chính trí sẽ màng đến cuộc đời của bạn ». Tôi đọc rất nhiều sách tiếng Anh nhưng nhớ nhất là quyển này và quyển tiểu thuyết trinh thám Ice Station Zebra của Alistair McLean, tác giả nổi tiếng chuyện The Guns of Navarone, được quay thành phim. Tôi cũng đọc nhiều chuyện của Leon Uris, tác giả của quyển Exodus. Có lẽ nhờ vậy mà tôi không quên tiếng Anh. Tôi có đem đi theo một vài quyển từ Sài Gòn về đây.

Thằng K cũng có bộn phẩn đi canh chừng vườn với tôi. Nhưng ra tới vòng mẵng cầu, nó bỏ đi chơi và bắt tôi ở lại một mình trông vườn. Tôi bực bội vì chuyện này. Tôi quấn mền chiếu trở về nhà không muốn ở lại đêm. Về đến nhà, cả nhà sáu K hỏi tại sao lại bỏ về. Tôi giả vờ ngu si nói rằng không biết thằng K nó đi đâu, tôi ở lại một mình, tôi sợ ma quá nên tôi phải về. Từ đó, cả nhà thằng K cứ tưởng là tôi là thằng chết nhát, sợ ma.

Đi canh chừng vườn cũng có cái thú của nó. Khi nào thèm bắp, tôi đi bẻ bắp và vùi bắp trong đám lửa nhỏ dùng lá và cành bắp khô làm củi. Có lúc thèm cá, tôi xúi bậy mấy đứa em thằng K đi bắt cá trong đià của anh Tư Nghẽ. Chúng đi bẻ những cành cây mà chúng gọi là « cây thuốc cá », sau này tôi biết đó chính là cây xương khô hay cây kim giao (Euphorbia Tirucalli), một loại cây chỉ có cành không có lá, tiết ra một chất mủ đục. Chất mủ này làm cho chết cá và nếu không cẩn thận mủ văng vào mắt thì có thể bị mù. Cá đem về vườn là lụi ngay vào tro để nướng. Ăn cá tươi rất là thú vị, chỉ có ở miệt vườn mới thưởng thức được những món ăn tươi ngon này.

Dượng Sáu và bùa LBang

Trong thời gian ở Cầu Muống, tôi tò mò tìm hiểu hiện tượng chuộc bùa, chuộc ngải và bùa Lỗ Bang.

Thằng K có một ông dượng tên là Dượng Sáu. Dượng Sáu là một thầy pháp rất được kính trọng ở ấp Cầu Muống. Hầu hết những ai bị ma bắt, quỷ ám đều chạy đến ông để được chữa trị. Ông ban cho những người yếu bóng vía những túi bùa để đeo lên người. Ông ban bố Lục cho những ai xin được phù trợ. Ông Lục là một loại thần linh đi theo người để phù hộ che chở cho người được ban. Ông chỉ xuất hiện khi người này gặp nguy cơ.

Những người đeo bùa có điều đặc biệt là không được chui qua giây giăng phơi quần áo, nếu không sẽ bị nhức đầu và không được ăn rau dấp cá, nếu ăn vào sẽ tự hành hạ đánh đập chính bản thân mình cho đến ngất xiủ.

Ngày rằm tháng Bảy âm lịch là ngày cúng lớn trong lễ hội Phật giáo. Dượng Sáu có tục lệ quy tụ tại nhà mình tất cả những người chịu bùa và chịu Lục của ông vào ngày này. Tôi cũng được mời với thằng K đến tham dự ngày cúng lớn này. Tôi tưởng rằng trên bàn thờ của người dùng bùa Lỗ Bang, có thờ ông, nhưng thực ra trên bàn thờ chỉ có tượng Phật ngồi uy nghiêm, và xung quanh là đèn cầy và hương nhang nghi ngút. Những người chịu bùa của Dượng Sáu đứng xếp hàng trong căn nhà chật cứng. Tôi thấy những người rất bình thường trong giây phút biến thành những tay võ sĩ thượng thặng, đi đường quyền rất ngoạn mục, mỗi khi Dượng Sáu đặt tay lên đầu họ, mời ông Lục nhập vào xác họ. Có người được hồn người quá cố nhập xác, than vãn khóc lóc số phân lang thang giữa cõi dương và cõi âm, không có đường để đi đầu thai. Có người nhập về mô tả cảnh chết đuối của mình ở ngoài bờ biển Cầu Muống. Toàn là những chuyện kỳ bí, khó tin nhưng diễn biến ngay trước mắt tôi. Cho đến nay tôi vẫn tìm hiểu những hiện tượng lạ này nhưng tôi chưa tìm ra được câu giải đáp.

Dượng Sáu không truyền bí quyết bùa ngải cho những người con sau này. Ông nói vì làm nghề này giảm thọ và không đem đức lại cho con cháu. Có người cho rằng Dượng Sáu có tài điều khiển âm binh vì thần khí ông mạnh. Ông sợ rằng một khi ông chết đi các âm binh này sẽ quay lại vật những người con không đủ quyền uy để tiếp tục sai khiến. Âm binh có thật không? Cho đến nay chưa có ái chứng minh được điều này và khoa học vẫn chưa có lời giải đáp.                                                                                    

Rời nhà thằng K

Xảy đến ngày đổi tiền, nhà bố mẹ thằng K trở thành trung tâm đổi tiền. Tới lúc này tôi mới biết bố mẹ thằng K che chở và ủng hộ cán bộ cộng sản. Ông bà Tám C rất được lòng của họ. Nhân lúc ngồi chơi trò truyện, có một anh cán bộ « 30 tháng 4 » hỏi thằng K :

- Hồi xưa, tôi thấy chú Sáu hay về nhà chơi bằng xe Jeep, có cảnh sát hộ tống nữa. Chác chú Sáu quen biết lớn trong chế độ cũ há!

Nghe được câu này, tôi đâm ra hoảng sợ. Thằng K mà bị lộ là mình cũng đi chơi luôn với nó. Tôi nghĩ mình phải rời nhà thằng K thôi.

Bố thằng K là ông Tám C đã khôn khéo trả lời :

- Thằng K hồi đó đi Sài Gòn cũng là do ông huyện ủy khuyên tôi cho nó lên ở trên đó. Nó đậu cử nhân Luật, nó có liên hệ với cảnh sát Ngụy nên nó được ưu đãi, chứ nó có ăn nhậu gì với cái đám này đâu.

Và bắt đầu từ đó tôi nghĩ cách đi ra khỏi nhà gia đình thằng K.

Trong thời gian tôi ở nhà gia đình thằng K, tôi có tìm cách liên lạc về với chị Huân để biết tin tức gia đình. Gia đình của tôi đã ra đi tị nạn nước ngoài. Tôi chỉ còn anh Th và chị Huân là những người còn lại thân thiết nhất trong gia đình. Anh Th tu dòng Phanxicô. Anh đã lựa chọn không ra đi nước ngoài. Anh nghĩ rằng bổn phận của một linh mục là phải ở lại với giáo dân trong lúc nguy nạn. Lựa chọn này của anh tạo nên nơi anh em chúng tôi lòng mến phục vô vàn. Đã có lần anh kêu tôi nên ra trình diện vì anh nghĩ « cách mạng » sẽ « khoan hồng ». Nhưng tôi lại không nghĩ như vậy. Tôi biết trước thế nào đảng CSVN cũng sẽ có chính sách trả thù và đày đọa những quân nhân cán chính làm việc cho chính phủ VNCH. Tôi nhất quyết không ra trình diện. Bác sĩ Trần Văn Tích, một vị bác sĩ làm việc trong sở của tôi và đồng thời là một nhà văn có liên hệ mật thiết với anh Châu và chị Huân, đã có gặp lại chị Huân và nói rằng tôi làm vậy là đúng.

Lên thành trở lại

Thằng K có một cô em gái tên Ph. Cô này quen với một người tên S ở trên thành. Họ đi đến hôn nhân. Anh S thường hay về Cầu Muống chơi. Tôi và anh S trở thành thân thiện. Trong một lần nói chuyện, tôi có hỏi anh ấy có chỗ nào để đi vào bưng không. Anh ấy đi dò hỏi và về báo cho tôi biết là anh ấy có người anh rể tên Ba Hoàng, lấy chị Hai của anh. Anh Ba Hoàng nói cho chúng tôi biết là tại miệt Châu Đốc có những nhóm kháng chiến Hòa Hảo chống Cộng. Anh Ba sẽ dắt đường chỉ lối cho tôi. Tôi sẽ đi cùng với anh. Tôi mừng quá. Tôi nhờ anh S đưa tôi trở lên thành và xin tá túc ở trong nhà bố mẹ anh S. Sau đó không bao lâu tôi qua ở gia đình chị Hai Thường, vợ anh Ba Hoàng.

Mặt khác, tôi nói dối với gia đình thằng K là tôi về Sài Gòn ở. Nhưng thực tế, tôi lên ở nhà chị Hai để chờ ngày đi Châu Đốc. Trong thời gian tôi ở nhà bố mẹ anh S, tôi xin đi làm ruộng ở Bình Ân. Với bộ tịch của một anh chàng thư sinh trói gà không chặt, tôi cũng học gặt lúa. Thấy mọi người gặt lúa nhanh quá, tôi đâm ra quýnh quáng. Bà mẹ của anh S, cũng là bà mẹ của chi Hai Thường, nhìn tôi làm mà phải nói:

- Mày mò mò cái gì vậy ?

Đúng là tôi mò mẫm thật. Tay trái từ từ gom mấy cọng lúa và tay phải cầm liềm cắt lúa một cách chậm chạp. Nghe nói vậy, tôi vội vã làm nhanh hơn. Không ngờ tôi bị lưỡi liềm phạm ngay vào ngón tay út trái. Tôi vội đưa ngón tay út lên miệng để cầm máu. Thế là tôi không còn gặt lúa được nữa. Về đến nhà, chị Hai lấy than dầm với dầu hỏa bó ngón út cho tôi. Rõ chán, tôi đúng là một thằng vô tích sự, chẳng làm được việc gì nên hồn.

Tôi nhớ đến câu tục ngữ: « Làm ruộng ăn cơm nằm, chăn tằm ăn cơm đứng ». Người làm ruộng ngày nào cũng phải dậy sớm, vào lúc mọi người còn ngủ, trời mờ sáng đã phải ăn cơm để ra đồng làm việc. Bữa cơm đạm bạc chỉ có cá rô kho với canh bầu luộc, nhưng thật là ngon. Họ làm việc cho đến chiều tối mới về.

Về ở Mỹ Tho

Tôi không nhớ rõ tôi ở bao nhiêu lâu tại nhà chị Hai Thường. Sau đó tôi và anh Ba Hoàng lên đường đi Mỹ Tho. Lúc đó tôi thật ngu ngơ chẳng đến ý đến những mối tình vụng trộm của anh Ba Hoàng với một cô nữ quân nhân tên Sơn. Anh Ba Hoàng nói là chị Sơn đi kiếm đường vào bưng ở Châu Đốc. Lúc đó chị ấy đang tìm cách liên lạc với một nhóm Hòa Hỏa để kiếm đường đi Châu Đốc và phải lên ở Mỹ Tho.

Sau này tôi mới biết chị Sơn đã có con với anh Ba Hoàng, khi anh còn ở với chị Hai Thường. Thằng bé tên là Linh. Anh Ba Hoàng một mặt muốn kéo tôi đi Châu Đốc và một mặt cũng muốn cao bay xa chạy để ở riêng với chị Sơn.

Trước khi về Mỹ Tho, anh Ba Hoàng và chị Sơn đưa tôi về nhà chị Sơn ở Cái Vồn. Chúng tôi đến Cái Vồn trời đã nhã nhem tối. Chúng tôi không kịp trình diện với công an khu vực. Chúng tôi đi ngủ, dự định sáng sớm mai đến gặp ho. Nhưng đêm đó họ kéo tới nhà chị Sơn và hỏi giấy tờ chúng tôi. Tôi đưa căn cước cũ cho họ xem, trong bụng tôi hơi lo là họ sẽ bắt chúng tôi về trạm giam. Nhưng không hiểu sao họ nói thôi được rồi, ngày mai khỏi phải trình diện, coi như hôm nay đã trình diện rồi.

Sau này tôi mới vỡ lẽ là chị Sơn về Cái Vồn để đưa thằng bé Linh về Mỹ Tho ở chung với chúng tôi. Chị gởi thằng bé cho họ hàng nuôi và lần này về Cái Vồn để đón thằng bé đi.

Những ngày đầu chúng tôi ở nhà bố mẹ của anh Ba Hoàng. Nhà ở gần bờ sông, nằm sát bến đò ngang ở Bình Đức. Mấy hôm sau chúng tôi ra ở một cái chòi nằm trên một con rãnh nằm trên đường đi giữa nhà bố mẹ anh Ba Hoàng và nhà anh Tư, em anh Ba Hoàng. Chúng tôi không kiếm ra việc làm và chẳng có thu hoạch gì hết. Tôi từ từ bán hết những vật dụng tôi có. Ngay cả chiếc đồng hồ Seiko 5 của cha tôi để lại cho tôi, tôi cũng đem bán để có tiền mà ăn. Anh Ba Hoàng cũng kiếm cách sinh nhai bằng cách đi bắn nước mắm và đi bán gạo. Nhưng cuối cùng phần bị chính quyền địa phương ngăn chặn và bắt phạt, phần không còn vốn để buôn bán, chúng tôi đi làm công nhân. Làm công nhân được mấy bữa lại thôi việc, vì đồng lương một tuần lế chỉ đủ ăn một bữa anh một ngày. Lúc này tất cả nước chỉ ăn bo bo, cơm trộn với khoai lang. Không thấy một ai ăn gạo trắng cả.

Và rồi chúng tôi hết tiền để ăn. Tối đến chúng tôi đi ăn trộm dừa ở vườn người ta. Anh Ba Hoàng leo cây, tôi đứng ở dưới canh chừng và đỡ lấy mấy trái dừa vừa mới cắt. Sáng ra chúng tôi nhờ mấy đứa cháu của anh Ba đem ra chợ bán. Chúng tôi chỉ bán được đúng một lần, vì tôi không muốn làm chuyện này nữa. Quả thật lúc đó tôi thấm thía câu tục ngữ: « Bần cùng, sinh đạo tặc ». Quả thật khi con người không còn miếng ăn, họ sẽ sinh ra trộm cắp.

Tình hình trở nên bi đát, tôi không biết xoay sở làm sao. Tôi trở về Sài Gòn, về nhà chị Huân, nhờ chị ấy giúp đỡ tiền bạc cho. Tôi đưa cho chị Huân vỏn vẹn có hai lượng vàng mà cứ tưởng đó là một gia tài lớn. Chị Huân đưa cho tôi một số tiền (có lẽ vào khoảng 250 đồng lúc đó) và tôi trở về Mỹ Tho để tiếp tục sống.

Đúng vào thời gian này, Ủy Ban Quân Quản ra lệnh « Đăng Ký Quản Lý Hộ Khẩu », tức là lập lại sổ gia đình để kiểm soát dân chúng một cách chặt chẽ hơn. Nhân cơ hội này, tôi khai là con của bà vợ nhỏ của bố anh Ba Hoàng. Mẹ tôi tên là Nguyễn Thị Ngưu ở Sài Gòn. Mẹ tôi là người Bắc. Mẹ tôi trước khi mất cho biết là có ông bố ở Mỹ Tho. Nay tôi trở về Mỹ Tho sống chung với ông bố. Tôi lấy giấy tờ của cả gia đình và khai tên tôi vào trong đó. Tôi lấy tên là Nguyễn Văn Trường. Tôi may mắn tạo cho mình một lý lịch mới trong cuộc « đăng ký » này.

Mỗi lần khi cạn hết tiền tôi lại trở về xin tiền chị Huân. Trong thời gian tôi ghé nhà chị Huân, tôi biết tin hai ông bác đã trốn tù cải tạo ở Long Giao. Tôi đến kiếm họ và kêu họ đi chung với tôi vào bưng ở Châu Đốc. Hai Bác là sĩ quan VNCH. Bác Học là Trung Úy và bác Hiệp là Đại Úy. Cả hai bác đều có kinh nghiệm tác chiến.

Bác Học kể chuyện họ thoát ngục Long Giao rất ly kỳ. Cả hai người bị nhốt chung trong một thùng conex (container express) cùng với một người tù thứ ba. Mỗi khi đêm về, họ được đưa trở về conex để ngủ. Lính gác gài cửa mỗi đêm một cách máy móc. Hai bác đã bỏ một viên gạch nhỏ để chặn không cho thanh gài hạ xuống hoàn toàn. Về khuya họ thử nậy khóa xem sao và họ đã gỡ được thanh gài. Họ chờ đến đêm tối nhất không trăng để mở conex và vượt ngục. Người thứ ba ban đầu quyết định đi cùng nhưng vào giờ phút chót anh ta sợ quá không dám đi. Hai bác phải đe dọa anh ta buộc anh phải đi, không thể ở để anh ở lại, nếu không việc vượt ngục sẽ thất bại. Số phận của ba người phải đi liền với nhau. Họ bỏ viên gạch ngăn thanh gài. Đêm về, họ nạy bật thanh gài và họ mở cửa conex đi ra. Cả ba băng rừng và đi suốt cho tới sáng ra tới bờ lộ và tìm được xe đò đi về Sài Gòn.

Đến ngày lên đường đi Cái Dầu, tôi hẹn hại bác lên Mỹ Tho cùng đi với chúng tôi. Chị Sơn là người hướng dẫn đưa chúng tôi đi. Chúng tôi đến Cái Dầu gần chiều và chúng tôi ăn cơm và ngủ tối tại nhà một người họ hàng của chị Sơn. Tôi nhớ mãi bữa cơm hôm đó là vì lần đầu tiên tôi mới biết mùi vị của hạt cơm « nàng hồng ». Cả bát cơm đều đỏ thắm và hương vị rất thơm.

Ông chủ nhà là một người chất phát, dễ thương. Ông làm nghề chạy xe lôi. Ông có hai đứa con. Họ sống rất bình dị, không bao giờ nghĩ tới ngày mai phải làm gì, phải ăn gì. Có lẽ họ quan niệm « trời sanh voi, sanh cỏ » như rất nhiều người Việt Nam vẫn quan niệm. Họ tiếp đón chúng tôi như những người bạn thân. Tinh thần hiếu khách này bàn bạc nơi những người dân sống ở vùng.

xeloi_chaudoc
Xe lôi ở Châu Đốc

Tối hôm sau chúng tôi lên đường vào « bưng ». Chúng tôi lên ba chiếc xe lôi. Mỗi chiếc chỉ chở được hai người. Chúng tôi tất cả là năm người, bác Học, bác Hiệp, anh Ba Hoàng, người dẫn đường và tôi. Chúng tôi xuống xe ở giữa đường chưa tới núi Sam. Cả năm người chúng tôi đi vào cánh đồng ruộng bát ngát. Mùa gặt lúa đã chấm dứt từ lâu. Bây giờ chỉ còn là đất khô cằn, bị rạn nứt thành trăm ngàn miếng.

Chúng tôi đi qua không biết bao nhiêu ao và ruộng. Có lúc tôi khát nước quá, tôi vọc nước đìa để uống, không nghi đến việc bị nhiệm trùng hay nhiễm độc. Nhưng không hiểu sao, tôi không bị đau bụng và vẫn mạnh khỏe. Gần chiều chúng tôi đến một căn chòi trong đó có sáu người đang chờ chúng tôi. Họ đón tiếp chúng tôi rất niềm nở. Chúng tôi ăn uống rồi và bàn định kế hoạch tương lai. Bác Học đề nghị nên di chuyển trại đến sát chân núi để có thể đào thoát dễ dàng nếu bị bố ráp ở dưới đồng bằng. Chúng tôi bàn thảo rất nhiều. Nhưng cuối cùng chúng tôi khám phá họ là một nhóm người mê tín dị đoan, tin vào sấm truyền, đang trốn ở đây để chờ ngày Mỹ trở lại. Tôi được đề cử đại diện cho nhóm vì tôi biết ngoại ngữ để nói chuyện với người Mỹ. Tôi đâm ra hoảng sợ vì đầu óc nông cạn của nhóm này.

Ngày hôm sau, để nấu cơm, tôi chỉ có cây « điển điển » khô để chụm lửa. Cây điên điển cháy nhanh hơn cả rơm nên nồi cơm bị cháy ở dưới, nhão ở giữa nhưng lại sống ở trên mặt. Gạo họ được tiếp tế nhờ những người ở ngoài đem vào. Thịt dùng trong bữa cơm là thịt chuột đồng. Thịt chuột cũng như thịt thỏ, phải đem thui trước khi làm bất cứ mốn gì với nó.

Đến tối, họ tổ chức đi rảo các ruộng vườn của dân cư trong vùng và dỡ các bẫy chuột của người ta và đánh cắp chuột trong bẫy. Họ vào vườn để hái những trái dưa gang của nông dân. Việc này khiến cho tôi nghĩ ngợi họ đúng là một nhóm thổ phỉ hơn là một nhóm kháng chiến. Quân đội của chính quyền sẽ dễ dàng dẹp tan nhóm này.

Tôi nói với hai Bác là chúng mình phải đi ra ngay khỏi đây. Chứ tiếp tục ở đây chúng ta chỉ có nước làm mồi cho công an đến chộp. Đến sáng, hai bác nói với họ là hiện nay ở ngoài có một số người quen biết muốn gia nhập vào « tổ chức » này. Họ phải đi ra ngoài để kéo họ vào. Cả bốn người chúng tôi cùng đi với nhau. Tôi lo lắng, sợ họ thay đổi ý kiến và yêu cầu một người phải ở lại. Nhưng tôi không thấy họ phản ứng gì hết. Chúng tôi vội vã tiến về hướng quốc lộ để đi ra. Chúng tôi đã hội ý với nhau là lỡ gặp công an hay quân đội chúng tôi sẽ nói là đi gặp khách hàng để đem máy cày tới sới đất cho họ. Nhưng chúng tôi không gặp bóng dáng của một anh công an nào cả. Chúng tôi đi cả mấy tiếng đồng hồ thì ra tới lộ và chúng tôi chờ xe đò đi ngang đề trở về lại Cái Dầu.

Tối chúng tôi ở lại nhà ông tài xế xe lô để ngủ. Sáng hôm sau hai bác Học và Hiệp trở về Sài Gòn. Chúng tôi, anh ba Hoàng, chị Sơn ở lại Cái Dầu.

Cái Dầu - Cồn Thị Đam

Chúng tôi tá túc ở nhà ông tài xế lô đến hai ba ngày sau thì gặp một anh thanh niên ở cồn Thị Đam đang đi tìm người để làm việc đồng áng cho gia đình anh. Tên anh là Lê Viễn Khánh. Anh ấy thương lượng với anh ba Hoàng là sang cồn làm việc một năm chúng tôi sẽ được cung cấp 80 dạ lúa, vừa đủ ăn cho ba người chúng tôi. Tôi nói ba người là vì chị Sơn đã đem đưa con của chị ấy với anh Ba Hoàng về ở chung với chúng tôi. Thằng bé Linh đã được hai tuổi.

Nếu tôi nhớ không lầm, chúng tôi về đây là tháng Giêng hoặc tháng Hai năm 1977, vì chúng tôi đắp bờ để trồng thuốc lá, lúc đó trời năng cực độ, nóng cháy da thịt. Mỗi lần chúng tôi muốn đi ra Cái Dầu hoặc về Sài Gòn, chúng tôi phải dùng đò ngang để qua sông. Nước sông chảy rất siết.

noi_annau_caidau
Hình chụp từ vệ tinh ghi rõ vị thế của Cồn Thị Đam

Tất cả các nhà ở Cồn Thị Đam và vùng Châu Đốc đều cất trên sàn để phòng mùa nước lớn. Gia đình anh Lê Viễn Khánh đông anh em và cả gia đình ở chung trong một ngôi nhà. Mấy ngày đầu chúng tôi ở bên cánh phải của nhà. Như tất cả các nhà ở miền Tây, bàn thờ nhà ông Lê văn Chi, bố của anh Khánh, để ở giữa nhà kê trên một chiếc tủ gõ, trặm sa cừ và hai bên cột nhà treo liễng. Trước cửa ra vào nhà, có một bàn thiên để thờ Trời Phật. Hầu như mọi nhà ở miền Châu Đốc đều theo Phật Giáo Hòa Hảo và thờ Đức Phật Thầy Tây An. Bàn thờ chỉ để đúng bức hình ông Huỳnh Phú Sổ và một miếng vải điều màu tím. Sau ngày « giải phóng », không ai để hình ông Huỳnh Phú Sổ nữa mà chỉ để đúng trên bàn thờ một miếng vải điều.

Ông Chi là mẫu người Việt Nam có lòng thương người, hiếu khách. Ông nói với tôi :

- Qua không cần biết chú em trước đây làm gì. Chú em về ở đây tôi nghĩ là chú em gặp nạn nên mới về đây thôi. Chú em yên tâm, tôi cho chú em miếng đất trước nhà để cất nhà ở tạm.

Tôi cảm kích lời nói chân tình này và càng quý ông bố của anh Khánh hơn. Tôi thấy thằng con thứ ba của ông tên Điền đang học tiếng Pháp trong sách Mauger. Tôi không ngần ngại chỉ dẫn cho nó. Từ đó chúng tôi trở thành những người bạn thân thiết.

Ông Chi cho chúng tôi khoảng đất cao trước nhà, nằm ở bên phải nhà chính. Anh Khánh dắt chúng tôi đi tìm những nhà có trồng tre để xin tre về cất nhà. Có một gia đình ở cồn vui vẻ cho phép chúng tôi đốn tre trên mảnh đất của họ. Khi chúng tôi đã có đủ số tre, chúng tôi lại được các tay thơ mộc trong làng đến cất nhà cho chúng tôi. Họ định ngày lành tháng tốt để dựng xà ngang và đốt lửa ở giữa nhà theo tục lệ của họ. Có lẽ là để đem lại sự ấm áp cho gia đình đến ở.

Vào lúc đó tôi không hiểu tại sao người ta bảo chúng tôi chỉ nên đốn tre vào những ngày 29, 30 âm lịch. Nay ngồi ngẫm nghĩ lại, tôi mới biết là đốn tre vào lúc tối trăng, tre nó rắn chắc hơn, vì nó không có nước trong thân. Nước nó chạy lên thân cây tre khi trăng rằm, giống như thủy triều theo trăng mà lên.

Chúng tôi phải đi mua lá chằm (lá dừa nước) để lợp mái nhà và lót bốn vách nhà. Nhà cửa xong suôi, tôi ngủ ở ngăn nhà trước, vợ chồng anh ba Hoàng nằm ở căn giữa. Và căn đàng sau là bếp.

Nhà ông Chi nuôi chó và con chó mẹ sanh một lứa ba bốn con. Ông cho chúng tôi một con để giữ nhà. Những ngày đầu về đây vì lạ nước nên tôi bị kiết lị. Nhờ có thầy thuốc nam trong làng bốc thuốc miễn phí, tôi qua cơn bệnh. Sau khi xả bầu tâm sự, dân chúng dùng lá chuối để chùi, họ không hề biết đến giấy vệ sinh. Có một điều làm tôi kinh ngạc hơn nữa là những đứa con ông Chi không hề biết thành thị là gì. Và cũng chắng biết là ở thành thị có ống dẫn nước đi tới từng nhà một. Dân chúng chỉ biết xuống sông lấy nước khi cần và đem đổ vào lu. Để có nước trong, họ lấy cục phèn chua ngoáy một vòng trong lu thế là xong. Đất cát tự động lắng xuống đáy lu và cứ độ hai ba tuần là phải tráng lu cho nó sạch sẽ.

Từ sáng đến chiều, chúng tôi xới đất, đắp bờ và lên vòng để trồng thuốc lá. Anh Khánh đi mua những cây thuốc lá vừa mới lớn trong những khoanh lá chuối. Chúng tôi đem hạ thổ và tưới nước.

Ngày qua ngày, cây thuốc lớn mau như thổi. Bây giờ tôi mới nhận ra cây thước lá nó là một loại cải, lá rất to. Khi cây thuốc lớn chúng tôi lại có công chuyện khác phải làm. Đó là việc đi bắt sâu. Mặc dù chúng tôi có dùng thuốc diệt sâu nhưng vẫn còn sót một vài con. Việc bắt sâu thường diễn ra buổi chiều, lúc mặt trời đã lặn, vì lúc này sâu mới xuất hiện. Cùng lúc với việc bắt sâu, chúng tôi phải cho chạy máy bơm nước để lấy nước từ dưới con kinh lên trên ruộng. Gia đình anh Khánh dùng máy bơm dầu diesel hiệu Yanmar vừa làm máy bơm nước, vừa làm máy phát điện buổi tối để thắp đèn nê-ông và xem truyền hình.

Mùa thu hoạch thuốc lá chấm dứt, chúng tôi đi trồng mía. Đất trồng mía rất cứng nên chúng tôi phải vất vả hơn nhiều. Khi mía bắt đầu lớn, chúng tôi phải bỏ phân cá vào chân mía để cây mía sau này có vị ngọt đậm đà. Vào thời gian này tôi mất một cái răng hàm đã bị sâu sẵn vì ăn mía. Tôi cắn cây mía quá mạnh nên răng rớt theo luôn.

Muốn cho mía lớn mau, người nông dân phải đánh lá mía, có nghĩa là bẻ bớt lá của cây mía. Đánh lá mía không khéo người ta dễ bị sướt mặt và bị đứt tay, vì lá mía có răng cưa rất nhỏ.

Sau mùa mía, nông dân bắt đầu cày đất và gieo lúa. Chúng tôi lại phải be bờ ruộng và ban chiều cho máy bơm chạy để bơm nước lên ruộng. Những hôm nào trời quá nắng, chúng tôi phải tưới nước lâu hơn để cho đất không quá khô cằn. Về chiều có một loại ruồi mà người ở An Giang gọi là ruồi trâu hay mòng mòng, không có trâu nó kiếm người đốt. Tôi bị nó đốt một lần phải nhảy nhỏm, đau hơn kim chích của bác sĩ.

Khi lúa bắt đầu mọc thì nước cũng từ từ dân lên. Ở đây họ có một giống lúa đặc biệt là nước dâng tới đâu thì lúa ngóc đầu theo tới đó, không bị chết chìm. Nông dân sau này không trồng loại này nhiều vì thiếu năng xuất. Phần lớn người ta trồng Lúa Thần Nông IR8, vì có năng xuất cao. Người ta có thể gặt tới hai vụ một mùa.

Người nông dân sống phụ thuộc vào thời tiết rất nhiều. Có lễ họ làm việc vất với đất nên họ yêu thương đất, họ sống chết với đất. Có thể vì vậy sống quen trên một mảnh đất nào, người nông dân chẳng bao giờ muốn rời bỏ nó.

Tôi thấy thiên hạ làm lọp và giăng lưới để bắt cá, tôi cũng muốn làm thử. Tôi đi theo một anh làm lọp giỏi và học cách làm. Tôi đi xin tre về và dùng mác để vuốt và tước tre, đan tre thành lọp. Kinh nghiệm của những tay đặt lọp cho biết là cá rất thích chui vào những lọp mới, họ nói rằng cá nó thấy lọp bóng loáng nên thích vào. Trước khi kết thành lọp các nhánh tre nhỏ phải được truốt thật tròn và được hong lửa. Tôi học cách làm một lần và tôi được anh bạn thầy khen là tôi học nhanh quá. Tôi kết được năm cái lọp và trước khi đi đặt lớp, phải đi bắt cua làm mồi. Cua đồng ở ruộng bắt không bao giờ hết. Cứ cầm thanh cây cứng thọc vào những lỗ ở trong ruộng là có cua bò ra ngay. Chúng tôi xé cua ra làm hai và bỏ hai mảnh cua ở đầu lọp. Lọp gồm có hai ngăn. Một ngăn để mồi và một ngăn để cá mắc bẫy nằm ở trong đó. Chiều dài của cọng tre làm lọp dài độ chừng 30 phân, chúng được kết lại thành hình ống đường kính độ 11-12cm. Sáu đó chúng tôi cũng lấy mấy cọng tre đã truốt đó kết laị thành hai cái hom, cột nó ở giữa lọp và ở đầu lập. Cái họm lúc vào rộng sau đó hẹp lại. Cá vào rồi không quay trở ngược lại được nữa. Nơi để mồi cá cũng là nơi để trút cá ra.

Viết đến đây tôi nhớ một câu chuyện của dân miền Tây kể để mua vui. Nó liên quan đến cái lọp. Một hôm nọ, anh cá lưỡi trâu và anh tôm rủ nhau đi kiếm ăn. Gặp được mồi ngon trong lọp, anh cá lưỡi trâu kêu anh tôm vào ăn. Cả hai anh chui vào lọp một cách gọn ghẽ. Ăn uống xong hả hê, anh cá lưỡi trâu mình dẹp lép chui ra khỏi lọp một cách dễ dàng. Anh tôm bắt chước đi theo nhưng râu càng lại vướng mắc vào chúm không tài nào thoát ra được. Anh cá lưỡi trâu thấy như vậy cười ngất, cười đến độ méo cả miệng. Anh tôm tức tôi không ra được, lồng lộn đến độ cứt lộn lên đầu. Do đó ngày nay chúng ta thấy con cá lưỡi trâu miệng méo sang một bên và con tôm có cứt ở trên đầu lưng.

Mỗi lần tôi phải đi Sài Gòn để về nhà chị Huân xin viện trợ và đi mua lưới cá, lưỡi câu và giây đồng nhỏ, tôi phải mời ông công an ở làng về nhậu để xin cấp giấy phép đi. Tôi không uống bao nhiêu vì rất dễ say. Chúng tôi mời mọc chú Ba đến nhậu. Tôi giả vờ uống nhưng không có giọt rượu nào lọt vào trong miệng. Chúng tôi gọi ông công an này là chú Ba. Chú Ba ký giấy phép, đóng mộc cho tôi đi Sài Gòn. Về đến Sài Gòn, tôi đi Chợ Lớn để mua mấy thứ cần dùng. Ngủ một đêm tại nhà chị Huân, sáng hôm sau lại lên đường trở về Cái Dầu.

Tôi đi đi về về nhiều lần như vậy. Một hôm, chị Huân nói với tôi :

- Chị để ý khi nao chị đưa Thưởng tiền ít thì Thưởng về nhà chị mau, khi nào chị đưa Thưởng tiền nhiều Thưởng chậm về hơn.

Tôi im lặng không biết trả lời ra sao, vì chị nói đúng quá. Tôi phải nuôi ba miệng ăn với tôi là bốn. Sau mùa gặt lúa, chúng tôi đâu còn việc làm nữa. Nguồn tái chánh bắt đầu cạn dần. Trước đó tôi có xin được anh Tú mấy lọ thuốc trụ sinh Streptomycin để đem về bán và chích cho heo. Nhưng nguồn thuốc này cũng cạn đi, chúng tôi không có nguồn tài chánh nào khác ngoài chị Huân. Chi Huân đóng vai Nhà Băng phấn phát tiền bạc không công cho chúng tôi sống.

Đi xe buýt gặp người tài xế cũ trong sở.

Có một lần tôi rời nhà chị Huân và ra bến xe đò miền Tây để trở vê Châu Đốc, tôi gặp trên xe buýt anh tài xế cũ của ông Tâm, ông giám đốc của sở tôi. Anh ấy mời tôi đi uống nước. Tôi nhận lời. Trước đây ở trong sở anh cho tôi biết anh là lính biệt động quân và đã từng moi gan, ăn mật của các cán binh Cộng Sản. Tôi nghĩ anh là người thù ghét cộng sản vô cùng. Anh không thể nào theo chế độ này được. Tôi chưa kịp hỏi anh ấy điều gì thì anh ấy báo cho tôi biết nhờ có vợ là gia đình cách mạng, anh không phải đi học tập. Anh còn báo cho tôi biết là hai anh em làm việc trong sở Đại úy Lượng và người em Trung úy Quang là những cán binh nằm vùng. Hai anh em họ nhận lệnh đi truy lùng và bắt những thành phần trốn tránh như tôi. Anh tài xế nói tiếp anh cũng nhận công tác này nhưng đối với tôi anh không làm việc này. Nghe tới đây tôi giật bắn người, tôi chuẩn bị đứng lên để bỏ đi. Anh ấy níu tôi lại và hẹn gặp nhau tại nhà anh ấy ngày hôm sau.Tôi nhận lời và cáo từ anh ta. Lẽ tất nhiên tôi không bao giờ đến nhà anh ta vì biết đâu anh bố trí sẵn công an ở nhà để bắt tôi. Sau này tôi không còn gặp lại anh ta nữa.

Giăng lưới bắt cá

Ở miền Châu Đốc, vào mùa nước lớn, người dân có những sinh hoạt thật đặc biệt, không phải vì nước lên mà họ ngồi không. Tôi bỏ tiền ra mua một chiếc xuồng để tiện việc đi lại trên con kinh đào ở Cồn Thị Đam. Buổi sáng thật sớm, tôi cùng với anh Ba Hoàng bơi xuồng cả bảy tám cây số đi vào một khu rừng nhỏ để kiếm chà. Chà là danh từ để chỉ những cành cây khô lớn và rắn chắc họ cắm ở dưới sông để kéo cá đến ở. Khi mùa nước lớn, những cành cây khô này trôi về đây. Thiên hạ thi nhau đi vớt trên mặt nước. Ngoài ra chúng tôi còn hái những cọng bông súng để về ăn. Lục bình cũng là một món ăn khi chúng tôi chằng có gì để ăn.

Vào những ngày nước lên cao, cả gia đình anh Khánh ra công giăng lưới để bắt cá. Nhà anh Khánh có một đường mương lớn nằm bên hông phải nhà. Buổi sáng bà mẹ anh Khánh rang cám và anh em anh Khánh móc bùng ở bờ kinh, viên lại thành cục tròn bằng nắm tay, trộn với cám rồi đem vứt xuống đường mương lớn này. Cá theo con nước chạy vào đường mương này. Đến tối khi thấy con nước đã đứng và sắp sửa rút đi, anh Khánh nhẩy xuống nước và giăng lưới từ bờ mương bên phải sang bên trái. Anh phải lặn xuống tận đáy và lấy gạch chặn lại để lưới không bung ra khi nước rút đi. Sau đó mọi người đi ngủ, trông chờ đến sáng cho nước rút xuống.

Sáng ra mọi người chuẩn bị rổ để bắt cá. Tôi chỉ đứng ở trên bờ nhìn mọi người làm việc. Anh Khánh nói với tôi đừng có xuống mương coi chừng đạp chúng ngạnh của con cá ngác hay con cá trê đau nhức lắm. Bắt cá cũng phải biết cách bắt chứ không nó tuột ra khỏi tay ngay. Cả gia đình anh Khánh thì thụp lội xình bắt cá. Có những con cá trê rất tài leo lên đến nửa lưới thì kiệt sức và nằm vắt lủng lẳng trên lưới. Những con cá lóc trốn xâu dưới xình cũng bị anh Khánh lôi đầu ra. Mỗi lần bắt được con nào lớn là bà mẹ anh Khánh bỏ vào trong khặp đầy nước và đậy nắp lại. Bà còn lấy gạch đè lên nắp khạp. Tôi tò mò định mở nắp khạp để xem có bắt được cá nhiều không và hỏi bà tại sao phải lấy gạc đè. Bà vội nói đừng có nhìn vào khặp như vậy, lỡ cá lóc nó phóng ra đâm vào mắt chỉ có nước mù. Cá lóc phóng rất mạnh, đậy nắp không đủ, phải lấy gạch nặng đè lên mới ngăn việc cá tung nắp nhảy ra.

Mùa này, những người buôn bán cá linh thường đi ghe bầu để rao bán. Ghe bầu là một loại ghe bụng rất to và được ngăn cách rất kín. Ở giữa lòng ghe có một không gian trống trải để nước có thể ra vào ghe và giữ cho cá còn tươi sống. Người miền Tây dùng ghe bầu để đi bán cá sống, nuôi ngay trong ghe. Người ăn ngủ trên ghe, cá bơi lội dưới ghe. Cá linh phải ăn thật tươi. Nếu không may cá linh chết, người ta đem làm nước mắm, vì cá linh chết nó có vị đắng không thể nào ăn được. Người ở thủ đô Sài Gòn không có dịp thưởng thức cá linh là vì vậy.

Thử nghiệm cần sa

Sau một ngày đòng áng mệt mỏi, anh Khánh hay ghe căn chòi chúng tôi ở để tán gẫu. Một hôm anh đem thuốc lá trộn với cần sa đến cho chúng tôi hút. Anh đem cái dọc tẩu băng tre người ta thường dùng để hút thút lào. Anh đã có lần cho tôi hút thuốc điếu, nhưng tôi không thấy trí não của tôi có phản ứng nào cả. Tôi chê anh Khánh là đưa cho chúng tôi hút đồ dỏm. Anh châm điếu cho tôi hút. Lần thứ nhất, tôi không thấy gì, lần thứ hai cũng không thấy gì cả. Đến lần thứ ba, tôi chưa kịp nói gì cả, tôi thấy người tôi bay bổng. Hai tay tôi bám chặt vào thành tre để không bay. Tôi muốn buồn nôn, nhưng không nôn được. Tôi buồn đi ra sau nhưng cũng không đi được. Hay tai tôi cứ bám chặt vào sàn vì sợ rằng buông ra là người sẽ bay lên cao đi vào vũ trụ. Tôi có cảm tưởng tôi sắp chết. Tôi nhớ anh Khánh có lần nói là muốn không bị say cần sa, chỉ cần đổ nước lạnh lên đầu là hết. Tôi còn chút sáng suốt nên tôi nhờ anh Khánh lấy nước đổ lên đầu tôi. Quả nhiên sau khi anh Khánh đổ nước lên đâu thì tôi tỉnh táo trở lại. Tôi vẫn nhớ cảm giác đó và vẫn sợ cho đến bây giờ.

Cần sa chính ra là một loại thuốc người miền Tây dùng để chữa cho mấy con gà bị mắc toi. Khi còn gà bắt đầu chớp mắt và ngủ gà ngủ gật, người ta nhét một lá cần sa vào trong họng nó là sang hôm sau nó mạnh khỏe lại như thường. Sau này tôi mới biết cần sa cũng được để chế biến thuốc trị giảm đau, làm cho dễ ngủ, chữa kinh phong, chống ói mửa, chữa xuyễn… Hiện nay chính phủ Bỉ cho trồng cần sa ở trong nhà nhưng mỗi người tối đa một cây mà thôi. Nhiều hơn một cây là bị bắt ở tù vì tôi buôn ma túy.

Dịch ghẻ ở miền Tây

Trong thời gian tôi ở cồn, xảy ra một dịch ghẻ mà không có thuốc nào chữa nổi. Tôi không rõ nguyên do từ đâu, nhưng có lẽ vì người ta sinh sống ở đây không có vệ sinh. Nước nấu ăn, nấu uống thì lấy ở dưới sông lên, chẳng có lọc liếc gì cả. Cứ như thế mà uống. Giặt giũ, tắm rửa, tiểu tiên, đại tiên cũng trên dòng sông đó. Mọi người đều nghĩ rằng, con sông nó chảy nó sẽ cuốn đi những thứ phế thải. Họ không nghĩ răng họ làm dơ bẩn nước của người ở cuối sông.

Đầu tiên ghẻ nổi lên ở các khe ngón tay và ở khe ngón chân, sau đó lan dần ra khắp thân thể. Cuối cùng cả bộ phận sinh dục cùng bị ghẻ, đến độ tôi phải đi dạng háng để quần đùi đừng đụng vào của quý. Mỗi khi quần mà đụng vào thàng bé là đau nhói cả người. Tôi có về Sài Gòn kể cho chị Huân nghe và mẹ tôi gởi thuốc về cho tôi bôi.

Tôi thoa thuốc đầy người nhưng con ghẻ vẫn không ngừng. Cuối cùng, không còn biết làm gì khác để chống cự lại cơn ngứa, tôi lấy tàn thuốc lá bôi lên trên những nơi ghẻ. Ban đầu nó làm cho rát, nhưng sau đó không còn ngứa nữa. Không ngờ tro của tàn thuốc lại hiệu nghiệm lạ thường, nhưng mụt ghẻ bắt dầu khô mặt và từ từ lành lại. Từ đó, tôi lấy thuốc lá, vấn lại thành điếu và hút để lấy tàn bôi lên mụn ghẻ. Sau đó cơn ghẻ biến mất, chẳng còn để lại một vết gì trên người cả. Thật là lạ lùng.

Dỡ chà bắt cá

Vào mùa nước lớn, người ở cồn còn có một sinh hoạt rất là nhộn nhịp, đó là việc dỡ chà để bắt cá. Cũng giống như việc bắt cá trong mương nhà, họ ném nhưng cục đất trộn với cám rang vào trong chà cắm ở gần bờ sông. Chà cắm ở dưới sông có đến cả trăm cây. Khi nước bắt đầu đứng, họ nhảy xuống sông và dùng lưới bủa đám chà. Họ lặn xuống tận đáy sông và cũng dùng đá đến tấn lưới, để cho cá không chui trốn được. Đến khi nướcc bắt đầu rút, thì tất cả họ hàng chòm xóm đem ghe đến bao quanh đám chà để bắt đầu dỡ lưới và bắt cá. Một trong những con cá khỏe nhất ở sông này là con cá chẽm. Nó có thể nhảy lên cao đến hai thước khỏi mặt nước và phóng ra rỏi hàng rào lưới giăng để nhảy ra sông. Chính vì vậy nên họ bố trí rất nhiều nghe xung quanh để hứng đỡ con cá này. Họ từ từ gỡ từng nhánh chà ném lên bờ và họ từ từ gom lưới lại. Chà gỡ, lưới thu hẹp, cá bắt đầu giẫy nhảy tứ tung, thiên hạ thi nhau bắt cá bỏ vào ghe.

do_cha_batca
Cảnh kéo chà để bắt cá

Bao nhiều cá bắt được chủ chà lấy phần lớn cho mình và sau đó còn lại bao nhiêu chia đồng đều cho những người đến phụ gỡ chà. Tối hôm đó mọi người nhậu nhẹt, vui chơi hả hê.

Xác trôi sông

Thời gian tôi ở Cái Dầu, cũng là thời gian chính quyền Việt Nam xua quân qua Kampuchia để đánh bọn Khmer Đỏ Pol Pot. Quân của Pol Pot kháng cự rất mãnh liệt. Bằng chứng là về đêm, có rất nhiều xe cam-nhông quân đội chở xác người đi ngang qua thị xã, mùi xác người chết lan tỏa cả một vùng. Tôi không may đêm đó ngủ lại nhà ông tài xế xe lôi và hít phải không khí này. Cả hai ngày sau tôi vẫn không ăn cơm được vì cái mùi đó vẫn ám ảnh và nằm trong trí óc tôi. Bọn Khmer đỏ mở chiến dịch trả đũa lại bằng cách giết thường dân người Việt, người Miên gọi chiến dịch này là « Cáp Duồn » (Giết Việt). Khi tôi chèo xuồng để đi kiếm trùng đất ở những vùng lận cận cồn, tôi đụng phải một cái xác chết không đầu. Tôi không sợ thằng chỏng mà sợ phải ngửi lại cái mùi hôi kinh khủng trước đó vài ngày. Tôi nín thở và lấy hết sức bình sinh chèo thật nhanh vượt qua cái xác trôi sông đó.

Thời gian tôi ở Cồn Thị Đam kéo dài một năm. Tôi học hết mọi nghề để sống như họ. Chúng tôi nuôi gà ngay ở dưới sàn nhà. Khi nào muốn ăn gà chúng tôi bò xuống chuồng gà là có ngay. Chúng tôi ăn măng thả giàn. Đặc biệt măng ở đây có vị hơi đắng mà người ở đây gọi là « nhẫn ». Thằng Linh được hai tuổi. Mẹ của thằng Linh, chị Sơn, lại có bầu thêm đứa nữa. Tôi lo ngại không có đủ phương tiện để nuôi thêm một miệng nữa. Tôi lo lắng và kể cho anh ba Hoàng nghe là tôi còn tiền gởi ở nhà chị Huân. Tôi cứ tưởng hai lượng vàng tôi gởi chị Huân vẫn còn. Số tiền ấy tôi đã tiêu sài hết rồi từ lâu rồi mà trong đầu cứ nghĩ là nó còn. Anh Ba Hoàng nghe tôi nói còn tiền gởi ở nhà chị Huân, đòi đi theo tôi cùng lên Sài Gòn để đòi số tiền này. Tôi ngu dại dắt anh ba Hoàng lên nhà chị Huân. Tôi vẫn nghĩ anh Ba Hoàng là ân nhân cứu mạng tôi, đưa tôi ra khỏi nhà thằng sáu K. Lúc đó tôi không nghĩ ra anh Ba Hoàng là người có nhiều thủ đoạn, tôi vẫn nghĩ anh Ba Hoàng là người tử tế.

Trở về Sài Gòn.

Tôi lấy xe đò đi Sài Gòn cùng với anh Ba Hoàng. Anh Ba Hoàng xin được gặp chị Huân và ngỏ ý đòi tiền cho tôi. Nhưng chị Huân từ chối không đưa đồng nào cả. Anh Ba Hoàng đóng kịch nổi giận và hăm dọa đòi thanh toán chị Huân. Chị Huân thuật lại sự việc cho tôi nghe, làm tôi hoang mang vô cùng. Tôi không thể ngờ anh Ba Hoàng lại có những lời nói bất kính và côn đồ như vậy đối với chị Huân. Lòng kính mến của tôi đối với anh Ba Hoàng từ lúc đó thật sự tiêu tan. Sau sự việc này, tôi bắt đầu suy nghĩ và xem xét lại tất cả những hành động và lời nói của anh Ba Hoàng trước đây.

Sau khi phân tích tất cả mọi chuyện, chị Huân khuyên tôi nên về ở nhà chị. Chị Huân nói:

-Thưởng về đây ở, chị yên tâm hơn. Thưởng ở dưới đó, chị không thể nào liên lạc với Thưởng khi có mối để đi vượt biên. Chị có bổn phận phải trông Thưởng để thưa với cha mẹ.

Tôi suy nghĩ thật lâu vì bản tính không thích sống nhờ cậy vào ai cả. Nhưng ở vào tịnh huống lúc đó tôi không thể nào làm gì khác hơn để cho chị Huân bớt lo và cho cha mẹ ở nước ngoài bớt băn khoăn. Cuối cùng tôi quyết định về ở nhà chị Huân.

Tôi rời nhà chị Huân và ra đường gặp lại anh Ba Hoàng. Tôi không tỏ vẻ gì oán ghét anh. Tôi coi như không có chuyện gì xảy ra và tôi nói dối là tôi đã đòi được lại không hết số tiền nhưng cũng được khá nhiều. Tôi đưa một số tiền cho anh Ba Hoàng để không tạo mối nghi ngờ nào cho anh là tôi đã dứt khoát không muốn ở chung với gia đình anh ấy nữa.

Chúng tôi đến nhà anh Liêm và tối hôm đó chúng tôi tá túc tại đây. Tôi gặp lại Liễu và nói hết sự thật về cuộc sống ở Cái Dầu. Kháng chiến ở Cái Dầu chỉ là cuội, chúng tôi phải sống chật vật ở đây cho qua ngày. Anh Ba Hoàng không ngờ tôi nói hết sự thật, lại giả vờ khóc lóc với Liễu. Anh Ba Hoàng móc khẩu súng Colt 45 mà anh cất giấu trong người ra để khoe là mình ở trong một tổ chức kháng chiến. Thực ra cây sung này chỉ còn đúng một viên đạn, chẳng làm nên trò trống gì cả. Trong suốt thời gian tôi ở với anh tôi không hề biết anh còn cất giấu món vật nguy hiểm này cho đến ngày hôm đó.

Sáng hôm sau tôi cùng với anh Ba Hoàng trở về Cái Dầu. Về đến căn nhà chúng tôi ở, tôi lặng lẽ thu xếp quần áo và kiểm lại giấy tờ tùy thân để trở về Sài Gòn. Sau một đêm ngủ lại đây, tôi lấy cớ đi thăm một ông già ở Cái Dầu và tôi lên đường. Tôi cũng không muốn từ giã một ai cả, ngay cả gia đình ông Chi và anh Khánh tôi cũng không muốn gặp. Tôi lặng lẽ bỏ đi để không phải bịn rịn giã biệt.

Mái nhà 160 Phan Đình Phùng

Mấy tháng đầu tôi về ở nhà chị Huân, cu rú trong nhà không dám đi đâu. Tôi giúp chị Huân, chị Hiền giặt quần áo, rửa chén bát sau khi ăn cơm. Nói là giặt chứ hai chị đã có máy giặt Nhật. Chỉ cần bỏ quần áo và xà bông vào trong máy và bật nút là nó tự động chạy. Tôi gài bẫy bắt chuột và cho điện giựt chúng chết. Tôi làm cả bẫy gián bằng những hộp plastic. Nhưng sau này tôi bỏ bẫy gián vì nó hôi quá, mặc dù là dùng nước sôi để giết chúng.

Nhà anh Châu có đầy sách, nhờ vậy tôi có thời giờ để xem đủ các loại sách. Anh Châu vốn là chủ nhiệm của nguyệt san Bách Khoa nên trong tòa soạn không thiếu sách. Vì e ngại sách vở của anh có thể bị tich thu sau ngày 30 tháng Tư năm 1975, anh Châu đã nhờ ông Giám Đốc Sài Gòn Giải Phóng giữ hộ một số sách. Số sách này không được trao trở lại toàn bộ cho anh Châu vì bị thất thoát.

Những sách tôi đọc mà tôi vẫn còn nhớ đó là :

-Chiến Quốc Sách
-Sư Ký Tư Mã Thiên
-Kinh Viên Giác
-Sách Thiền của Suzuki
-Toàn bộ nguyệt san Khoa Học Huyền Bí
-Sách thơ Lê Quý Đôn nói về Tử Vi
-Dich Cân Kinh của Lạc Hà
-Dich Học Tinh Hoa của Nguyễn Văn Cần
-Chu dịch huyền giải của Nguyễn Văn Cần.

Tôi kiếm được quyển sổ kế toán chi thu, khổ A3 bây giờ và tôi chép những bài tôi thấy bổ ích trong việc xem Tử Vi và giải đoán Tử Vi vào trong này. Tôi đã học lõm bõm tính chất của cách chính tinh và phụ tinh trong quyển của ông Nguyễn Phát Lộc. Ông Lộc giữ chức Phụ Tá Điều Hành trong sở của tôi. Tôi mua sách của ông và xin chữ ký của ông. Lúc đó, tôi chưa biết giải đoán vì quy luật ngũ hành tôi không nắm vững. Tôi lấy ngày tháng năm sinh của cha mẹ, anh em trong nhà và sau đó là họ hàng để thử nghiệm học lực của mình. Ban đầu tôi không tin Tử Vi vì tôi cho đó là mê tín dị đoan. Tôi nhảy vào nghiên cứu Tử vi chỉ vì muốn biết nó bao nhiêu phần chính xác mà thiên hạ tin nó như thế. Một phần khác vì tôi hay thấy mẹ tôi đi xem thầy bói. Tôi phải biết xem để mẹ tôi đừng đi nữa. Mẹ tôi có lần rất vui về kể cho cả nhà nghe là thầy bói nói mẹ tôi là công chúa bị đày xuống dưới trần gian. Mẹ tôi có năm đứa con trai như vậy là ngũ hổ, rất đẹp. Mẹ tôi đi mua nhà cũng đi xem thầy bói.

Có lần tôi xem Tử Vi cho em Tín. Lúc đó, cuộc chiến ở Việt Nam bùng nổ dữ dội mà sau này mọi người gọi là « Mùa Hè đỏ lửa » năm 1972. Ông Thiệu ra lệnh đôn quân. Em Tín tôi rơi đúng vào tuổi đôn quân. Mẹ tôi lo sợ em Tín bị bắt đi quân dịch nên đã tìm cách đưa em Tín ra khỏi Việt Nam. Mẹ tôi đi mua thông hành Lào để cho Tín nhập cảnh vào Thái Lan. Mẹ tôi hỏi tôi chừng nào thàng Tín đi được, lúc đó là vào tháng 6. Tôi xem lá số của Tín và nói là tháng 9 nó mới đi được. Mẹ tôi không tin vì mẹ tôi đã chuẩn bị xong hết cho Tín rồi, chỉ chờ ngày lên đường thôi. Nhưng cuối cùng Tín rời Việt Nam vào tháng 9. Tín sang Thái Lan với thông hành Lào và tên Lào. Nhưng Tín sớm bị cảnh sát Thái phát giác, vì Tín không hề biết một tiếng Lào nào cả. Nhưng may Tín lanh trí đã đút lót cho cảnh sát Thái nên đã được ân cần đưa vào khách sạn và lấy máy bay sang Pháp.

Một lần khác, tôi xem cho em Thủy tôi. Tôi nói năm nay Thủy sẽ không đậu Tú Tài 2, lúc đó là vào khoảng tháng 3 năm 1975. Biến cố tháng 4 năm 1975 làm đảo lộn chương trình học hành của Thủy. Em Thủy không thi được năm đó, phải chờ đến sang năm em mới thi xong Tú Tài 2 tại Pháp.

Chuyện của ông Lê Quang Hiển

Anh Châu và chị Huân có một người bạn xem Tử Vi giỏi. Chi Huân gọi ông ấy là anh Thái. Sau này tôi biết ông tên là Lê Thanh Thái, bút hiệu Lê Phương Chi. Chị Huân có nhờ ông Thái xem Tứ Vi cho tôi. Lúc đó xem Tử Vi là cốt để xem có xuất ngoại, vượt biển được không. Ông Thái xem Tử Vi của tôi khá lâu những cuối cùng ông thú nhận ông xem không ra. Cũng có lần tôi đưa cho ông Đỗ Bá Vinh xem tử vi của tôi, nhưng ông chỉ nói vỏn vẹn có một câu là tôi bướng bỉnh chứ không nói gì khác.

Trong lúc ông Thái trò truyện về Tử Vi với anh Châu thì ông Lê Quang Hiển đến. Tôi ngồi trên gác đọc sách, tôi nghe nói chuyện Tử Vi ở trong phòng khách của anh Châu. Tôi tò mò nằm sát trên sàn gác nghe kể chuyện. Ông Hiển mang quân hàm Đại tá. Ông Thái xem lá số của ông Hiển có cách Tử Phủ Vũ Tướng (Tử Vi + Thiên Phủ + Vũ Khúc + Thiên Tướng) rất tốt. Ông Hiển kể là thời đệ nhất Cộng Hòa ông được phái về miền Tây để đánh quân Bình Xuyên, nhưng ông không phải nổ một phát súng nào cả vì ông chỉ có đến để tiếp thu. Sau đó ông được phong Tỉnh Trưởng Đồng Nai.

Trong thời gian ông làm việc trong Ban Liên Hiệp Quân Sự Bốn Bên, theo ông kể, ông cứu một sĩ quan cao cấp của Ba Lan. Khi miền Nam sắp thất thủ, ông được biết Lữ Đoàn Nhảy Dù có lệnh thanh toán các thành phần theo phía cộng sản. Lúc đó ông làm việc với ông sĩ quan Bà Lan, ông báo cho viên sĩ quan này biết sự thật về chiến dịch này và chỉ đường đào thoát cho viên sĩ quan này.

Trong thời gian biến động lúc đó, ông Hiển không ngờ hành động này đã giúp ông không phải đi học tập. Viên sĩ quan Ba Lan đã cho người tới nhà ông Hiển và khuyên ông Hiển đừng ra trình diện học tập. Viên sĩ quan Ba Lan cho người gác cổng nhà ông để quân đội MTGP không làm khó dễ ông. Nhờ vậy ông không phải đi học tập.

Thực hư chuyện này ra sao tôi không được rõ. Nhưng tôi vẫn nhớ chuyện này vì tôi thấy ông ấy gặp quá nhiều may mắn trong cuộc đời.

Lên Bảo Lộc ở

Anh Châu và một số bạn của anh có cổ phần trong công ty giấy Đồng Nai, gọi tắt là COGIBA (Công Ty Giấy Bảo Lộc). Vì tôi không muốn phiền hà (lại sợ phiền hà) anh Châu và chị Huân nhiều nên tôi có ý định lên Bảo Lộc ở. Tôi đến gặp bác Tuynh gái để xin phép lên ở nhà bác trên Bảo Lộc. Lúc đó, bác trai đã qua đời trong một trạng huống đầy bí ẩn. Bác trai không ở nhà Phan đình Phùng nữa mà đã lên Bảo Lộc ở với cô thư ký tên Chiên. Chị Huân và chị Hiền kể cho tôi nghe là hai chị lên Bảo Lộc để đưa tiễn linh cửu bác Tuynh (Hoàng Minh Tuynh). Khi hai chị gọi cửa thì thấy xuất hiện một anh thanh niên, sau này được biết anh này là thầy đang tập sự ở giáo xứ Thanh Xuân và là con của ông trùm ở đây. Anh này mở cửa và có vẻ như muốn ôm chầm người gõ cửa vào lòng. Khi nhận ra hai người khách lạ, anh này vội vàng sửa bộ tịch và tỏ ra nghiêm chỉnh ngay.

Tôi lên Bảo Lộc đi kiếm nhà bác Tuynh nhưng trong nhà ông không có ai cả. Tôi đến nhà ông trùm để thăm hỏi tình hình. Ông ấy không hết lời khen ngợi bác Tuynh là người thánh thiện, ngoan đạo. Biết tôi là cháu ông Tuynh, ông trùm tiếp đãi tôi rất tử tế. Trong lúc nói chuyện, không hiểu sao tôi phê bình tác phong của anh thầy, con của ông, trong lúc tiếp đón hai chị. Sau đó tôi ra về, không nghĩ ngợi gì nữa. Về Sài Gòn, tôi kể cho hai chị nghe và sau này chị Huân nói lại là chị Hiền toát mô hôi lạnh khi nghe tôi kể. Hai chị đinh ninh thế nào cô Chiên cũng sẽ đến nhà để xỉ vả hai chị vì hai chị đã có những phê phán xúc xiểm anh thầy và cô Chiên. Hai chị chờ mãi không thấy cô Chiên đến chửi mắng. Rồi một hôm hai chị nghe tin bà Giáo, chị của bác Tuynh gái, bị cô Chiên chửi bới vụ việc anh thầy này. Tất cả vì do tôi không kín đáo và dễ bất bình về những tình cảnh kém đạo đức.

Việc lên ở nhà bác Tuynh không xong, tôi về ở nhà máy COGIBA. Lên đây ở được vài ngày lại về vì chẳng có công việc gì cả. Nhà máy lúc đó không hoạt động gì. Tôi dùng giấy phép chứng nhận công nhân viên của công ty COGIBA để làm giấy đi đường. Mỗi lần đi, anh Châu ký giấy phép cho tôi. Ở nhà máy cũng không xong, tôi xin đến ở nhà Bác (Bê) Liêm.

Tôi không nhớ rõ ở nhà bác Liêm bao nhiêu lâu. Tôi đem quyển « Viên Giác » lên đây để đọc. Buổi sáng sớm tôi đi theo bác gái ra chợ để bán ngo. Bác gái là một người rất lanh lợi. Hai bác có một cô gái. Chị ấy tên là Khánh Linh. Tôi ra chợ ngồi chẻ những miếng gỗ thông ra từng lát nhỏ và lấy giây thun cột lại thành bó để bán. Những lát thông chẻ nhỏ này người ta gọi là ngo. Bác gái là người trung gian mua lại những khúc gỗ thông do người đi rừng đem ra chợ bán, rồi bán lại cho những con buôn từ các nơi về. Bác trả giá rất nhanh và bán đi cũng rất nhanh. Các con buôn thích giao tiếp với bác gái. Gỗ thông phải có nhiều dầu mới tốt vì phần chính của ngo là dùng để chụm lửa bếp, nó rất bén lửa.

Bếp núc ở Bảo Lộc cần phải có củi để nấu, lúc đó ít ai dùng lò dầu và ga. Những người ở trong xóm bác Liêm tổ chức đi đốn cúi và tôi đi theo. Chúng tôi phải đi bộ đến 10 cây số để leo đồi và vào rừng đốn củi. Chúng tôi đến một nơi đồi khá trống trải và mọi người bắt đầu đi kiếm củi. Tôi thấy có một khúc cây dài và thon, đã được gọt dũa thật đẹp. Tôi vui mừng ôm cây này về. Nó vừa đúng cỡ để tôi vác nó mà không sợ mệt mỏi. Đi đôi năm sáu cây số, tôi thấy hơi ngứa trên vai. Tôi ngừng lại hạ khúc cây xuống. Tôi hỏi những người đi cùng tại sao có chuyện lạ này. Họ nói rằng tôi ôm phải một loại cây mắt mèo. Chẳng ai dám dùng nó làm củi vì khi cháy nó phát ra những lông thủy tinh nhỏ và bắm vào người làm cho ngứa ngáy. Tôi hoảng quá vứt ngay khúc cây này, về nhà tay không. Rõ tôi là một thằng vô tích sự. Từ sự kiện này, tôi rút ra được bài học là cái gì ngon xơi chẳng bao giờ đến lượt mình.

Ở Bảo Lộc, tôi tình cờ gặp lại vợ của Phạm Trọng Sơn, tên Phương Anh. Phương Anh lên đây để buôn bán. Phạm Trọng Sơn trước đây học cùng lớp cùng trường với tôi ở trường Lasan Taberd Saigon. Và sau này ngẫu nhiên đi xin việc làm Sơn rơi vào ngay sở tôi làm. Phương Anh hỏi tôi có nên chờ anh Sơn về không, chờ như vậy Phương Anh mất hết tuổi thanh xuân. Tôi ngây thơ khuyên Phương Anh cố gắng chờ chồng về, đừng bỏ rơi Sơn tội nghiệp. Sau này tôi được biết Phương Anh đi lấy chồng khác và bỏ rơi Sơn. Chị Huân cũng phải khổ sở nhiều vì chuyện của Sơn vì mẹ của tôi có viết thơ cho bà mẹ của Sơn, nhắn nhủ mẹ của Sơn có cần tiền để cho Sơn vượt biên thì cứ lên nhà chị Huân lấy tiền. Mẹ tôi không gởi tiền cho chị Huân nên chị Huân ở giữa phải nghe mẹ của Sơn trách móc đủ điều. Sơn sau này khi mãn học tập cũng vượt biên nhưng mất tích không ai biết tin tức gì về Sơn nữa.

Ở nhà bác Liêm một thời gian, tôi lại cảm thấy sự hiện diện của tôi có thể sẽ gây phiền hà cho vợ chồng bác Bê Liêm. Tôi e ngại quá khứ của tôi sẽ làm liên lụy đến cuộc sống gia đình của hai bác. Cuối cùng tôi trở về lại nhà chị Huân.

Bình Giả đất đỏ

Ở nhà chị Huân ít lâu, anh Th tôi lúc đó đang trông coi nhà giòng Phan Xi Cô ở Bình Giả kêu tôi lên đây ở để kiếm đường đi vượt biên. Hai tuần lế đầu tôi ở căn nhà của anh Thường. Anh Thường lên đây để làm rẫy. Anh trồng bắp và đậu phộng. Anh Th có một bà ân nhân tên bà Bảng, giúp đỡ anh rất nhiều trong những ngày đầu anh về đây ở. Bà Bảng biết tôi muốn tìm đường đi ra khỏi Việt Nam. Bà mời tôi lên ở nhà bà. Bà khuyên nhủ tôi nên ở lại và bà nói thẳng muốn tôi làm rể nhà bà. Tôi ở nhà bà được một tuần lễ. Tôi được chiều chuộng hết mức. Sáng nào cũng có người đem ca phê và thức ăn sáng cho tôi. Bà nói tôi cứ chọn bất cứ cô gái nào của bà cũng được, bà sẽ gả cho ngay và bà sẽ cung cấp nhà cửa và vườn tược để lập một cuộc đời mới. Đầu óc của tôi chỉ nghĩ đến vượt biên. Bà cho một cô con gái của bà đi cùng với tôi để xem vườn tược. Cô này biểu lộ kín đáo cảm tình với tôi, nhưng tôi không có lòng dạ nào nghĩ tới chuyện yêu đương cả.

Bà có một người con rể làm đại úy lấy người con gái cả của bà. Cả gia đình nghe đồn tôi xem Tử Vi rất giỏi, nên mọi người đều xúm lại hỏi tôi xem bói. Đúng vào lúc đó, tôi có đem theo người quyển Mai Hoa Dịch Số của dịch giả Nguyễn Văn Thùy mà tôi đã tìm mua được ở chợ sách cũ. Chị con gái cả của bà Bảng muốn biết chồng chị đi học tập chừng nào về. Tôi xem ngày giờ âm lịch hôm đó, tôi cộng với giờ giấc chị đặt câu hỏi. Tôi lập chánh quái, tôi xem hào động và tôi lập biến quái. Tôi báo kết quả là năm Mậu Ngọ anh ấy về. Sau này tôi được biết những gì tôi tiên đoán đã diễn ra đúng như vậy. Tôi không ngờ lần xem quẻ đầu tiên Mai Hoa Dịch Số lại đúng đến thế. Tôi đâm ra sợ và từ đó không dám xem nữa. Chuyến đi Bình Giả để tìm đường vượt biên không xong, tôi trở về lại nhà chị Huân.

Lê Nin Toàn Tập

Một hôm ông Nguyễn Mộng Giác đạp xe đạp đến gặp anh Châu nói rằng ông đã đìm ta được phương kế kiếm tiền gọn gàng và nhanh chóng. Nhà Nước lúc đó cho in bộ Lê-Nin Toàn Tập, gồm có 10 quyển. Muốn mua những tập này, phải có giấy giới thiệu của một tòa soạn báo chí hay một công sở. Anh Châu với tư cách là cổ phần viên công ty giấy Cogiba viết giấy giới thiệu và đóng mộc công ty. Chúng tôi mỗi người cầm giấy giới thiệu đi rảo khắp các nhà sách ở Sài Gòn để mua Lê-nin Toàn Tập. Mua xong đem về nhà, chúng tôi thi nhau xé bìa cứng ra chỉ còn giấy trắng bên trong. Bìa màu xanh lơ nằm la liệt dưới đất. Sáng hôm sau, tôi bỏ vào bao tải tất cả những sách không bìa và đem ra chợ Vườn Chuối bán kí lô. Sách mua chỉ có từ 2 đến 4 đồng một quyển, bán kí lô thành ra 8 đồng một quyển. Chúng tôi kiếm được ít tiền bỏ túi nhờ cao kiến của ông Nguyễn Mộng Giác.

Hát và đánh đàn

Hai cậu cháu, tôi và Quân, thường ngày rủ nhau đánh đàn và ca hát. Tôi nghe lại mấy cái đĩa cũ của Christophe. Tôi hát lại nhiều bài của Beatles. Nhờ anh Thành lúc còn sống, anh thường xuyên vào Chợ Lớn mua mấy tập nhạc « OK HIT » khổ 10x20cm, tôi tha hồ ca hát. Trong những quyển nhạc đó có ghi hòa âm, nốt nhạc và lời của rất nhiều ban nhạc thời thượng lúc đó. Có đôi lúc Quân lấy bông gô ra gõ inh ỏi cả nhà.

Cạnh bên nhà chị Huân là gia đình của ông bà V. Chúng tôi hầu như ngày nào cũng nghe ông mắng mỏ vợ con như hát hây. Một khi ông dứt tung kinh là chúng tôi bắt đầu nghe ông mắng chửi vợ, con. Tôi và Quân, hai cậu cháu phát bực nên mỗi khi nghe ông V lên giọng là tôi bảo Quân đem bông gô ra đánh để át tiếng của ông.

Tôi và Quân hay ra ngồi trên bục cầu thang xi măng nối liền cánh trước nhà với cánh sau nhà. Chúng tôi không để ý là người ở ngoài nhìn vào thấy chúng tôi rất rõ. Mãi sau này khi hai cậu cháu chúng tôi đã vượt biên thành công, chị Huân kể lại là cậu công an phường biết chúng tôi trốn trong nhà nhưng không làm khó dễ chị Huân. Chị Huân thường hay tặng quần áo và quà cắp từ ngoại quốc về cho cậu công an này. Và cậu này nói với chị Huân là cậu đã làm ngơ cho chúng tôi vì chị Huân đối sử tốt với cậu ta quá.

Vào tù Phan Thiết

Chị Huân luôn tìm mối vượt biên cho chúng tôi. Tôi cứ dở lá số Tử Vi để xem tôi có cơ hội tốt vượt biên không. Tôi đưa lá số cho ông Thái và ông V xem nhưng cả hai ông đều không xem ra. Chính tôi cũng không xem ra, làm như có một ngăn trở vô hình nào đó không cho phép tôi nhìn thấy con đường đi tới của tôi.

Một hôm, vợ của anh Thụy, con bác Đài, đến gặp chị Huân và cho biết có đường dây vượt biên tổ chức ở Phan Thiết. Mỗi người phải nộp ba lượng vàng để đi. Tôi nghĩ rằng anh Thụy đã vượt biên thành công và đang ở bên Úc, chị Thụy có xác xuất tổ chức vượt biên thành công hơn người khác. Tôi lên đường đi Phan Thiết và ở nhà bà con của chị Thụy hai ngày. Đến đêm thứ hai chúng tôi được đưa ra bãi cát để lên taxi con. Chị ấy nói bãi đã được mua, nên rất an toàn. Chúng tôi lên ghe thúng để ra ghe lớn. Nước biển về đêm lóng lánh lân tinh, trông rất đẹp, nhưng chẳng một ai để ý. Chúng tôi bước lên ghe lớn. Chúng tôi chất đống trong ghe, tôi không rõ là bao nhiêu người, nhưng ghe chật ních. Chúng tôi nấp ở dưới lòng ghe, không ai được ngóc đầu ra cả. Tiếng máy ghe nổ đều đều. Chúng tôi nghĩ rằng chúng tôi đã đi khá xa rồi. Tôi hỏi chị Thụy là đã gặp ghe chở dầu ra chưa. Chị ấy nói là đang trên đường đi đến điểm hẹn. Ghe chạy thêm một lúc lâu nữa thì ngưng. Tôi nghĩ rằng ghe chúng tôi gặp ghe chở dầu. Thình lình nắp ghe bị mở tung lên. Một khẩu súng AK chỉa về hướng chúng tôi và một anh quát tháo bắt mọi người lên. Ban đầu tôi tưởng là họ đùa nhưng khi bước ra khỏi lòng tàu, tôi thấy bảy tám anh công an bao vây chúng tôi, tôi biết là không xong rồi. Bây giờ nếu tung tích của tôi bị bại lộ thì cuộc đời của tôi coi như chấm dứt. Chúng tôi được chuyển sang ghe của công an. Mọi người đều ngơ ngác và bơ phờ. Chị Thụy ghe vào tai tôi nói nhỏ:

- Thưởng đừng nói là chị tổ chức nghe. Chị có hai cháu đi theo chị, họ sẽ thả cho chị ra sớm. Chị sẽ lo cho Thưởng ra sau.

Tôi nghe lời chị và không khai tên chị ra khi cán bộ quản giáo hỏi cung. Tôi có ý định giựt súng của anh công an đứng bên cạnh tôi. Tôi nghĩ lần này vào tù có lẽ ở mút mùa. Bao nhiêu hy vọng đều tiêu tan vì tôi nghĩ rằng vào tù coi như cuộc đời bế mạc. Và đằng nào cũng chết, thôi thì chết ngay bây giờ cho xong. Nhưng tôi lại suy tính, mình bắn không chính xác thì những người xung quanh có thể chết theo. Tôi có thể chết nhưng tôi không có quyền cướp sinh mạng của người khác. Nghĩ đến đây tôi từ bỏ ý định cướp súng. Tôi suy nghĩ cách khai cung để tội của mình nhẹ và tránh cho chị Thụy trách nhiệm tổ chức.

Chúng tôi được đưa vào Trại Giam số 5 ở Phan Thiết. Bao nhiêu tiền bạc và giấy tờ tùy thân của chúng tôi đều bị tịch thu. Ngày đầu tiên cán bộ kêu từng người chúng tôi lên làm việc. Tôi khai là tôi là công nhân công ty giấy Cogiba, tôi vượt biên vì thấy những người vượt biên thành công gởi tiền về nhà nuôi gia đình. Tôi là anh lớn trong gia đình vì thấy gia đình túng thiếu cũng liều đi theo người ta vượt biên để đi ra nước ngoài kiếm tiền nuôi gia đình.

Một tuần lễ sau, cán bộ lại gọi tôi lên và nói:

- Lần đầu anh khai, trong lúc hốt hoảng anh có thể khai không đúng. Lần này bĩnh tĩnh trở lại, anh khai cho đúng sự thật. Cách mạng sẽ khoan hồng cho anh.

Tôi khai tiếp là tôi được một anh tên là Minh, đầu hói, mắt hí, đến rủ tôi đi vượt biên. Tôi đi theo anh ấy lến Phan Thiết để đi. Tôi nhắc lại tôi là công nhân làm việc trong công ty giấy Cogiba. Tôi không khai tôi ở địa chỉ nhà chị Huân mà ở nhà số 49/23 Trần Quý Cáp, Quận 3 Sài Gòn. Tôi còn quả quyết với cán bộ:

-Nếu cán bộ không tin, cán bộ có thể đánh điện về Sài Gòn để kiểm tra việc này. Tôi có khai man, cán bộ trừng phạt.

Lẽ cố nhiên tất cả những gì tôi khai cho cán bộ đều là do tôi bịa đặt. Duy địa chỉ là có thật nhưng là một địa chỉ ngôi nhà xa xưa chúng tôi không còn ở nữa. Tôi không những khai lại đúng như lần đầu mà còn thêm chi tiết tên người tổ chức nữa. Tên này cũng do tôi bịa ra để tăng thêm phần khả tín. Tôi biết cán bộ sẽ không tin là có tên người này vì người này có thể lấy nhiều tên khác nhau. Người chủ chốt này dùng tên Minh với tôi nhưng lại có thể dùng tên Ổi, Xoà , Mít với người khác. Tôi cũng biết là cán bộ họ chẳng rỗi hơi bỏ thì giờ đánh điện kiểm chứng là tôi ở Sài Gòn và làm việc ở đâu.

Tôi may mắn khi ở trại giam gặp được một người bạn tù thật tốt bụng. Ngay ngày đầu anh kêu tôi về ngủ chung chiếu, chung màn với anh. Anh chia sẻ những thức ăn của anh với tôi. Mỗi khi có đợt tù mới vào là có một anh phụ trách chia phần nằm trên bục xi măng. Hôm chúng tôi vào, mỗi người chúng tôi được 32 phân để nằm. Tối ngủ tôi phải đặt tay phải lên vai trái và đặt tay trái lên vai phải. Hai tay tréo nhau theo hình chữ thập để không lấn sang chỗ của người khác.

Ở trong tù, tôi thấy cá tính của con người hiện ra rõ rệt nhất. Họ giành giật từng miếng cơm, tùng miếng thịt miếng cá để thỏa mãn cơn đói. Tôi thấy một số bác sĩ, kỹ sư mất hết tư cách và trở thành những người tù ích kỷ. Những hôm anh bạn cùng chiếu được phép ra ngoài công tác, chúng tôi có một bữa ăn thịnh soạn với canh rau dền. Anh hái rau và cho vào loong Guigoz nấu. Loong Guigoz là một dụng cụ rất quý báu trong tù vì nó được dùng làm đủ thứ chuyện: làm gáo múc nước tắm, làm ly nước để đánh răng, làm nồi để nấu canh.

Không đầy ba tuần, tôi bất ngờ nhận được thực phẩm tham nuôi. Chị Huân đã nhờ chị Kim đem tiếp tế thức ăn cho tôi. Thật là một ngày vui. Tôi chia một nửa cho anh bạn cùng chiếu và còn một nửa tôi cũng chia cho một ít người tôi mến. Anh bạn tỏ ra bất bình, báo tôi sao phí phạm như vậy, không biết để dành. Tôi còn nhớ là tôi trả lời: Nếu tôi có phải chống nạn mà đi tôi cũng sẽ cho nốt cây nạn của tôi cho người nào cần hơn tôi. Anh bạn im lặng không nói gì nữa.

Tôi có gặp một anh học sinh rất trẻ và tôi có hỏi lý do anh bị bắt. Anh trả lời anh biểu tình phản đối chính phủ bắt quân nhân VNCH đi học tập cải tạo. Như vậy anh thuộc diện chính trị, có thể anh sẽ bị giam rất lâu. Anh có đem theo sách học tiếng Pháp Mauger Tome I. Tôi thương tình dạy anh ta trong suốt thời gian tôi ở trong tù.

Ở đúng được một tháng và sáu ngày, tôi được mời lên văn phòng và được lệnh phóng thích. Cùng đi với tôi có hai người nữa, trong số đó có một cô gái. Chúng tôi nhận mỗi đứa được 25 đồng làm tiềng lộ phí để về Sài Gòn. Khi thả chúng tôi ra, cán bộ hỏi tôi có phải cô gái này là vợ tôi không, có phải hai người là vợ chồng không. Tôi trả lời không thì anh này cười. Mọi người đều nghĩ rằng cô này là vợ của tôi vì khi bị bắt trên ghe công an, trên đường trở về bờ, cô này mệt quá tựa đầu trên đùi tôi mà ngủ.

Ra đến bến xe đò, chúng tôi phải ngủ ngoài trời một đêm chờ ngày hôm sau mới có vé mua. Chúng tôi nằm ngủ ở ngay dưới quầy bán vé, nên sáng ra chúng tôi là những người đầu tiên mua vé và được ưu tiên mua vé nhờ có giấy tha tù. Chúng tôi vội vã lên xe để về Sài Gòn.

Tôi được chứng kiến một hành động thật là dã man của một tay lơ xe đò. Trên chuyến xe đò, có một bà mang bấu sắp sanh. Khi thấy bà này kêu đau, tên lơ xe vội kêu tài xế ngưng xe lại và đem bà xuống bỏ ngang ở bên lề xa lộ. Sau đó xe thản nhiên bỏ đi như không có chuyện gì xảy. Giới chạy xe đò cho rằng để cho một người đàn bà đẻ trên xe của mình là một điều xui xẻo tột cùng, nên họ không ngần ngại đem vứt bà bầu ra khỏi xe. Tôi ngoái nhìn lại và thấy bà này năm một mình, lòng tôi xe thắt lại mà không biết làm gì ngoài việc cầu nguyện cho bà mẹ xấu số này.

Trong thời gian tôi còn ở trong tù, vợ của anh Thụy sau khi được thả đã đến gặp chị Huân, nói rằng muốn cho tôi ra sớm, chị ấy có phương cách để kéo tôi ra nhưng phải trả thêm ba lượng vàng nữa để đút lót. May quá chị Huân chưa kịp đưa vàng tôi đã được thả ra. Nhờ vậy chị Huân mới biết là vợ anh Thụy chỉ là một người chuyên lừa đảo, dàn dựng kế hoạch vượt biên giả để lấy tiền những người dễ tin như chúng tôi. Chúng tôi không thể nào ngờ một người có họ hàng với chúng tôi lại có thể trở mặt thành một người chuyên lừa đảo. Không biết lương tâm của họ ở đâu. Tôi chịu thua không hiểu nổi.

Con chó Nghiêm Xuân Ki

Chi Hiền và chị Huân có nuôi trong nhà một con chó pékinois. Tôi và cháu Mũn chúng tôi rất sợ con Ki. Lúc nó ăn, không ai được bén mảng đi đàng sau nó. Nó hay nấp gầm giường và bất thình lình nhảy ra cắn. Tôi lại hay thích chọc ghẹo con Ki. Tôi hay nhe răng đùa với nó, nhưng không ngờ nó cũng không vừa, nhe răng gầm gừ nhìn tôi. Một hôm tôi không nhớ lý do tại sao, con Ki nhảy ra cắn vào chân tôi. Tôi dơ chân lên nhưng nó vẫn ngoặm vào nhượng ở gần gót chân, nó treo lủng lẳng ở chân tôi. Hai chị ôm nó kéo ra. Và tôi phải ngồi ngâm chân vào xô nước nóng có pha muối cả mấy tiếng đồng hồ để không bị sưng chân. Tôi chị sợ con Ki nó dại thì phải đi chích ngừa. May quá, con Ki nó không mắc bệnh này.

Khi con Ki bị trúng gió, người cứng đơ, hai chị phải lấy rượu chổi để thoa bóp cho nó, tôi vẫn còn nhớ câu nói của Mũn với vẻ diễu cợt :

- Đáng đời mày nhé! Mày chừa cái tất cắn bậy nhé!

Sau những cuộc đụng độ với con Ki, tôi luôn để ý xem con Ki ở đâu và nó có đang ăn không và tránh nó mỗi khi thấy nó. Nhưng không ngờ một hôm con Ki cả gan cắn luôn cả anh Châu. Anh Châu đang ở dưới nhà đi lên, vừa bước lên ngưỡng cửa nhà trước, con Ki phóng vào người anh Châu và đớp ngay vào giữa đũng quần đùi và nó cắn chặt vào đấy không nhả ra. Anh Châu vừa dạng háng vừa đánh nó, mãi nó mới dứt ra. Sau đó anh Châu chưa nguôi cơn giận, một tay cầm chổi chà và một tay cầm phát trần lông gà, tiếp tục đánh con Ki. Cả nhà đều im lặng, thương sót cho con Ki.

Những đưa bạn của Mũn

Mũn có rất nhiều bạn, nhưng có một điều ngộ nghĩnh phần lớn có tên là Hương, như Ngọc Hương, Nguyệt Hương v.v. Lúc đó trong tủ sách của anh Châu có một quyển sách tựa đề « Les Lignes de la Main » của Bác sĩ Henri Mangin. Tôi đọc và nghiên cứu chỉ tay nhờ quyền sách này. Vì nó được một vị Bác Sĩ viết nên tôi tin nó có nhiều điều chính xác. Mũn kể với đám bạn bè là tôi xem tử vi và chỉ tay hay lắm. Mấy đứa bạn của Mũn đều học trường Trưng Vương, mỗi lần chúng đến chơi là réo cậu Thưởng phải xem cho bằng được. Tôi cũng chiều chúng nó và xem cho hết cả bọn. Tôi không nhớ tôi xem lúc đó có bao nhiêu phần chính xác, vì sau này tôi không còn tin tức của đám bạn của Mũn nữa. Mũn có tính hay ăn quà. Lâu lâu buổi tối nó lấy xe đạp đi mua chè về cho cả nhà ăn.

Tối đến tôi hay lấy xe đạp ra đường để đi dạo phố. Thời gian tôi ở tù, tôi gặp được một anh tên Dần. Anh này đánh trống rất tài tình và biết đánh cả piano nữa. Tôi hay lên nhà anh ấy chơi và anh hay rủ tôi đi xem ca nhạc. Bây giờ không biết anh này ở đâu vì tôi mất hoàn toàn liên lạc.

(Còn nữa)

Nguyễn Gia Thưởng