Cha danh 54. Trại cải tạo Long Khánh (Phạm Ngọc Lân)

Lượt xem: 380

“…Trong trận này, tất cả xác chết đều là người Việt  Nam, có người đến từ miền Bắc, có người sống ngay trong Nam. Không có xác một người Mỹ nào cả, vì các binh đoàn lính Mỹ đã rút về từ năm 1973 sau hiệp định Paris…”

hoctap_caitao05

Buổi chiều ngày thứ 41 trong trại cải tạo L9T1 ở Trảng Lớn, có lệnh tất cả tập họp ngoài sân, đứng  theo đội ngũ của mình. 

Suốt ngày hôm đó, không khí như có một cái gì bất thường, mọi người ngong ngóng xem có biến cố gì  sẽ xảy ra hay không. Có lẽ do có tiếng xe cam-nhông nổ máy từ xa vọng lại, tiếng rì rầm của cả một đoàn  xe chứ không phải tiếng máy nổ của một chiếc xe chạy qua đường. 

Sau khi tất cả các tù cải tạo đã xếp hàng ngay ngắn theo từng A, một bộ đội đứng tuổi, ra dáng cấp chỉ  huy dù không ai biết cấp bậc gì, bước ra trước hàng ngũ, tay cầm tờ giấy. « Ngày hôm nay có lệnh trên  biên chế lại thành phần trình diện học tập cải tạo. Yêu cầu những người tôi gọi tên bước ra khỏi hàng  ngũ và tập họp phía sau tôi. » 

« Biên chế » là một tiếng được dùng nhiều từ ngày có chế độ mới. Long tra từ điển thấy đó có thể là  động từ, có nghĩa là « sắp xếp lực lượng theo một đội ngũ nhất định », cũng có thể là danh từ, có nghĩa là  « số người chính thức làm việc trong một cơ quan nhà nước. » Sau này ai cũng biết câu « được vào biên  chế » vì nó có nghĩa là được tuyển dụng chính thức vào làm việc cho nhà nước. 

Nhưng trong buổi tập họp ngoài trời này, « biên chế » rõ ràng là sắp xếp lại thành phần của các A. Sắp  xếp theo tiêu chuẩn nào thì chưa ai biết, vì cách mạng vẫn làm việc kiểu bí mật như thế. Chỉ có thể đoán thôi (1). 

Và hồi hộp chờ đợi xem mình có « được » hay « bị » gọi tên hay không. Đến phiên A của Long, chỉ có  một mình Vinh bị gọi. Vẫn không ai biết tại sao anh bác sĩ Vinh, bạn Long từ thời cư xá sinh viên Đắc  Lộ, lại có tên trong « bảng vàng » hay « sổ đen » này. Nhưng dần dần mọi người vỡ lẽ : những người bị  gọi đều thuộc thành phần biệt phái về ngành cảnh sát, hoặc ngành xây dựng nông thôn bị cách mạng gọi  mỉa mai là « quan cai trị » để « đàn áp nhân dân » ! Như vậy rõ ràng chuyện biên chế này là để tách các  thành phần mà họ xem là « ác ôn », « có nợ máu » ra khỏi những người tù cải tạo khác. 

Vinh biệt phái về làm bác sĩ trong bịnh viện cảnh sát ở Sài Gòn. Không phải anh muốn về ngành cảnh  sát, mà thật ra chỉ muốn được đổi về Sài Gòn. Trước kia anh phục vụ trong một bịnh viện của quân đội ở  tỉnh lẻ, khi xin biệt phái anh muốn được về Sài Gòn, cũng như Long và nhiều bạn khác. Lúc đó chỉ có  một chỗ trong bịnh viện cảnh sát nên anh không có chọn lựa nào khác. 

Khi nghe gọi tên mình, Vinh lẳng lặng bước ra khỏi hàng ngũ. Long nhìn bạn mình đi mà lòng vô cùng  ái ngại, nhưng chẳng biết làm gì khác hơn là trông theo… Rồi đây số phận bạn sẽ ra sao? 

Trong khi đó thì người bộ đội vẫn tiếp tục gọi tên, đám người tập trung phía sau anh ta càng ngày càng  đông thêm. Khi hết danh sách, anh ta ra lệnh số người còn lại vào nhà lấy hết đồ dùng cá nhân và 10 phút  sau phải ra tập họp lại ngoài sân, còn những người bị gọi ra đứng riêng thì được đưa đi đâu không biết. 

Ra đến nơi tập họp mới, A của Long được bổ sung thêm một người cho đủ 10 người. Chàng nhớ lại  cảnh ở trường Taberd 41 ngày trước, lần này cũng thế : một đoàn xe cam-nhông Molotova lần lượt vào  đậu trong sân trại, cứ 3 A gồm 30 người lên một chiếc, một bộ đội ôm súng AK ngồi canh chừng, mui bỏ  xuống bịt bùng. Đến 8 giờ tối đoàn xe bắt đầu chuyển bánh. Long bùi ngùi nghĩ đến Vinh, không biết số  phận của những người bị gọi ra khỏi hàng sẽ ra sao. Với chính quyền cách mạng, chuyện gì cũng có thể  xảy ra… 

Đoàn xe chạy suốt đêm, tờ mờ sáng đến nơi. Trại này hoàn toàn khác trại ở Trảng Lớn. Đất đỏ thay vì  đất cát, nhà gạch có tường, có cửa ra vào, cửa sổ, có nền xi-măng chứ không phải nhà chỉ có mái và cột  với nền đất như ở Trảng Lớn. Ngược lại, trại rất nhỏ so với trại cũ, và chỉ có một cái giếng cho cả ngàn  người ! 

Cũng như khi đến Trảng Lớn, trong cả ngàn người tù luôn luôn có người biết rõ đây là đâu. Nơi này  trước đây là căn cứ của Sư Đoàn 18 Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, đóng ở Long Khánh, cách Sài Gòn  chưa đến một trăm cây số về phía đông. Căn cứ này rộng lớn nhưng được chia thành những trại nhỏ ngăn  cách nhau bằng hàng rào kẽm gai. Trại L9T1 của Long nằm trên khu đất trước kia thuộc Tiểu Đoàn Quân Y Sư Đoàn 18, trong số các bạn tù có người đã từng phục vụ tại đây. 

Long Khánh nổi tiếng trong tháng 4-1975 trước khi chiến tranh chấm dứt vì nơi đây diễn ra trận chiến  ác liệt cuối cùng trước khi miền Nam thất thủ. Chính xác hơn phải nói là « trận chiến ác liệt duy nhất » từ khi miền Bắc quyết định dứt điểm miền Nam vào đầu tháng 3-1975. Trong trận Long Khánh đã có rất nhiều người chết, những người bị hy sinh vào giờ chót. Trong trận này, tất cả xác chết đều là người Việt  Nam, có người đến từ miền Bắc, có người sống ngay trong Nam. Không có xác một người Mỹ nào cả, vì các binh đoàn lính Mỹ đã rút về từ năm 1973 sau hiệp định Paris. 

Trong trại Long Khánh này, cũng như ở Trảng Lớn, các B trưởng cũng phải lên bộ chỉ huy họp hằng  ngày để nhận chỉ thị. Và chỉ thị thường ngày vẫn là « ổn định chỗ ăn chỗ ở ». Người tù cải tạo giờ đây đã  quá  quen  thuộc  với  khẩu  hiệu  này,  và  cũng  đã  từ  lâu  không  còn  nhắc  đến  chuyện  « 10  ngày »  hoặc  chuyện « học xong thì về » nữa. Mỗi khi đến một trại mới là phải « ổn định chỗ ăn chỗ ở » xem như mình  sẽ sống lâu dài tại đây. Lâu dài là bao lâu ? Không ai biết. 

Trong trại này, A của Long nằm trong một cái phòng có nền xi-măng, nằm thẳng trên nền nhà, không  có ván lát làm giường như ở Trảng Lớn. Và chật chội hơn nhiều. Cái khổ nhất ở đây là vấn đề nước. Cả  ngàn người mà chỉ có một cái giếng lớn giữa sân. Giếng có vách đất, không xây nên khi kéo nước lên  bằng tay, cái gầu đụng vào thành và đất đỏ rơi xuống làm nước đục ngầu, phải mấy tiếng đồng hồ mới  lắng được. Nên muốn có nước trong phải kéo nước từ sáng sớm khi chưa có ai dùng, chỉ một lúc sau là  nước bắt đầu đục, và dần dần biến thành nước đỏ quạch ! 

Cũng may lúc đó đang là mùa mưa, nên mỗi lần mưa là mọi người hứng nước mưa từ giọt gianh trên  mái tôn chảy xuống, và thú vị nhất là được tắm mưa ! Long khám phá ra cái thú này vì hồi nhỏ chàng  sống ở Đà Lạt là xứ lạnh đâu biết tắm mưa là gì ! 

Vùng Long Khánh rất trù phú vì đất tốt lại mưa nhiều, nên quang cảnh xanh tươi không như ở Trảng  Lớn nắng cháy. Long Khánh cung cấp rau quả cho Sài Gòn, đặc biệt là chuối. Mọi người hy vọng ở đây  sẽ được ăn nhiều chất tươi hơn, và quả thật, lâu lâu có được cái bắp cải. Nhưng không khi nào có một trái  cây gì, kể cả chuối là trái cây thông thường và rẻ tiền nhất mọc ngay trong vùng. Còn gạo thì còn tệ hơn ở  Trảng Lớn. Các bao gạo có in chữ Tàu chẳng ai hiểu là gì, chỉ chứng tỏ gạo đến từ Trung Quốc từ thời  chiến tranh, chắc đã tích trữ từ lâu trong rừng nên bị ẩm ướt và bị mục, nhiều hạt đã bị mọt ăn trống rỗng  chỉ còn vỏ. Gạo như thế dĩ nhiên chẳng còn một chút sinh tố nào nữa cả. Sau vài tháng ăn uống kiểu đó, ít  nữa có đến một phần tư thành phần tù cải tạo bị phù thũng vì thiếu sinh tố B1 có trong vỏ gạo. Long cũng  bắt đầu thấy mặt mình phình lên. Các bác sĩ tù cải tạo khuyên mọi người phải bớt ăn mặn, nhưng ăn gạo  mục lại thêm không có chất tươi thì làm sao tránh khỏi các bệnh do suy dinh dưỡng ! 

Ngày Quốc Khánh 2 tháng 9 năm 1975 nghe đồn sẽ có thịt để « cải thiện » bữa ăn. Quả đúng như thế,  ngày hôm đó mỗi B được chia một phần thịt, chia đều ra cho từng A, mỗi A được hơn một lạng cho 10  người. A của Long bàn lui tính tới, chắc ăn nhất là thái nhỏ nấu cháo với muối, như vậy sẽ không mất đi  một tí nào, mọi người lại được húp cháo thịt mừng ngày Quốc Khánh ! Muốn thái thịt phải có dao, mà  đâu có ai được mang dao vào trại tù ! Nhưng cuối cùng thì ai cũng có cái lưỡi dao chế bằng miếng sắt  niềng thùng đạn có rất nhiều ở Trảng Lớn, mài đi cho sắc dùng làm dao cũng tạm được. 

Một lần khác, không biết có dịp gì đặc biệt hay không, mỗi A được một hộp sữa bò, sữa đặc có đường  hiệu Ông Thọ. Cả A lại họp, lại bàn lui tính tới xem phải dùng hộp sữa kiểu nào cho được « tối ưu », có  nên để dành ăn từ từ hay là thanh toán ngay một lúc. Rút cuộc qua một cuộc « trưng cầu dân ý », đa số  chấp nhận giải pháp « một phút huy hoàng rồi thôi », đổ cả hộp sữa vào với gạo nấu cháo sữa, mỗi người  được húp một ít, vừa ngọt vùa bổ. Riêng Long chưa khi nào ăn cháo sữa cả, vì cứ tưởng tượng là đã ngán  rồi, vậy mà lần này húp lại thấy ngon ơi là ngon ! 

Tại trại Long Khánh này, Long khám phá ra một cái thú mới : thuốc lào ! Cho đến hết trung học,  chàng sống nội trú trong trường dòng Adran ở Đà Lạt nên không hút thuốc lá cũng là điều dễ hiểu. Về Sài  Gòn học đại học, bạn bè rất nhiều người hút thuốc, thời đó là một cái « mốt », kể cả sinh viên trong cư xá  Đắc Lộ phần đông đều hút, chính linh mục giám đốc cư xá người Canada cũng hút. Bạn bè thân thiết mời  nhau điếu thuốc là chuyện thường ngày, nên Long cũng đôi khi thử hút trong những lúc tán gẫu, nhưng  chàng chưa khi nào mua bao thuốc lá vì chàng rất sợ bị nghiện, vì biết tính mình dễ đam mê. 

Mãi đến sau này khi đã lập gia đình và dạy học từ năm 1973, không biết « ma đưa lối quỷ dẫn đường »  thế nào mà chàng lại bắt đầu nghiện hút « píp » mặc dù nhiều khi bị Mai cằn nhằn. Píp là một từ phiên âm  từ tiếng Pháp « pipe » là cái tẩu (trong Nam còn gọi là ống vố) do người Pháp đem theo họ khi vào Việt  Nam, cùng với loại thuốc hút đặc biệt « Caporal » (còn có hỗn danh là « Le Gros Cul ») dùng cho píp, có  mùi rất mạnh so với thuốc lá điếu. Thời kỳ lính Mỹ đến Việt Nam có hai hiệu thuốc píp là « Half and  Half » và « Mixture No 79 » rất thơm, do các siêu thị PX của Mỹ bán ra. Sau này còn có hiệu Amphora  của Hòa Lan trình bày bằng bao giấy với nhiều màu, mỗi màu có độ nặng nhẹ và hương thơm khác nhau.  

Khi đi trình diện tại trường Taberd, Long mang theo cái píp của mình và một bao Half and Half; vào 

trại cải tạo chàng hút rất tằn tiện, nhưng rồi cũng đến lúc hết thuốc. Khi còn ở Trảng Lớn, những tay 

 

2 Phạm Ngọc Lân : Cha vô danh – Chuyện kể cuộc đời một người Việt lai Pháp   

nghiện thuốc lá nhờ bộ đội mua « thuốc rê » trong vùng, về cuốn hút thay thuốc lá. Thuốc rê đối với ai  không quen thì khó hút vì nặng hơn thuốc lá nhiều, nhưng trong trại cải tạo thì chẳng chê cái gì cả, có để  hút là may rồi. Cái khó là phải tìm ra giấy cuốn thuốc để hút. Long dùng thuốc rê nhét vào tẩu để hút,  cũng « đỡ ghiền ! » 

Khi lên Long Khánh, không biết ai đó trong trại nhờ được bộ đội mua thuốc lào, loại thuốc lào của  người di cư vùng Xóm Mới Gò Vấp rất ngon. Thế là bỗng nhiên nảy sinh ra « dịch thuốc lào », nhiều  người thi nhau làm điếu cày với những vật liệu nhặt nhạnh trong trại. Điếu cày tương đối đơn giản, chỉ  cần cái ống tre hay ống nhôm chứa nước phía dưới, đục cái lỗ để cắm vào cái nõ là chỗ dùng nhét viên  thuốc vào để đốt. Cái khéo léo là ở chỗ chế tạo cái nõ này, đầu phía trong nhúng vào nước làm sao cho  khi hút tiếng kêu nghe vang ro ro… Thuốc lào là một loại cây thuốc tương tự như thuốc lá, nhưng khi hút  nặng hơn nhiều. Long cũng đã từng thử như các bạn khác khi sáng sớm bụng còn đói hút một điếu thuốc  lào xong là ngã ngửa ra vì say! Nhưng dần dần rồi quen và… ghiền! 

Có thể nói hút thuốc là thú tiêu khiển duy nhất trong cuộc sống của người tù không có bất cứ một thú  vui nào. Long biết nhiều bạn trước kia chưa từng đụng tới điếu thuốc lá, vậy mà cuối cùng cũng trở thành  nghiện thuốc lào sau một thời gian sống trong cảnh tù đày. 

Những tháng đầu trong trại cải tạo có thể nói là gian khổ nhất, vừa về thể xác lẫn tinh thần : thay đổi  đột ngột từ nếp sống bình thường ở bên ngoài qua nếp sống khắc khổ cùng cực ở bên trong. Tuy nhiên cái  khổ về tinh thần quan trọng hơn nhiều, vì không biết sẽ còn phải sống như thế bao lâu nữa, không thấy tia  hy vọng gì của một ngày về, và cũng rất sợ nếu có bịnh truyền nhiễm thì sẽ có bao nhiêu nạn nhân bỏ  mạng trong trại… Một người tù bị kết án còn biết trước ngày về, dù bị kết án 6 tháng hay 5 năm hay 10  năm, còn người tù cải tạo đã « tình nguyện » vào trại nên không biết khi nào mới được ra. Và bị hoàn  toàn cắt đứt liên lạc với gia đình, không có tin tức gì về mình lọt ra ngoài, cũng không có tin tức gì của  gia đình lọt được vào trong. Vợ con không biết mình còn sống hay đã chết, còn sống thì ở đâu, trong  Nam, ngoài Bắc, có ở nơi rừng thiêng nước độc nào đó không ? Cứ nghĩ đến gia đình vợ con anh B. qua  đời ở Trảng Lớn vì vết phỏng không được chữa trị đúng mức, đến giờ này chắc vẫn không có tin tức gì về  cái chết của chồng mình, của cha mình… gia đình vẫn tưởng anh đang sống trong một trại nào đó. Trong môi trường sống như thế, đã có những anh em bắt đầu có dấu hiệu quẫn trí. 

Một buổi chiều đẹp trời vào cuối tháng thứ ba kể từ ngày trình diện ở Sài Gòn, các B trưởng họp trên bộ chỉ huy về báo một tin sốt dẻo: mọi người sẽ được trao đổi thư từ với gia đình. Tin vui vì ít nữa gia  đình mình cũng biết mình còn sống đâu đó. Tin dữ vì nó có nghĩa là sẽ phải chịu đựng cảnh tù đày này  lâu dài. 

Quy định rất nghiêm ngặt. Mỗi tháng được viết một lá thư và được nhận một lá thư. Thư phải viết trên  một trang giấy, nội dung tuyệt đối không được tiết lộ một chi tiết nào về cuộc sống trong trại cải tạo, nhất  là không được cho biết mình đang ở đâu, và phải viết với tinh thần « tích cực », có nghĩa là chỉ nói những điều tốt mà thôi, và phải động viên gia đình « chấp hành tốt các quy định của nhà nước », để không ảnh hưởng xấu đến việc học tập cải tạo của chồng mình, cha mình, con mình. 

Giấy và phong bì được các B trưởng đem về phân phát. Long viết: « Anh vẫn mạnh khỏe, vẫn học tập  tốt lao động tốt để sớm được về với gia đình, em và các con đừng lo lắng gì cả… » Đại khái nội dung các  lá thư đều như thế, quan trọng là vợ nhận được thư có chữ của chồng mình, thế thôi. Viết hết một trang  giấy, bỏ vào phong bì, viết địa chỉ, không được dán lại, nộp cho các B trưởng để đưa lên ban chỉ huy. Giống như khi học trung học làm bài luận văn theo chủ đề được thầy cô nêu ra. Làm xong cũng nộp bài, thay vì nộp cho thầy cô, thì bây giờ nộp cho quản giáo qua trung gian của các B trưởng. 

Không biết thư có được gửi đi hay không mà cả tháng sau, khi được phép viết cái thứ hai theo quy  định mỗi tháng một cái, vẫn chưa ai nhận được thư trả lời của gia đình cả ! 

Cứ thế, cuộc sống vẫn tiếp tục, dù trong điều kiện khó khăn nào chăng nữa bản năng sinh tồn của con  người vẫn mạnh hơn hết các nhu cầu khác. Bản năng này mạnh mẽ nhiều hay ít còn tùy cá tính của mỗi  người được phơi bày trần trụi trong hoàn cảnh sống không còn quần là áo lượt, không còn phân biệt giàu  nghèo, không còn chức tước địa vị xã hội. Ông Giáo Sư Đại Học nằm gần anh cựu sinh viên của ông phải  đi lính vì thi rớt. Ông cựu Thống Đốc Ngân Hàng phải xếp hàng như mọi người trước nhà bếp để lấy cơm  ăn cho đỡ đói. Long khám phá ra là trong hoàn cảnh cùng cực của sự sống còn, con người dễ để lộ ra bản  chất của mình với tất cả các tính tốt cũng như tính xấu, vì không còn gì để che đậy nữa. 

Một nguồn giải trí của phần đông các bạn chung quanh Long là « đài phát thanh CBĐ », nhái theo đài 

BBC Luân Đôn là đài mọi người đón nghe khi còn ở nhà để biết tin tức chính xác về thời cuộc. CBĐ là viết tắt của « cây bã đậu ». Sở dĩ có cái tên đó vì trong sân của trại nắng chói chang có một cây bã đậu (2) duy nhất tỏa bóng mát, là nơi tụ tập của một số « phóng viên » hằng ngày mon men ra đấy « lấy tin tức».  Chẳng ai biết nguồn tin từ đâu ra, và dĩ nhiên tin đồn thất thiệt là chính. Nhưng vẫn là đề tài để giải trí, cứ  đến giờ trưa lại có phóng viên thu thập tin tức của đài CBĐ về báo lại cho các bạn khác, bàn ra tán vào  xem cái tin đó khả tín đến mức nào, v.v. cũng qua được thời giờ « đấu láo ». Một cách để nuôi dưỡng  chút hy vọng, dù hy vọng có mong manh đến mấy chăng nữa, một chút còn hơn không. 

Vậy mà cũng có khi tin CBĐ không đến nỗi thất thiệt lắm. Đó là trường hợp tin một người sắp được  về, đài CBĐ loan tin hai ngày trước. Hai ngày sau, quả nhiên có một chiếc xe hơi dân sự lái vào trong bộ  chỉ huy trại, ngăn cách với trại của Long bằng hàng rào kẽm gai nhưng nhìn qua thấy được. Một lúc sau  một người tù cùng trại với Long nhưng ở khá xa ôm ba-lô qua bên đó, rồi leo lên xe đi. Đó là thời gian  đúng hai tháng sau ngày trình diện ở trường Taberd. Chưa ai học tập chính trị một ngày nào cả. 

Vẫn theo nguồn tin của CBĐ thì anh chàng này có « gia đình cách mạng » là « cán bộ cao cấp » bảo  lãnh cho đương sự được về sớm, cam đoan sẽ được « học tập cải tạo ngay trong gia đình cách mạng ».  Chẳng biết tin chính xác đến mức nào, có thêm mắm thêm muối nhiều ít cũng chẳng ai biết đấy là đâu ! 

Trong mấy ngày sau đó, thêm vài người nữa được thả về, rồi bẵng đi một tháng, CBĐ loan toàn tin  thất thiệt. Cuối tháng thứ ba có thêm hai trường hợp đặc biệt nữa. Cũng như mấy người được về trước đó,  hai người này chưa học chính trị một chữ nào. 

Trở lại với sinh hoạt « ổn định chỗ ăn chỗ ở », một hôm có tin một số B sẽ dọn nhà. Không phải chuyển đi trại khác, mà chỉ là mở rộng trại cũ vì quá chật chội. Phía ngoài trại của Long có cái dốc thoai thoải xuống một dòng suối, trước đây không ai được xuống đấy. Gần suối có một dãy nhà gạch bỏ hoang từ lâu, nay sẽ dùng làm chỗ ở cho tù cải tạo. 

Trong số các đơn vị sẽ dọn nhà, có A của Long. Được tin này chàng một mình lén đi thăm dò trước  chỗ ở mới xem sao. 

Dãy nhà được chia thành từng căn, có lẽ dành cho gia đình binh sĩ trước đây. Mỗi căn đủ chỗ nằm cho 10 người của một A, có một cái sân nhỏ phía sau rồi đến một cái chái nhỏ chia ra một phần làm nhà bếp, một phần là cầu tiêu có hệ thống dội nước đàng hoàng. Đây là một « tiện nghi siêu việt » không ngờ được  trong trại cải tạo, vì cho đến bây giờ cầu tiêu chỉ là những cái hố gần bờ rào do người tù đào lấy, bắc ván lên làm chỗ ngồi. Không cần đi vào chi tiết, ai cũng mường tượng được những chỗ như thế bẩn thỉu hôi  thối như thế nào. Nên dãy nhà này mỗi căn có cái « cầu tiêu máy » thì quả là ngoài sự mơ tưởng của  người tù cải tạo! 

Nhưng ngoài ưu điểm đó, những căn nhà này không có nền xi-măng mà chỉ là nền đất cỏ mọc um tùm, cửa ra vào và cửa sổ không còn cánh cửa. Cũng may là mái tôn không bị lủng và tường gạch vẫn còn nguyên. Nhưng đối với người tù cải tạo thì như thế cũng là « tươm tất » lắm rồi. 

Trong khi thăm thú chỗ ở tương lai của mình, vào một căn nhà Long thấy trong đám cỏ dại có mấy cái  lá khoai mì (tiếng Bắc là cây sắn). Vạch cỏ ra xem, đúng là một cây khoai mì non, thân bị đạp đổ từ hồi nào nằm dài theo mặt đất nhưng đầu vẫn cố ngửng lên sống mạnh sống hùng. Chàng nhổ lên thì được hai củ nhỏ bằng ngón tay cái, ngắn cỡ nửa gang tay. Nhưng mà quý lắm. Từ ngày bước chân vào trại tù cải  tạo, đây là lần đầu chàng tìm thấy một thức ăn tươi. Chàng lưỡng lự, trong A của chàng mọi người đã thân thiết nhau, cái gì cũng chia đều, thế hai củ khoai mì bé tí này có đem về chia cho mọi người ăn  chung không? Chia ra thì mỗi người chẳng được bao nhiêu, chàng nghĩ thế. Nghĩ lại thì thấy ăn một  mình cũng ích kỷ, nhưng mà lâu quá không được ăn một cái gì tươi cả… Chàng đem về tìm cách luộc mà không cho ai biết, rồi ăn ngấu nghiến, chưa khi nào củ khoai mì lại ngon như thế! Trước đây ở nhà chàng đã từng ăn những củ khoai to, hoặc ăn khoai mì có thêm dừa nạo, muối mè và đường nhưng chưa khi nào  chàng cảm nhận được cái ngon đặc biệt của hai củ khoai mì này! Ăn xong rồi, trong lòng vẫn áy náy vì đã không chia cho các bạn khác. 

Và mấy chục năm sau, chính cái áy náy đó đã làm Long vẫn còn nhớ câu chuyện hai củ khoai mì bé tí  tẹo kia. Mỗi lần nhớ lại, chàng phải nại ra một cái cớ để gọi là được hưởng « trường hợp giảm khinh »: lúc đó chàng đói, đói lắm!

(còn tiếp)

Phạm Ngọc Lân

Cha vô danh – Chuyện kể cuộc đời một người Việt lai Pháp  

Ghi chú:

(1) Sau này, “biên chế” trong trại cải tạo đồng nghĩa với “dọn nhà”, đổi qua trại khác. Nên nghe nói “biên chế” là hãi hùng vì đến trại mới lại phải “ổn định chỗ ăn chỗ ở” không biết bao lâu mới xong… 

(2) Cây bã đậu còn gọi là cây vông đồng có tên khoa học là Hura crepitans, họ Euphorbiaceae. Đặc biệt thân có rất nhiều gai cứng. Khi thụ huấn 9 tuần quân sự năm 1969 ở Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung, tác giả lần đầu thấy loại cây này, trồng rất nhiều dọc theo đường đi ở đấy để có bóng mát.