Cha danh 70. Nhà xưa trường (trích nhật của Long) (Phạm Ngọc Lân)

Lượt xem: 498

“…Người dân Đà Lạt phản đối chuyện nhà nước cho một công ty ngoại quốc thuê dài hạn cả mấy ngọn đồi ngay trung tâm thành phố để làm sân chơi golf, nhưng nhà nước vẫn làm…”

 

 

Sài Gòn, thứ sáu 26 tháng 2-1993. 

« Bánh mì đây, bánh mì đây! » Tiếng rao văng vẳng như vọng lại từ thuở xa xưa nào đó… Thời thơ ấu  sống ở Đà Lạt cũng có tiếng rao như thế, thằng bé bán bánh mì vác cái bao tải trên lưng, trong đựng  những ổ bánh thơm phức nóng giòn mới từ lò Vĩnh Chấn lấy ra. Nửa thức nửa ngủ… Mơ hay thật ? 

Nhưng khi có tiếng gà gáy rất to rót vào tai thì tôi tỉnh hẳn, và sực nhớ ra mình đang ở Sài Gòn! Mình  vừa ngủ đêm đầu tiên ở thành phố nơi mình sinh ra, mình vừa được đánh thức bởi những âm thanh quen  thuộc suốt quãng đời thanh niên đầy hứng thú vui buồn của mình. Đúng rồi, không phải mơ! Mình đã  thực sự trở lại thành phố này sau 13 năm xa cách. 

Ngọn đèn nê-ông 6 tấc, cái bàn formica, cánh cửa sổ được chống lên bằng khúc cây, nhìn ra sân có cây  xương rồng, vách nhà bên cạnh bằng gạch đỏ không tô, một khung trời bé xíu với hai cái ăng-ten ti-vi  trên nền trời hừng sáng. Vài tiếng xe gắn máy chạy qua đầu hẻm. Một giọng cải lương văng vẳng từ xa,  chắc là cát-xét của quán hủ tiếu đầu đường. 

Chưa tới 6 giờ sáng mà khu bình dân gần chợ Thị Nghè đã bắt đầu cuộc sống náo nhiệt của một ngày mới. 

Ngày hôm qua, đến đón tôi ở phi trường là Vy, cô em kế thua tôi 4 tuổi, từ Đà Lạt về Sài Gòn để đón  ông anh. Vy đưa tôi về nhà anh Đông, một người bạn thân từ xưa của Hoài, chồng Vy. Anh này sống một  mình trong căn nhà nhỏ, vợ con đã vượt biên sống ở ngoại quốc. Ngôi nhà nằm trong một con hẻm rộng  ngay bên kia chợ Thị Nghè, phía trước có cái sân dưới bóng mát một cây ổi. Khu này quá quen thuộc với  tôi vì trước kia tôi sống không xa đây lắm, trên đường Phan Thanh Giản nối dài ra xa lộ, trước khi tới ngã  tư Hàng Xanh. Tới Hàng Xanh rẽ phải đi qua nhà thờ rồi đến chợ Thị Nghè, ngay sau đó qua cầu là vào  Sài Gòn với Sở Thú nằm bên trái. Thời đó bên này cầu là Gia Định, bên kia cầu mới là Sài Gòn. Ngay  bên kia cầu, sát với Sở Thú có một hồ bơi lớn của thành phố, hằng tuần tôi vẫn đưa hai con đến học bơi ở  đó. Qua khỏi Sở Thú không xa là Đài Truyền Hình Sài Gòn nơi Mai từng là Xướng Ngôn Viên, rồi Biên  Tập Viên. Từ đó quẹo trái đến trường Đại Học Dược Khoa, nơi tôi gắn bó hơn 10 năm trời! 

Trên đường từ phi trường về Vy cho biết sẽ ngủ lại đêm ở nhà anh Đông rồi ngày mai lấy xe đò lên  Bảo Lộc thăm bà cụ vẫn còn nằm trong bịnh viện nhưng đã tỉnh táo hơn trước, và rất may là không bị á  khẩu cũng như không bị liệt nặng, chỉ có chân bị yếu chưa đi được thôi. 

Bước vào ngôi nhà nhỏ, tôi cảm thấy quá quen thuộc dù chỉ là lần đầu. Chắc là cách bố trí trong nhà,  chẳng khác mấy với nhà tôi ngày xưa. Hay là cây ổi với cái xích đu ngoài hè. Tôi có cảm tưởng khoảng  thời gian 13 năm xa cách không hề có, cảm giác như mình chưa khi nào rời khỏi thành phố ồn ào náo  nhiệt này… Chỉ việc đầu tiên đơn giản nhất là tắm cho mát cũng kéo tôi về quá khứ, vì nhà tắm có cái bể  nước lớn, và cũng có cái gáo nhựa màu đỏ. Trời nóng bức không gì bằng được « tắm xối », múc nước  trong bể xối ào ào lên đầu… cảm giác mát rượi khoan khoái! 

Buổi tối anh bạn chủ nhà rủ đi ăn ngoài, tôi muốn ăn nhẹ nên mượn chiếc xe đạp cùng anh Đông và  Vy đi ăn phở Pasteur. Đường Pasteur sau 1975 bị đổi tên như đa số các con đường khác, nhưng gần đây  đã lấy lại tên cũ. Mấy nhà cách mạng cuối cùng đã nhận ra ông Pasteur là một nhà khoa học có công lớn  trong y khoa, đâu phải một ông Tây nào đó « quan cai trị » Đông Dương đâu! Mấy xe phở ở khúc đường  Pasteur (gần nhà may áo dài Thiết Lập xưa) vẫn còn đó, phải nói là « đã trở lại sinh hoạt » thì đúng hơn,  vì trước khi tôi đi Pháp năm 1980 tôi không nhớ còn những xe phở ở khu này nữa. Thời bao cấp cái gì  cũng phải « chui » mới được, « chui » mới ngon, nên các xe phở Pasteur cũng đã « chui » vào đâu đó.  Phải chờ « đổi mới » người dân mới lại được ăn phở không cần chui mà vẫn ngon!  

Sau đó ba anh em đi một vòng « Sài Gòn by night » bằng xe đạp. Quang cảnh náo nhiệt như thời trước  75, không như thời tôi ra đi năm 1980. Nhất là các nơi ăn uống, từ các tiệm sang trọng đến các quán vỉa  hè đã trở lại sinh hoạt thật năng động trong không khí mát mẻ dễ chịu của ban đêm. 

Sáng nay ba anh em ngồi nhâm nhi ly cà-phê sữa ở quán cà-phê đầu hẻm. Đã lâu lắm tôi mới lại được  ngồi trên chiếc ghế thấp chủn nhìn cà-phê nhỏ giọt từ cái « phin » xuống lớp sữa trắng trong ly thủy tinh  nhỏ (« cái nồi ngồi trên cái cốc »). Và cũng lâu lắm tôi mới được thưởng thức món xôi đậu xanh và xôi  bắp của một bà bán xôi có cái thúng đựng 4 loại xôi màu sắc khác nhau. Lại nhớ thời hàn vi, sáng ra ăn  xôi là món quà rẻ nhất. Mà vẫn ngon miệng! 

Trước khi đi Bảo Lộc, tôi còn hai việc phải làm. Một là đến Tòa Tổng Lãnh Sự Pháp khai báo thời  gian mình có mặt tại Việt Nam. Tôi đã lấy quốc tịch Pháp sau 5 năm sống bên đó, việc khai báo tuy  không bắt buộc nhưng mọi người đều khuyên nên làm để nếu có chuyện gì bất trắc xảy ra, chính quyền  Pháp còn biết để can thiệp nếu cần. Tòa Tổng Lãnh Sự Pháp vẫn nằm chỗ cũ, trong 3 năm chờ đợi giấy tờ  đi Pháp tôi vẫn ghé qua đây thăm dò tin tức, lúc đó chỉ đứng bên kia đường gặp mấy người cùng hoàn  cảnh rỉ tai nhau những tin phần nhiều là thất thiệt. Bây giờ hoàn cảnh đã khác hẳn, tôi đi thẳng đến cổng  đưa hộ chiếu Pháp cho nhân viên gác cổng và vào trong. 

Việc thứ hai là đến thăm ông bà cụ thân sinh của một người bạn bên Pháp. Người bạn này không về  được vì lý do chính trị, nhờ tôi đến thăm vì được biết tình trạng sức khỏe của bà cụ đã suy thoái nhiều. Tuy nhà trên đường đến Chợ Lớn cũng khá xa nhưng tôi vẫn đạp xe để tìm lại cảm giác của thời xưa phải đạp xe giữa trưa nóng bức vào tận Đại Học Y Khoa Sài Gòn dạy môn Toán Thống Kê. 

Căn nhà tôi đến giống hệt căn nhà ngày xưa tôi sống với gia đình ở Cư Xá Kiến Thiết gần Nhà Thờ Ba Chuông. Một ông cụ mặc bộ quần áo nâu theo kiểu người miền Bắc, trông rất quắc thước dù tuổi đã ngoài  90. Lần đầu được diện kiến một người đã từng tranh đấu trong hàng ngũ Việt Nam Quốc Dân Đảng từ  thời xa xưa nên gây cho tôi thật nhiều xúc cảm. Ông cụ tiếp đón niềm nở với nụ cười lộ rõ niềm vui được  gặp một người tiếp xúc thường xuyên với con trai mình đã hơn chục năm không gặp. Sau khi thăm hỏi, ông cụ đưa tôi vào nhà trong, kê một cái giường có buông màn chống muỗi, trong màn thấp thoáng bóng  người đàn bà nhỏ bé nằm nghiêng không động đậy. Ông cụ nói « Nhà tôi từ nhiều năm nay không còn  biết gì nữa, từ sau khi bị tai biến mạch máu não, anh về kể với con tôi những gì anh mắt thấy tai nghe nhé ». Tôi bùi ngùi lí nhí lời gì đó không nhớ. Tôi liên tưởng đến bà cụ tôi đang nằm bệnh viện ở Bảo Lộc… Và nhận ra mình đã làm một việc thật đơn giản với mình, nhưng quan trọng như thế nào đối với một người đã gần đất xa trời không còn hy vọng gì thấy mặt con trai trước khi nhắm mắt. 

Bảo Lộc, chủ nhật 28 tháng 2-1993. 

Hôm nay mới có giờ rảnh viết tiếp… 

Trưa hôm thứ sáu đi xích lô với Vy đến bến xe đò gần cầu Văn Thánh (nằm giữa Ngã Tư Hàng Xanh và cầu xa lộ, ngày xưa có phiên chợ chiều nhỏ xíu họp tại đây), tôi lại được sống lại cảnh bến xe đò thời trước 75. Chẳng phải xếp hàng từ sáng sớm mua vé như khi đi Đà Lạt vào năm 1977 hay 78 gì đó, mà  ngược lại, những người « lơ » xe lăng xăng chạy đến mời khách lên xe mình. Cảnh tượng này là một dấu ấn cho tôi tin chắc là thời bao cấp đã thật sự chấm dứt. 

Đường đi Bảo Lộc vẫn thế, vẫn còn nhiều đoạn cần sửa chữa, nhưng xe cộ đông đúc hơn nhiều, và nhất là nhà cửa san sát, nhiều gấp bội thời tôi còn đi Vespa trên quốc lộ 20 này. Một nét độc đáo so với  bên Tây, từ xưa đến nay vẫn thế, là tài xế vẫn bấm còi liên tục khi đi ngang những khu đông dân cư, vẫn tìm cách chạy nhanh luồn lách rất nguy hiểm ở những chỗ đông người. 

Tôi sẽ không viết nhiều về cuộc hội ngộ với ông bà cụ và các em ở Bảo Lộc, đơn giản là vì rất khó để  diễn tả bằng bút mực sự xúc động trong lòng mình khi gặp lại người thân sau 13 năm xa cách. Chỉ ghi lại  đây các sự kiện để giữ làm kỷ niệm một chuyến đi khó quên. 

Đầu tiên Vy đưa tôi về cất hành lý ở nhà của Th. là em thứ chín (có nhắc đến trong đoạn 46: Rã hàng, Th. chạy từ Trung Tâm Huấn Luyện Đồng Đế về Sài Gòn vào giữa tháng 4-75), nay đã có vợ và 3 con. Nhà của Th. ở dưới thung lũng, chung quanh là đồi trà, đường vào nhà chỉ là một con đường mòn xuống dốc, trơn trợt vì cơn mưa đầu mùa, xe hai bánh cũng phải khéo lắm mới đi được. Bước vào nhà gặp ngay cha dượng tôi, ông cụ trông già yếu hẳn, dáng điệu chậm chạp nhưng đầu óc vẫn minh mẫn, rất vui mừng  gặp lại tôi. Rồi cô em dâu lần đầu biết mặt, cùng ba cháu gái còn bé thật dễ thương. 

Thăm hỏi xong Vy lại kéo tôi đi ngay lên bệnh viện Bảo Lộc gặp bà cụ đã nằm tại đây từ hơn hai tuần rồi. Đến nơi thấy mẹ đã tỉnh táo nhận ra tôi, hai mẹ con chẳng nói được mấy lời, nước mắt là chính… Th. túc trực bên giường bệnh. Có cả L. là em gái thứ 3 và M. là em gái thứ 12. M. không có chồng, về sống với anh Th. giúp đỡ lo cho cha mẹ. 

Các em kể lại bà cụ đang đêm bị tai biến mạch máu não, ngất xỉu. Th. là chủ nhà đang đi làm ở Sài Gòn không có nhà, M. phải chạy bộ đến nhà của anh nó là T. (em trai thứ 11) đánh thức dậy, cậu em này  lại chạy sang nhà bạn gần đó nhờ nó chở bằng Honda về nhà Th.. T. cõng được mẹ từ trong nhà ra đặt lên yên xe, để bà cụ vẫn ngất xỉu ngồi kẹp giữa hai thanh niên. Xe chạy từ từ đến bệnh viện. 

Tưởng tượng mất bao nhiêu thì giờ cho một tai biến cần phải cấp cứu! Vậy mà bà cụ cũng tỉnh lại ngày hôm sau, nhưng sau đó lại bị một tai biến mạch máu não thứ hai, có vẻ trầm trọng hơn lần đầu. Thế là các em vội báo tin cho hai chị lớn là Vy ở Đà Lạt và L. ở Sài Gòn, đồng thời anh thứ tư là S. ở Di Linh, và Th. đang làm việc ở Sài Gòn. Tất cả hối hả về Bảo Lộc trước tình trạng nguy kịch của bà cụ. Sau đó Vy quyết định đánh điện tín cho tôi bên Pháp, dù biết tôi đang có hoạt động chính trị bị nhà nước để ý, không biết có về được không (trong các em của tôi, chỉ một mình Vy biết chuyện này). 

Nhưng may mắn số bà cụ còn thọ nên dần dần hồi phục. Thật là một phép lạ! Và khi các em báo tin  tôi sắp từ Pháp về, bà cụ vui mừng ra mặt và chắc đã ảnh hưởng tốt đến việc bình phục. 

Hôm qua thứ bảy bà cụ được cho xuất viện. Đã nói được gần như bình thường, hai tay cử động được, chỉ có hai chân là chưa đi được thôi. Th. cõng bà cụ từ trong bệnh viện ra… 

Đà Lạt, thứ năm 4 tháng 3-1993. 

12 giờ trưa, trời nắng, cái nắng trong vắt của Đà Lạt. Xa xa vọng lại tiếng hát Châu Hà « Tình là một  chuyện muôn màu, tình là mình thành vui thật mau... », bài Tình của Văn Phụng, lẫn với tiếng chẻ củi của  hàng xóm. Đây là nhà của hai vợ chồng Vy và Hoài. 

Sau mấy ngày ở Bảo Lộc (không có lúc nào rảnh để viết tiếp nhật ký này), tôi lên Đà Lạt với Vy. Hôm  nay nhất quyết phải bỏ giờ ra để ghi tiếp cuộc về thăm quê hương đầu tiên đáng ghi nhớ này. 

Phải chờ đến lúc tôi về, tất cả 9 anh em mới lại có dịp gặp nhau, chụp tấm hình ngoài sân nhà của Th.  Cậu em này thích trồng hoa, lại có đầu óc mỹ thuật tự làm một hòn non bộ rất đẹp. 

phamngoclan_va_cacem
Hình chụp 9 anh em trong vườn nhà của Th. (em thứ 9) ở Bảo Lộc, tháng 2-1993 
Tác giả đứng giữa TA là em trai út và TT là em gái thứ 10. 

Trong số 13 anh em, ba đứa đã chết: em thứ 8 tử trận lúc 19 tuổi, hai em thứ 5 và thứ 7 mất, gián tiếp  do hậu quả chiến tranh. Em thứ 6 mất tích từ 1975, bà cụ tin là nó cũng chết rồi nên để hình trên bàn thờ  cùng với hình mấy đứa kia. Bà cụ có 9 con trai giờ còn 5. Bốn người em gái, có Vy ở Đà Lạt, L. ở Sài  Gòn, TT và M. ở Bảo Lộc. TT là em gái thứ 10, mọi người tin là trong một gia đình đông con thế nào cũng có đứa phải gánh chịu những cái không may thay cho tất cả các anh chị em: TT bị bệnh polio lúc 3  tuổi, cố chữa chạy không bị bại liệt hẳn hai chân nhưng cũng tàn tật suốt đời, lại gặp nhiều chuyện không  may, sống khổ cực một mình nuôi đứa con gái. Tôi không tin có cái số mạng oái oăm như thế, nhưng sau này nghiệm lại, có lẽ phải nói như thế để an ủi phần nào cho TT chăng? Còn TA là em trai út, cũng sống  ở Bảo Lộc, thua tôi đúng 20 tuổi, đã có vợ con. 

Thăm mộ bà ngoại và mộ em thứ 7, hai ngôi mộ này vẫn còn vì nằm ở Bảo Lộc. Còn mộ của em thứ 8  ở nghĩa trang Quân Đội Biên Hòa, mấy đứa em đã cải táng vì nghĩa trang này sau 1975 phần bị phá phách, phần bị bỏ phế hoang tàn. Mộ em thứ 5 ở một nghĩa trang ngoại ô Sài Gòn cũng được cải táng vì nhà nước lấy đất dùng vào việc khác. Nhiều nơi xảy ra hiện tượng này, tiêu biểu nhất là nghiã trang Mạc  Đĩnh Chi ngay trung tâm Sài Gòn bị dẹp để làm công viên. 

Hai ngày thứ bảy và chủ nhật, ăn uống hết nhà này đến nhà kia. Và đàn hát. Tôi nhớ chưa khi nào 9  anh em thêm dâu rể và các cháu cùng họp mặt đông đủ đàn hát như thế, có cả ông bà cụ ngồi nghe. Tất cả đều có máu văn nghệ, đều thích đàn hát, nên kéo dài tới khuya thứ bảy, may mà nhà giữa vườn trà không có láng giềng gần, không làm phiền ai. Có lúc bà cụ yêu cầu tôi hát bài Lòng Mẹ, không khí đang vui nhộn bỗng chùng xuống vì tôi mới hát được hai câu thì cảm động quá, giọng nghẹn ngào không hát được nữa, thế là bà cụ lại khóc. Mấy đứa nhỏ nhao nhao lên đòi hát bài vui để “thay đổi không khí và chương  trình”! 

Ở Bảo Lộc cũng là dịp vào thăm nơi làm việc cũ khi tôi mới ra trường đổi lên đây làm trưởng phòng thí nghiệm hơn 20 năm trước. Bệnh viện đã mở rộng nhiều so với thời 1969. Người dược sĩ trẻ rất vui khi gặp một đàn anh đã từng làm việc tại đây, hướng dẫn tôi thăm các phòng ốc mới, giới thiệu tôi thật nồng  nhiệt với tất cả mọi người. 

Một chuyện nhỏ nhưng đáng ghi lại ở đây vì có lẽ chỉ xảy ra vào thời điểm có nhiều thương phế binh ở Cam-Bốt về. Chuyện trên một chuyến xe đò từ Di Linh về Bảo Lộc. S. là em thứ tư (trước kia đi lính Sư  đoàn 3 đóng ở bờ sông Thạch Hãn, may chạy thoát về được Sài Gòn tháng 4-1975) sống ở Di Linh cách  Bảo Lộc hơn 30 cây số, mở quán karaoke, vợ làm bánh cưới cho khách hàng. S. mời cả mấy anh chị em  lên thăm nhà. Karaoke toàn hát nhạc “vàng”, nhạc “cấm” kiểu “Anh ở lại Charlie”, oang oang ngoài  đường nghe rõ, chuyện cấm đoán coi như “pha”! Khi về lúc xế chiều, ra trước nhà trên quốc lộ 20 vẫy xe  đò. Một chiếc dừng lại, leo lên, thấy hình Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp gắn trước mặt tài xế với hàng chữ “Nữ Vương Ban Sự Bình An”. Nhớ lại sau 75, khi khai lý lịch có mục “Tôn giáo”, trên tấm thẻ chứng minh  nhân dân (trước kia là thẻ căn cước) cũng có mục này, nhiều người ghi “Không” cho qua chuyện, vì ai cũng biết nhà nước Cộng Sản không thích tôn giáo. 

Chiếc xe cũ rích xộc xệch, chiếc thùng máy bên cạnh tài xế long lên sòng sọc, rú lên đau khổ mỗi khi leo dốc. Vậy mà chiếc xe đò này chạy tuyến đường từ Bảo Lộc ra tới… Hà Nội! Hỏi ra mới biết chung quanh Bảo Lộc có vùng kinh tế mới đưa người từ miền Bắc vào lập nghiệp (năm 1954 đã có nhiều đồng  bào di cư từ Bắc vào được định cư tại đây, lập nên những khu trù phú quanh Bảo Lộc mang tên Tân Thanh, Tân Phát, Tân Bùi, Tân Hà, v.v.). Do đó mới có chuyến xe đò chạy thẳng từ Bảo Lộc ra Hà Nội như thế. 

Khi xe gần đến Bảo Lộc, qua một đoạn đường có đông người, bỗng nhiên ngưng lại giữa đường, rồi ông tài xế thò đầu ra ngoài la lối om sòm. Người đàn bà ngồi thu tiền xe gần cửa lên xuống chồm ra ngoài  và biến thành con hổ dữ: “Mày muốn chết thì nói đi, tao cho mày chết!”. Có tiếng người dưới đường vọng lên, tiếng hành khách can, cuối cùng rồi xe cũng chạy được. Hỏi ra thì đó là một thương phế binh ra đứng chặn đầu xe xin tiền, nghe nói chuyện này xảy ra thường xuyên vào lúc này. 

Đến thứ hai 1 tháng 3 đi cùng Vy lên Đà Lạt. Trước đây hai vợ chồng Hoài và Vy dạy học ở trường  trung học Bảo Lộc, chính tôi cũng đã “tình cờ” dạy ở đấy một năm, niên khóa 1971-72. Sau này Hoài đổi  lên Đà Lạt, hai vợ chồng mua được căn nhà trong một con hẻm khu Cô Giang xưa. Nhà gỗ cũ, ọp ẹp,  nhưng vườn rất rộng, là một vườn trước đây trồng cây hồng ăn trái (không phải bông hồng), nhưng giờ  cằn cỗi, chẳng còn cho bao nhiêu quả nữa. 

Vào thăm trường cũ, trường Adran nơi tôi đã mài đũng quần suốt 10 năm từ thời thơ ấu đến tuổi thanh niên và Mai cũng đã dạy học tại đây trước khi đám cưới. Vẫn những ngôi nhà đó, nhưng đã hoen màu thời gian, có lẽ chưa được sơn phết lại lần nào. Bây giờ phân nửa là trường tiểu học, phân nửa là ty giáo  dục tỉnh. Nhìn cảnh cũ điêu tàn mà buồn…  

phamngoclan_truong_adran
Một góc trường Adran xưa, năm 1993 là ty giáo dục tỉnh.
Trong hình thấy một cái bệ trắng, trước kia có tượng Đức Mẹ Maria trên cái bệ này. 

Trường  Yersin  (ngày  xưa  còn  gọi  là  « Grand  Lycée »  vì  trường  Yersin  có  hai  địa  điểm,  « Grand  Lycée » là trường trung học và ký túc xá nam, còn « Petit Lycée » nằm ở đầu kia của thành phố là trường  tiểu học và ký túc xá nữ) trông xa vẫn oai nghiêm với tháp chuông và tòa nhà chính hình vòng cung, được  xem là một công trình kiến trúc hàng đầu của Đông Nam Á thời Pháp thuộc. Tiếc là khi đến gần mới thấy  cửa kính vỡ không được thay, tường nhiều nơi lở lói… Nơi đây tôi đã bao phen thi thố tài năng trong các  cuộc thi trung học đệ nhất cấp, rồi tú tài 1, tú tài 2. Chưa kể bao trận thư hùng thể thao giao hữu với các  đội của Yersin… 

lycee_yersin_dalat
Tháp chuông trường Yersin xưa, với tòa nhà chính hình vòng cung,
năm 1993 là trường sư phạm.

Trường Bùi Thị Xuân là nơi Mai và năm cô em học hết bậc trung học, cổng trường có vẻ được chỉnh  trang lại tươm tất. Đi thêm vài trăm thước là đến Đại Học Đà Lạt, ở đây Mai và một cô em đã học khoa  Sư Phạm, một cô học Chính Trị Kinh Doanh, một cô nữa học Văn Khoa và cũng chính ở đây, tại nhà nguyện Năng Tĩnh, chúng tôi đã làm đám cưới năm 1969. Linh mục Viện Trưởng Nguyễn Văn Lập đã làm lễ cưới cho chúng tôi (sau này Tòa Thánh Vatican đã phong cho cha Lập chức Đức Ông). Cả hai trường đều may mắn không bị đổi tên và không bị dùng trong một lãnh vực khác. 

Đại Học Đà Lạt thời trước 1954 là trường Thiếu Sinh Quân Pháp (trường Thiếu Sinh Quân Việt Nam sau này ở Vũng Tàu). Sau đó chính phủ Việt Nam Cộng Hòa thu hồi, sửa chữa và xây cất thêm thành  Viện Đại Học trong một khung cảnh yên tĩnh và thật nên thơ. Năm 1993 có điểm mới lạ là tại cổng trường có người gác xét giấy, nếu không là sinh viên thì phải mua vé, xem như vào thăm một thắng cảnh của thành phố! 

Tôi cũng tìm đến nhà của gia đình Mai ngày xưa, căn nhà gỗ vẫn nguyên như cũ, cùng chung số phận với rất nhiều nhà khác: chủ nhà không có khả năng tài chánh để sơn phết chăm sóc, nên trông thật cũ kỹ. Tôi được mời vào nhà, gặp bà chủ rất vui khi biết tôi là con rể của người chủ cũ. Ngồi trong phòng khách,  tôi giật mình khi thấy trên khung cửa sổ có một bức tranh vẽ lại hình của ban nhạc Beatles, bức tranh này tôi đã thấy từ năm 1968 khi lần đầu tiên bước chân vào nhà này, 25 năm sau màu sắc đen trắng đã mờ  nhạt, nhưng chủ nhân vẫn để nguyên! 

Nhưng đối với tôi, buồn nhất là khi đi qua bên kia hồ Xuân Hương, Đồi Cù thơ mộng ngày nào đã bị  rào kín, đào xới, phía trong xe ủi đất làm việc liên tục, trời mưa đất đỏ tràn xuống đường nhựa phủ một  lớp bùn lầy lội. Người dân Đà Lạt phản đối chuyện nhà nước cho một công ty ngoại quốc thuê dài hạn cả mấy ngọn đồi ngay trung tâm thành phố để làm sân chơi golf, nhưng nhà nước vẫn làm. Nhà nước cho rằng làm xong thì cái Đồi Cù mới sẽ rất đẹp, nhưng nhà nước không nhắc đến một chi tiết « nhỏ » là chỉ  có tỷ phú hay ít ra triệu phú mới có tiền vào đó chơi golf! Còn trước đây Đồi Cù là một thắng cảnh thiên nhiên mọi người đều được hưởng, và là nơi hò hẹn, dạo chơi của những người yêu nhau đến từ mọi tỉnh  thành của Miền Nam. 

Sài Gòn, thứ hai 8 tháng 3-1993. 

Từ Đà Lạt ghé Bảo Lộc chào ông bà cụ trước khi xuống Sài Gòn để về Pháp. 

Tình cờ gặp lại anh Đông (người bạn mới quen cho đã tôi tá túc ở Thị Nghè) đang có mặt tại Bảo Lộc, 

anh đi từ Sài Gòn lên bằng chiếc Honda 400, xe rất to so với tạng người bé nhỏ của anh. Sau này nghe  anh nói bây giờ Việt Nam nhiều xe mô-tô loại này lắm, đó là những xe cũ từ các nước lân cận (đặc biệt là  Singapore) nhập vào Việt Nam (không biết có phải nhập lậu không!), được tân trang lại, thường là xe còn  rất tốt. Anh Đông về lại Sài Gòn sáng hôm sau nên đề nghị chở tôi về luôn. Được lời như cởi tấm lòng,  còn gì thích thú hơn được đi xe hai bánh thay vì phải ngồi chịu trận mấy tiếng đồng hồ chật cứng trong  chiếc xe đò. 

Ngày xưa tôi từng đi Vespa từ Sài Gòn lên Đà Lạt thăm Mai vào một ngày mùa xuân năm 1969, rồi  sau khi lấy nhau, đã bao lần hai vợ chồng chở nhau bằng Vespa từ Bảo Lộc lên Đà Lạt thăm bên ngoại và  từ Bảo Lộc xuống Sài Gòn thăm bên nội. Nhớ tới lần cầu Đại Nga bị gẫy chúng tôi phải ngủ nhờ nhà  người dân ven quốc lộ, gửi lại chiếc Vespa mấy hôm sau trở lại lấy. Nhớ lần bánh xe bị sút 3 con ốc chỉ  còn 1 mà tìm lại được trên đường mưa như trút nước… Nghiệm ra khi người ta còn trẻ và nhất là khi  người ta yêu nhau thì không có gì để sợ và mọi cuộc phiêu lưu đều trở thành thú vị. 

Đi qua đèo Bảo Lộc đường ngoằn ngoèo trên 20 cây số, giữa đèo vẫn còn miếu Ba Cô, nơi đây có 3 cô  gái tử nạn từ thời Pháp thuộc, nghe nói thiêng lắm nên dân chúng lập miếu thờ. Hết đèo đến một địa điểm  du lịch mới là Suối Tiên, tiếc là không có giờ ghé vào. Rồi đèo Chuối, cầu Đại Quay và Ma-đa-gui ngày  xưa tôi phải đi thanh tra khi còn là Dược Sĩ Trung Úy ở Bảo Lộc. 

Một cảnh lạ mắt là cầu La Ngà, giờ đây con sông đã biến thành cái hồ dài theo dòng nước, do đập  nước Trị An tạo nên, trên mặt hồ là một « làng nổi » với nhiều nhà lá đặt trên những cái bè nổi trên mặt  nước. Ngồi xe mô-tô của anh Đông lại nhớ năm 1969 lúc tôi đi Vespa lên Đà Lạt, tới cầu La Ngà này đã  phải chờ mấy tiếng đồng hồ vì có chiến trận gần Định Quán, tiếng súng nổ liên tục ngay trên quốc lộ cách  đó không xa. 

Lần này ở Sài Gòn, Hoài là người hướng dẫn, Vy ở lại Đà Lạt trông nhà. Hai anh em hai chiếc xe đạp  đi đủ hang cùng ngõ hẻm. 

Trước hết tìm lại nhà cũ, tìm mãi mới ra. Đường từ cầu Phan Thanh Giản cũ ra Hàng Xanh đã làm lại  khang trang, con hẻm nơi tôi sống trước đây bị khuất sau một dãy « kiosque » xinh xắn gọn ghẽ. May mà  cái bảng Thái Hòa khuất sau dãy kiosque vẫn còn ở đầu hẻm, nên mới nhận ra đường vào nhà cũ. Căn nhà  phía trước vẫn thế, nhưng đã phá bỏ cái hàng ba hẹp vì con hẻm được mở rộng thêm. Chủ nhân mời tôi  vào nhà, rất vui vẻ niềm nở. Nói cái ao phía sau ngày xưa nuôi cá nay đã lấp, phía trước con hẻm mở rộng  thêm và đắp cao thêm, nhưng mùa nước lớn vẫn bị ngập đều đặn, và chuyện nước tràn vào nhà là thường  xuyên. Ngày xưa con hẻm thấp hơn, cũng bị ngập nước đều đặn theo thủy triều, nhưng chưa khi nào bị  nước vào trong nhà. Ghé qua mấy người hàng xóm cũ còn ở đấy, tất cả đều tay bắt mặt mừng, ai cũng rất  vui gặp lại, mời vào uống nước kể chuyện xưa thời bao cấp, chuyện đi họp tổ buổi tối, chuyện xếp hàng  mua gạo… 

Cư xá sinh viên Đắc Lộ nay đã trở thành tòa soạn báo Tuổi Trẻ. Anh Đông làm việc ở đấy nên đưa  Hoài và tôi vào thăm chốn cũ. Lên chỗ phòng mình ngày xưa trên lầu 1, nay vách tường ngăn phòng được  phá bớt nên ba bốn phòng ngủ nay thành một phòng lớn, nơi làm việc của biên tập viên. Một điểm ngộ  nghĩnh là tại một bàn làm việc, nói chuyện với một thanh niên tại đấy, khi anh biết tôi từ Pháp về, anh nói ngay « Tôi đang lên khuôn báo Đoàn Kết ở Paris của anh đây nè! » Từ vài năm nay, nhóm biên tập báo Đoàn Kết ở Paris đã phải trả lại tờ báo cho nhà nước vì không theo đúng đường lối chủ trương của Đảng nữa, và tách ra lập tờ Diễn Đàn Forum. Tờ Đoàn Kết vẫn tiếp tục xuất bản ở Paris hàng tháng, nhưng ít người biết tờ báo được thực hiện trong nước, hôm nay tôi được chứng kiến tận mắt chuyện này. 

Bên trong ngôi nhà trước kia là cư xá nay đã thay đổi nhiều, nhưng bên ngoài vẫn còn nguyên cây sung rất to ngay cửa vào, với hai cái ghế đá tôi đã từng bao lần ngồi « tán dóc » hay «tán thật » với mấy tên thích nói chuyện chính trị. Mấy con tắc kè trên cây sung này nổi tiếng vì mình bé xíu mà tiếng kêu inh ỏi, luôn cất tiếng để phá giấc ngủ trưa của mấy chàng sinh viên lười biếng! Đặc biệt nhất là giữa sân vẫn còn nguyên bức tượng của Alexandre de Rhodes, linh mục dòng Tên người Pháp đã soạn cuốn từ điển Việt Bồ La đầu tiên (tiếng Việt dịch ra tiếng Bồ Đào Nha và tiếng La Tinh) vào thế kỷ 17, được xem như  cha đẻ của chữ Quốc Ngữ, tuy chữ viết này đã được các linh mục người Bồ Đào Nha sáng tác ra vài chục năm trước ông. 

phamngoclan_cuxa_daclo
Bức tượng Alexandre de Rhodes, cha đẻ của chữ Quốc ngữ,
trong khuôn viên của cư xá sinh viên Đắc Lộ xưa, năm 1993 là  tòa soạn báo Tuổi Trẻ. 

Cũng như trường Adran Đà Lạt, trường Đại Học Dược Khoa Sài Gòn là nơi tôi có nhiều gắn bó, trước  hết là thời gian sinh viên, sau đến thời gian tôi giảng dạy tại đấy, tổng cộng hơn mười năm. Nên bước chân qua cổng trường sau 13 năm vắng bóng  cho tôi một cảm giác là lạ…  Các tòa nhà cũ vẫn còn nguyên, chỉ có thêm một nhà mới sát mặt đường Đinh Tiên Hoàng dùng làm văn phòng hành chánh. 

Gặp ba vị Khoa Trưởng kế tiếp nhau, trước 75 là Giáo Sư Nguyễn Vĩnh Niên, sau 75 thời gian tôi còn dạy ở đó là Giáo Sư Nguyễn Kim Hùng nay cũng đã về hưu, và bây giờ là một vị khác tôi cũng được giới thiệu. Gặp lại mấy đồng nghiệp cũ, và ba sinh viên học với tôi ngày xưa nhận ra thầy cũ, bây giờ cũng  thuộc ban giảng huấn tại đây. Tất cả đều tay bắt mặt mừng. 

phamngoclan_daihoc_duockhoa
Hình chụp tại Đại Học Dược Khoa năm 1993. Bên trái là Giáo Sư Nguyễn Vĩnh Niên,
bên phải là Giáo Sư Nguyễn Kim  Hùng, hai khoa trưởng trước và sau 1975.
Đứng giữa là chị Sinh và anh Phước cùng thời với tác giả trước kia, dạy Vật Lý.

Một ngạc nhiên thích thú khi tôi lên phòng Toán Lý trên lầu 2 của tòa nhà chính, gặp một người trẻ dạy Vật Lý, bạn này đưa tôi đi thăm một vòng, hình như không có gì thay đổi. Ngạc nhiên tôi muốn nói ở  đây là trong một tủ sách, cuốn giáo trình Toán Thống Kê in ronéo mà tôi soạn từ 16 năm trước vẫn nằm  đó, và bạn trẻ cho tôi biết là hiện nay vẫn được dùng làm tài liệu giảng dạy! 

Tôi mơ mơ màng màng… cảm giác như thời gian 13 năm vắng bóng không hề có…

(Còn tiếp)

Phạm Ngọc Lân

Cha vô danh – Chuyện kể cuộc đời một người Việt lai Pháp