Cha danh 53. Bốn mươi mốt ngày ổn định chỗ ăn chỗ (Phạm Ngọc Lân)

Lượt xem: 361

“…Cái chết của anh B. đánh dấu một giai đoạn mới trong tâm tư của người tù cải tạo. Trong một cái trại đông đúc như thế này, với điều kiện ăn uống thiếu thốn như thế này, với điều kiện vệ sinh tối thiểu như  thế này, với sự thiếu thốn thuốc men như thế này, nếu có một bệnh truyền nhiễm bột phát thì chuyện gì sẽ xảy ra?...”

hoctap_caitao04

Sau ba ngày « rất quan trọng » dành cho việc khai lý lịch, đời sống trong trại cải tạo lại trở về mức  « bình thường ». Có nghĩa là tiếp tục « ổn định chỗ ăn chỗ ở ». Mỗi buổi sáng các B trưởng lên bộ chỉ huy  nhận chỉ thị. Mỗi ngày vẫn có người ngóng họ về, hy vọng có một tin mừng nào đó. Và mỗi ngày đều thất  vọng. Phải công nhận niềm tin giúp cho người ta dễ sống hơn nên mặc dù câu hỏi « chừng nào bắt đầu học ? » đã từ lâu trở thành lỗi thời, vẫn có người đặt nó ra. 

Long tiếp tục viết nhật ký mỗi khi rảnh rỗi. Viết đều đặn. Chữ nhỏ li ti, xuống hàng không theo vạch kẻ sẵn trong vở mà gần nhau hơn để tiết kiệm giấy. Vì lúc đó mỗi người chỉ có 3 cuốn vở được phát từ  những ngày đầu. 

Chuyện hằng ngày chẳng có gì đáng để « chạy tít hàng đầu », nhưng cuộc sống bất bình thường trong  một trại cải tạo có những chuyện lặt vặt cũng đáng ghi lại. Chẳng hạn chuyện ba anh chàng tới giờ cơm  đến bếp lấy phần cơm của mình như mọi người, nhưng đặc biệt luôn luôn xin thêm miếng cơm cháy,  cũng là một món « quý » của nhà bếp. Ba chàng mặt mũi sáng sủa, cao ráo, nhưng mặc quần đùi bạc  phếch và áo may-ô đã bắt đầu rách (cũng như đa số các bạn tù khác), đặc biệt là luôn luôn đi với nhau nên  được gọi là « ba chàng Ngự Lâm Pháo Thủ ». Không ai có thể tưởng tượng ngoài đời thường, đó là ba vị  bác sĩ trẻ có phòng mạch nổi tiếng đông khách, trong đó có một vị dạy Đại Học Y Khoa. 

Có lẽ không đến nỗi nói ngoa khi bảo rằng các trại cải tạo ở Trảng Lớn – riêng vùng này chắc có đến  cả chục trại– có một mật độ bác sĩ, dược sĩ và nha sĩ cao nhất thế giới ! Vì những trại này dành riêng cho  quân nhân biệt phái, mà biệt phái nhiều nhất là các ngành y tế và giáo dục. Trong trại của Long khoảng  một ngàn người, chắc phải đếm được cả trăm bác sĩ ! 

Một ngày nào đó mỗi trại không còn « vô danh » nữa mà được gán cho một mã số. Trại của Long có  tên là L9T1. Nghe nói L là chữ đầu của « Lán », T là chữ đầu của « Trại », L9T1 : lán số 9, trại số 1. Lần  đầu trong đời Long nghe nói đến « Lán », tra từ điển thấy ghi là « nhà dựng tạm, sơ sài, thường bằng tre  nứa », chẳng hiểu như vậy chữ L có đúng là lán hay không… 

Trại của Long tiếp giáp với một trại khác, chỉ cách một hàng rào kẽm gai. Có lệnh nghiêm cấm các tù  cải tạo trong trại này tiếp xúc với trại kia, nhưng tối đến vẫn có người mon men đến hàng rào hỏi thăm tin  tức trại kế bên xem có gì mới lạ không. Và Long khám phá ra trại hàng xóm này có 4 bạn học thời cư xá  sinh viên Đắc Lộ, trong đó có 3 bác sĩ. Một trại khác không sát cạnh trại L9T1 nhưng cách một bãi trống  khá rộng, nhìn từ xa thấp thoáng thấy bóng nhiều phụ nữ, chắc hẳn là một trại dành cho nữ quân nhân.   Đàn ông con trai sống trong cảnh tù đày thiếu thốn đủ mọi thứ, về tâm lý thì hoang mang tột độ vì không  biết tương lai ra sao, không biết chừng nào về, suy ra đàn bà con gái chân yếu tay mềm, có chịu đựng nổi  cuộc sống quá khổ cực này không … 

Trong thành phần quân nhân biệt phái, ngoài hai ngành y tế và giáo dục còn có những người biệt phái về các ngành khác, đặc  biệt là Bộ Nội Vụ (sĩ  quan  cảnh  sát) và Bộ Xây Dựng Nông  Thôn (cán  bộ  XDNT). Những người này được huấn luyện trong việc lùng tìm cán bộ cộng sản nằm vùng, nên có nhiều kinh nghiệm với cộng sản hơn. Họ được quản giáo trong trại gọi là « quan cai trị », và sau này số phận của họ sẽ rất khác với các thành phần thuần túy về chuyên môn. 

Nhật ký của Long cũng có nhiều chuyện lặt vặt về ăn uống. Sống bên Tây bên Mỹ thời nay đi đâu  cũng nghe lời khuyên « không nên ăn béo quá, không nên ăn ngọt quá, không nên ăn mặn quá ». Lời  khuyên rất chí lý trong những xã hội tiêu thụ thái quá, cái gì cũng phải « nhiều ». Có nhiều người nghe thế không dám đụng đến dầu mỡ (nhưng vẫn phải dùng những sản phẩm do pha trộn nhiều chất béo hóa học khác nhau), không dám đụng đến đường (nhưng vẫn phải dùng đường hóa học), thịt kho cá kho cũng  nhạt phèo vì sợ mặn ! Nhưng đã sống trong các trại cải tạo rồi thì sẽ thấm thía là các chất béo, chất ngọt,  chất mặn cần thiết cho cơ thể đến chừng nào! 

Đối với Long và các bạn tù, chất béo thì chẳng khi nào thấy đã đành, mà chất ngọt cũng thế. Long  bỗng thèm ngọt một cách khó tả, như chưa khi nào thèm thế. Nhìn quanh mình thì ra… ai cũng thèm, không phải chỉ riêng mình « hảo ngọt » ! May mà ở Trảng Lớn vùng Tây Ninh có sản xuất đường thẻ là  một loại đường mía đóng khuôn thành từng thẻ, nhâm nhi cũng khá ngon ! Có một anh chàng bộ đội nhận đi mua đường thẻ về cho tù cải tạo, ai cũng thầm biết ơn, anh chàng có ăn lời nhiều hay ít cũng không ai để ý đến chuyện nhỏ nhặt đó.   

Một hôm trời về chiều, Long ngồi một mình một góc viết nhật ký thì thấy có một người bạn ở nhà bên cạnh đang đi lững thững ngoài sân, bỗng ngừng lại và cúi xuống nhặt một cái gì nhỏ xíu giữa đám cỏ. Anh bạn đó cầm nó lên, lấy ngón tay phủi phủi rồi đưa vào miệng, nét mặt tươi rói ! Long không thấy nó  là cái gì, nhưng đoán chắc chỉ có thể là một miếng đường thẻ của ai đó làm rơi vãi. Chàng nghĩ nếu mình đang đi mà gặp được miếng đường như thế trong cỏ, chắc chắn cũng sẽ làm như anh bạn, chẳng sợ bẩn  cũng chẳng ngượng ngùng gì! Miếng đường thẻ nó quý như vậy đó! 

Đã nói chuyện đường thì cũng phải có chuyện muối cho đủ bộ! Muối được cung cấp trong một bao tải vài chục ký, chưa khi nào Long thấy loại muối to hạt và lẫn với đất cát như thế. Chắc là muối vét dưới  đáy của ruộng muối nên mới bẩn như vậy. Muối này được chia cho từng A 10 người để dùng nấu thức ăn.  Trong A của Long, một phần muối để làm bếp chung, phần còn lại chia đều cho 10 người. Long phải nghĩ ra một cách để có muối trắng, chàng dùng cái « gô » hòa tan muối trong nước, càng ít nước càng tốt, rồi  dùng khăn mùi-soa vải (thời đó còn dùng khăn vải, chưa dùng khăn giấy) lọc phần đất cát bỏ đi, chỉ còn  lại nước muối trong. Rồi phơi cái gô ngoài nắng nóng như thiêu của tháng 7 cho tới khi nước bốc hơi hết,  chỉ còn lại hạt muối trắng tinh. Đúng là Long đã làm lại quy trình sản xuất muối trong các ruộng muối  dọc bờ biển, đặc biệt là ở Hòn Khói mà chàng đã đến xem khi còn là học trò. 

Cái gọi là « gô » là một lon sữa bột hiệu Guigoz, được gọi tắt là « gô » cho tiện. Loại sữa này nhập cảng từ Âu châu (nguyên thủy sữa Guigoz ra đời năm 1908 ở Thụy Sĩ). Khác với lon sữa bò, lon sữa  Guigoz lớn hơn, bằng nguyên liệu nhẹ hơn, không hoen rỉ, và quý nhất là có cái nắp đậy rất kín. Lon này  bán ve chai có giá hơn lon sữa bò nhiều, vì rất thông dụng. Đựng đường, đựng bột, đựng đồ khô làm bếp… Đặc biệt người lao động dùng để đựng cơm mang theo ăn trưa. Long có linh tính thế nào không  biết mà đã bỏ một cái « gô » vào ba-lô của mình khi đi trình diện ở trường Taberd, vào trại cải tạo mới  thấy nó quý vô cùng. Và chàng ngạc nhiên là rất nhiều bạn tù cũng mang theo cái gô như thế! 

Chuyện vui trong trại cải tạo phải nói là hiếm có, nhưng người ta cũng không bỏ dịp nào để « giải trí », và Long cũng không bỏ lỡ dịp ghi lại trong cuốn vở của chàng. Một hôm có anh chàng thấy một con ếch nhỏ bằng hai ngón tay trong đường mương chạy quanh nhà, dùng cho nước mưa chảy thẳng từ mái tôn  xuống đó vì không có ống máng. Anh chàng vồ con ếch, nhưng hụt, thế là nó chui vào trốn dưới cái cầu  gỗ bắc qua đường mương để đi vào nhà, gọi là cầu thật ra chỉ là những tấm ván (lấy từ thùng đạn) bắc từ  sân vào nhà cho dễ đi. 

Tin đồn có con ếch loan đi rất nhanh trong trại, hứa hẹn một bữa thịt ếch nướng, ngon phải biết, dù nó  chỉ to bằng hai ngón tay chập lại ! Nhưng loay hoay mãi không làm sao cho nó ra khỏi chỗ ẩn nấp dưới  cái cầu gỗ. Bỗng có một anh chàng nói hồi còn nhỏ ở dưới quê chuyên môn câu ếch bằng bông dâm bụt màu đỏ, hình như con ếch thích màu đỏ. Thế là anh chàng tìm được một sợi chỉ và một miếng ni-lông  màu đỏ (tìm đâu ra cái này trong trại cải tạo, giỏi thật !) và trổ tài cho mấy chục con mắt đứng quanh nín  thở chờ kết quả. Tưởng nói đùa, vậy mà hóa thật, sau nhiều phút hồi hộp, con ếch nhào ra đớp miếng  nhựa đỏ, và nhanh như cắt anh chàng chuyên câu ếch từ bé vồ lấy nó không xẩy đi đâu được, giữa tiếng ồ  thích thú của khán thính giả! Đấy, một trò giải trí đơn sơ và lành mạnh trong trại cải tạo! 

Nhưng không phải chỉ có những mẩu chuyện lặt vặt đó. Một hôm xảy ra một tai nạn sẽ biến thành một thảm họa. 

Vào một buổi sáng khoảng 8 giờ, cái bếp gần nhà Long bỗng có lửa phừng lên rất nhanh nhưng dập tắt  được ngay. Nhắc lại mỗi B 40 người có một cái bếp để nấu cơm và đun nước sôi. Khi nước sôi trong cái nồi to, nhà bếp kêu mọi người đến lấy về để nguội để uống, thường là dùng cái « gô » dự trữ nước để  uống trong ngày. Đó là cách duy nhất để khử trùng trong nước uống lấy từ mấy cái giếng. Sáng hôm đó,  cái bếp của B bên cạnh nhà Long có 5, 7 người xúm quanh nồi nước sôi để múc nước cho vào gô, bỗng nhiên ở cửa bếp bùng lên một ngọn lửa lớn làm anh B. bị phỏng từ dưới đùi lên đến bụng. Thì ra khi  nhúm bếp, phải dùng vài viên thuốc bồi của pháo binh cho củi dễ bắt lửa, hôm đó thay vì phải cẩn thận cất cái túi vải đựng thuốc bồi xa bếp lửa sau khi dùng, thì bao thuốc bồi bị bỏ quên ngay trước cửa bếp. Khi mọi người cúi xuống lấy nước sôi trong nồi, chân một người nào đó vô tình đẩy cái bao thuốc bồi vào  trong cửa lò nên nó phừng lên một ngọn lửa lớn làm phỏng người đứng ngay trước cửa lò. 

Các bác sĩ xúm lại xem xét vết phỏng khá nặng của anh B., nhưng không có phương tiện thuốc men gì để cứu chữa, vội vàng báo lên ban chỉ huy trại. Anh B. được mấy bộ đội đưa lên bệnh xá của trại, cũng  không biết ở đâu. Bác sĩ rất đông trong trại, nhưng không ai được phép lên bệnh xá để chăm sóc anh B. cả. 

Ba ngày sau, cũng vào  buổi sáng, một anh bộ  đội trên ban chỉ huy xuống  yêu  cầu hai người tình nguyện lên ban chỉ huy để công tác. Đây là chuyện thường ngày, có những việc tạp dịch cần làm ở ngoài trại, ban chỉ huy dùng đến vài người tù cải tạo tình nguyện. Công việc có thể nặng nhọc hay không, không  biết trước, nhưng vẫn có nhiều bạn tình nguyện vì đi làm như thế được ra khỏi trại là một điều bổ ích về  mặt tâm lý. Hôm đó hai người tình nguyện là hai người bạn khá thân của Long mới làm quen trong trại. 

Đến trưa họ về, Long là người đón họ đầu tiên hỏi về công tác sáng hôm đó. Họ kể lên ban chỉ huy đưa cho hai người cuốc xẻng và ra lệnh đào một cái hố khá to và sâu. Đào cũng mệt lắm mới xong. Sau đó  ban chỉ huy khiêng ra một cái gì đó bó trong tấm ni-lông buộc chằng kín, rõ ràng là một thi thể cuốn trong  bao ni-lông. Hai người được lệnh đặt thi thể vào trong hố và lấp đất lại. Họ không hề được cho biết đó l  ai, cũng không biết là sau đó có ai cắm tấm bia để đánh dấu nơi chôn cất người quá cố hay không. Nhưng hai anh bạn làm công tác này chắc chắn đó là thi thể anh B. bị phỏng đưa xuống bệnh xá 3 ngày trước. 

Tin dữ loan ra rất nhanh. Mọi người bàng hoàng. Các bác sĩ xem xét vết thương của anh B. ba ngày  trước khẳng định là tuy vết phỏng khá nặng, nhưng trong điều kiện chữa trị bình thường thì không đến nỗi phải thiệt mạng. Nhưng trong các xứ nhiệt đới, vết phỏng không chăm sóc kỹ lưỡng rất dễ nhiễm  trùng, mà không có thuốc kháng sinh để chống vi trùng thì con người rất dễ gục ngã, nhất là khi cơ thể đã  yếu đuối vì thiếu dinh dưỡng trong điều kiện sống của trại cải tạo… Trong bệnh xá này chắc chẳng có  thuốc men đầy đủ, và nếu có, cũng không biết anh B. có được chăm sóc đúng mức không… 

Không ai biết anh B. đã trải qua ba ngày cuối cùng của đời mình như thế nào, và cũng không ai có cách nào để báo cho gia đình anh B biết. Anh B. lớn tuổi hơn Long nhiều, sống ngay nhà bên cạnh nên chàng cũng làm quen và chuyện trò qua lại. Long còn nhớ dáng người gầy ốm, dong dỏng cao, ăn nói từ  tốn, đặc biệt là tóc đã trắng xóa mặc dù chưa đến tuổi già. 

Cái chết của anh B. đánh dấu một giai đoạn mới trong tâm tư của người tù cải tạo. Trong một cái trại đông đúc như thế này, với điều kiện ăn uống thiếu thốn như thế này, với điều kiện vệ sinh tối thiểu như  thế này, với sự thiếu thốn thuốc men như thế này, nếu có một bệnh truyền nhiễm bột phát thì chuyện gì sẽ xảy ra? Sẽ có bao nhiêu người thiệt mạng? 

Hoang mang vì đã bị lừa về chuyện 10 ngày, hoang mang không biết ngày nào về, bây giờ lại hoang  mang vì cái chết có thể đến quá dễ dàng… 

Để chống lại cái hoang mang tập thể đó, Long càng chú tâm hơn vào chuyện viết nhật ký, như một liều  thuốc an thần giữ cho mình niềm tin có ngày trở về với gia đình. Đó là những lúc chàng tập trung nghĩ  đến vợ vì là thư viết cho vợ, nghĩ đến hai đứa con thơ lúc nào cũng hiện diện trong trí não. Thấm thoát  chàng đã viết kín cả một cuốn vở 100 trang, bắt đầu sang cuốn thứ hai. 

Viết nhật ký cũng là một cách « xé lịch » vì mỗi ngày chàng  đều bắt đầu bằng « Ngày...  tháng...  năm... » kèm theo ngày thứ mấy trong tuần bảy ngày, và quan trọng hơn nữa là ngày thứ mấy kể từ ngày  đầu tiên bước chân vào nơi trình diện là trường Taberd. Cuốn nhật ký giúp chàng đếm chính xác từng  ngày trong tù. 

Vào ngày thứ 41, một sự kiện quan trọng đến với các người tù trại cải tạo L9T1. 

(còn tiếp)

Phạm Ngọc Lân

Cha vô danh – Chuyện kể cuộc đời một người Việt lai Pháp