Cha danh 51. Mười ngày đầu tiên của chương trình học tập cải tạo mười ngày (Phạm Ngọc Lân)

Lượt xem: 541

“…Trong A của Long có một anh cũng Đại úy như các bạn khác, nhưng biệt phái về Xây Dựng Nông Thôn. Anh này kinh nghiệm đầy mình với cộng sản, lẩm bẩm cho ai muốn nghe thì nghe: «Giá chót 3 niên ! »…”

hoctap_caitao02
Một lớp học tập cải tạo của những quân nhân VNCH do chính phủ cách mạng lâm thời
CHMNVN tổ chức tại Vĩnh Long, ngày 1 tháng 6 năm 1975.
Ảnh: hinhanhlichsu.org

Trường Taberd vào một buổi chiều hè oi ả gợi cho Long nhớ đến một buổi chiều oi ả khác 13 năm về  trước, khi chàng vừa tập tễnh những bước đầu trong cuộc đời sinh viên của mình. Đậu tú tài ở Đà Lạt, chàng thanh niên 18 tuổi tràn đầy nhựa sống về Sài Gòn ghi danh Đại Học với bao nhiêu ước vọng về  tương lai. Một vị Sư Huynh Lasan là thầy cũ ở Đà Lạt cho chàng ở tạm vài ngày cũng trong trường Taberd này trước khi tìm ra chỗ ở trọ. 

Năm đó trường cũng vắng vẻ như bây giờ vì nghỉ hè, học sinh nội trú đã về nhà hết. Hôm nay trở lại đây trình diện học tập cải tạo, trong một thoáng Long quên cái phũ phàng của hiện tại để đắm mình trong khung cảnh của thời tuổi trẻ ngây thơ đó, làm như thời gian đã ngưng đọng từ 13 năm qua. Vẫn hàng cây  cổ thụ rợp bóng mát trên đường Nguyễn Du, vẫn dãy nhà đồ sộ với lối kiến trúc xưa của người Pháp để lại. Vẫn cái cổng sắt lớn cho xe hơi, cổng sắt nhỏ cho người đi bộ… 

Nhưng cảm giác lâng lâng nhẹ nhàng đó tan biến ngay khi Long bước qua cổng nhỏ vào trong trường. Người gác cổng xưa không còn nữa, thay vào đó là mấy người bộ đội đầu đội nón cối, chân đi dép râu. 

Một cái bàn bày chắn lối đi, người bộ đội ngồi sau bàn ghi tên Long vào một cuốn sổ, rồi hỏi Long giấy tờ tùy thân. Chàng đưa thẻ kiểm tra. Người bộ đội ghi chi tiết vào sổ, cất thẻ vào trong ngăn kéo và nói « Từ giờ trở đi anh không cần giấy tờ của ngụy cấp cho anh nữa. Anh còn giấy tờ gì khác không ? »  Chàng không mang theo giấy tờ gì khác, bằng lái xe chàng cố ý để ở nhà. « Anh có đem theo vũ khí, hay dao kéo, vật dụng sắc nhọn không ? » Dĩ nhiên Long chẳng dại đem theo những thứ « quốc cấm » đó theo  làm gì. 

Chàng chợt khám phá ra là giờ đây mình không còn bất cứ giấy tờ gì trong người nữa cả. Long trở  thành một « sinh vật vô danh » trong cái xã hội mới này. Chàng nghĩ thầm, cái quan trọng là quyền công  dân mình còn bị tước đoạt, sá chi ba cái giấy tờ lẻ tẻ! Nghĩ vậy nhưng lòng vẫn gợn lên một chút quặn  thắt. 

Xong thủ tục ghi tên – mà bây giờ gọi là « đăng ký », Long bắt đầu làm quen với những từ ngữ mới –  chàng vác ba-lô đi vòng qua bàn kiểm soát bước vào sân trường Taberd, sau khi vẫy tay chào cậu em của Mai còn đứng ngoài đường nhìn vào. Long chở cậu em này đến đây bằng chiếc xe đạp mi-ni để có người  đem xe về. Lúc ở nhà Mai muốn đi theo nhưng chàng không cho, bảo ở nhà trông con, Quân chưa đầy 5  tuổi, Quyên mới hơn 3 tuổi. Khi thấy Mai bắt đầu nước mắt chạy quanh, chàng nói “Em đừng lo, đi như đi cắm trại chứ có gì đâu, em ráng một mình lo cho con, 10 ngày anh lại về!” Chàng không muốn có cảnh chia tay bịn rịn ở trường Taberd nên không muốn Mai đến tận nơi tiễn chân mình. 

Nàng năn nỉ chàng mang theo lọ dầu cù-là và ít thuốc nhức đầu, đau bụng, nhưng chàng cũng không chịu, “Em không sợ các bạn anh tụi nó cười cho à! Đi như đi cắm trại mà mang theo thuốc men lỉnh  kỉnh!”. Nhưng trái lại chàng có mang theo một món đồ chắc không ai có, đó là một cái túi ngủ màu xanh  nước biển có hoa nhỏ li ti rất đẹp, loại túi chỉ dùng ở xứ lạnh, ở Sài Gòn có ai dùng nó làm gì! Cái túi được cuốn thật chặt cho nhỏ lại nhưng cũng không thể bỏ trong ba-lô, phải buộc bên ngoài. Tuy chỉ là loại mỏng nhưng khi trời lạnh có thể dùng làm chăn đắp, còn bình thường lót nằm như tấm nệm mỏng rất  tốt. Chính cái túi ngủ này mới là đề tài để các bạn chế diễu, “đi học tập cải tạo mà còn mang theo đồ dùng tiểu tư sản”! 

Nhưng đó là chuyện về sau. Còn vào buổi chiều ngày thứ hai 23-6 này, Long đang lững thững trong sân trường Taberd. Đây là sân trước cũng là sân « danh dự », dùng cho các buổi lễ, sân sau mới dùng làm  sân chơi cho học sinh. Sân trước vuông vắn, có cây to rợp mát, có thảm cỏ xanh mướt, có ghế đá dọc lối đi. 13 năm trước chàng cũng đã ngồi trên một ghế đá này, bên cạnh người thầy cũ, phân tích cho chàng  những lợi điểm của ngành Dược. Chàng ngắm nhìn cảnh vật quen thuộc, không thấy gì khác cả. Hình như  cuộc « đổi đời » vẫn chưa thấm được qua các bức tường kiên cố của khu nhà cổ này. 

Trong sân có từng nhóm người túm năm tụm ba nói chuyện xầm xì, càng ngày càng đông thêm với  những người mới từ ngoài cổng vào. Cũng có những tay lững thững một mình như Long. Nhiều người nhìn chàng chăm chú. Chắc họ nghĩ « Sao lại có tên trông chẳng phải Việt Nam tí nào mà cũng vào đây  trình diện học tập cải tạo ? » Chàng lại nhớ mới hôm trước, khi đi vào một con hẻm ở Thị Nghè thăm  người bạn, mấy đứa con nít xầm xì « Liên Xô ! Liên Xô ! » Thì ra chàng bây giờ đã thành cố vấn Nga,  sau khi đã là cố vấn Mỹ, và trước đó nữa là « Tây lai ăn khoai cả vỏ… » 

Đang còn mải mê suy ngẫm về thân phận mình, muốn được yên thân làm người Việt Nam mà không  được, bỗng chàng nghe gọi  « Martin! ». Không phải gọi tên Việt Nam là  « Long ! » mà  gọi tên Tây  « Martin ! » rõ ràng. Quay lại, Long xiết bao vui mừng khi nhận ra Vinh đang đi cùng với một bạn khác.   

Khi còn sinh viên Vinh cùng ở cư xá Đắc Lộ như Long, thời đó trong cư xá có vài bạn cùng học với Long ở Đà Lạt nên biết tên Tây và gọi Long bằng tên đó nên các bạn khác bắt chước gọi theo nghe cho « lạ  tai » ! 

Giờ đây Vinh là bác sĩ, cũng biệt phái như Long, làm việc tại bịnh viện Cảnh Sát. Vinh giới thiệu với Long người bạn cũng vừa gặp lại trong sân trường Taberd này, tên là Hòa, cũng là cựu sinh viên Đắc Lộ.  Nhưng Long không biết vì Hòa lấy vợ sớm nên ra khỏi cư xá trước khi Long vào. Hòa là bác sĩ biệt phái làm việc tại bịnh viện Nhi Đồng. 

Cả ba đều mừng rỡ gặp lại nhau trong hoàn cảnh khó khăn này, giữa bao nhiêu khuôn mặt xa lạ. Ý tưởng đầu tiên đến với cả ba người là phải ráng làm sao sống gắn bó với nhau trong thời gian học tập cải tạo này. Vì đã từng biết nhau từ thời sinh viên, và đã được hấp thụ cùng một đường hướng giáo dục cũng  như trình độ học vấn nên cả ba người bạn nghĩ đó là những yếu tố căn bản vững chắc để sống hòa hợp trong môi trường xa lạ này. Hòa lớn tuổi nhất trong ba anh em nói lên điều này trước tiên, Long và Vinh đồng ý ngay, phải tìm cách cùng chung một đội khi bắt đầu có tổ chức. 

Và chỉ lát sau có lệnh tập họp trong sân. Hai bộ đội ra lệnh mọi người xếp hàng, mỗi hàng dọc 10  người : « Các anh được sắp xếp theo tổ chức của Quân Đội Nhân Dân Việt Nam: 10 người họp thành một A, bốn A họp lại là một B gồm 40 người, ba B họp thành một C gồm 120 người. » Long, Vinh và Hòa đứng vào chung một hàng dọc 10 người, được đặt tên là A7. 

Sau đó mọi người di chuyển vào trong một nhà chơi rộng để nghe những lời đầu tiên của một bộ đội  mà sau này sẽ gọi là « quản giáo ». « Các anh đều tự nguyện đến đây để học tập cải tạo. Cách mạng sẽ xem xét khoan hồng với các anh vì sự tự nguyện này. Trong suốt thời gian dài sống dưới chế độ Mỹ  ngụy, đầu óc các anh đã bị méo mó vì những tuyên truyền láo khoét của ngụy quyền. Các anh đã có tội với nhân dân – có thể là tội tày trời nữa là khác – mà có khi các anh không biết. Nhưng Cách mạng luôn luôn chủ trương khoan hồng với những ai trót lầm đường lạc lối nhưng giờ đây biết thực tâm hối cải, và  vì vậy các anh đến đây học tập cải tạo để trở thành những công dân có ích cho xã hội. » Và cứ thế tiếp tục trong gần nửa giờ đồng hồ. Sau cùng người quản giáo hỏi có ai có câu hỏi gì không, mọi người im phăng  phắc. Long thở phào nhẹ nhõm vì không ai thắc mắc gì cả. Kinh nghiệm trong một đám đông như thế,  thường có một vài phần tử « không giống ai » cứ phải đặt câu hỏi, kéo dài thời gian chịu đựng lải nhải  của mấy cái máy nói… Nhiều khi chẳng có gì cần phải hỏi cũng cứ hỏi! 

Sau « diễn văn mở đầu », mỗi A phải tìm ra một A trưởng. Nếu không có ai tình nguyện thì một người sẽ bị chỉ định. Vinh và Long đề nghị Hòa làm A trưởng, Vinh giới thiệu với 7 người còn lại bác sĩ Hòa tương đối lớn tuổi hơn trung bình các thành viên khác của A. Mọi người chấp nhận, và Hòa cũng nhận lãnh trách nhiệm mặc dù biết trước là những chức vụ như thế chỉ gây phiền toái cho cá nhân mình, nhưng  cũng là một cách giúp ích cho cả 10 người trong A nếu mình khéo léo trong cách điều hành. 

Sau đó các A được đưa lên lầu, vào các lớp học của trường Taberd, mỗi người tìm cái ghế dài hay cái  góc phòng để ngủ qua đêm. Rồi các A trưởng được gọi lên cho biết nếu ai cần mua bánh mì thịt thì đưa tiền sẽ có người đi mua về ăn tối. 

Qua một đêm. 

Ngày hôm sau thứ ba 24-6, số người tiếp tục đến trình diện đông hơn ngày đầu, và cũng được hàng ngũ hóa thành những A 10 người. Đêm hôm đó, khoảng 3 giờ sáng, có tiếng xe cam-nhông ngoài đường rồi tiếng người nhốn nháo dưới sân. Long thức giấc ra ngoài hành lang nhìn xuống thì thấy rất đông người mới vào sân. 

Sáng hôm sau được biết đó là những sĩ quan cấp úy biệt phái như Long, trình diện ở trường Nguyễn Bá Tòng, sau 2 ngày ở đấy nay tập trung về trường Taberd. Nhân số tại đây bây giờ đông gấp bội, các  quản giáo quyết định tổ chức lại các A. Cũng may là Long vẫn chung một A với Vinh và Hòa, và lại có  dịp làm quen thêm một bác sĩ mới đến là Môn, cùng rủ chung vào một A.  

Môn có chung với Long một đặc điểm hiếm thấy trong môi trường này : cả hai đều là « Tây lai ».  Nhưng ngoài ra, hai người không có gì giống nhau nữa cả. Môn xuất thân từ một gia đình danh giá và  giàu có, học Y khoa bên Pháp về, dáng người bệ vệ, cùng chiều cao như Long nhưng chắc phải tám chục ký là ít, trong khi Long chỉ có sáu mươi… 

Thấm thoát 3 ngày trôi qua ở trường Taberd. 

Chưa thấy đả động gì đến « học tập cải tạo » cả, mọi người đều sốt ruột và bắt đầu đặt câu hỏi. Người ta nói mình phải chờ. Nhưng chờ gì ? « Các anh đừng lo, cách mạng lo cho các anh. » Rồi câu hỏi mọi người đều đặt ra : thế 3 ngày này có kể vào 10 ngày không? Đa số nghĩ là không, vì đã bắt đầu học tập gì đâu! 

Qua hôm sau thì không khí ngột ngạt đã lên đến độ không thể làm ngơ được nữa, nên các A trưởng và B trưởng được gọi lên bộ chỉ huy để giải thích. « Có sự chậm trễ là do gặp khó khăn trong tổ chức, các  anh đừng lo gì cả, phải tin tưởng tuyệt đối vào cách mạng. » 

Cuối cùng thì sau 4 ngày ở trường Taberd, vào đêm ngày 26 rạng ngày 27-6, lúc 2 giờ sáng, mọi người bị đánh thức dậy và được lệnh mang theo đồ đạc xuống dưới sân tập họp theo đội ngũ của mình. Các A trưởng được lệnh phải kiểm soát đầy đủ túc số của A mình. Sau đó mọi người lần lượt được hướng dẫn ra ngoài bằng cổng sau của trường Taberd mở ra đường Gia Long. Từ đó quẹo trái đến đường Hai Bà Trưng đã có một dãy xe cam-nhông Molotova chờ sẵn, dãy xe dài đến độ không thấy đầu đuôi đoàn xe đâu cả. Một khung cảnh đặc biệt trên đường Hai Bà Trưng, bình thường con đường này rất sầm uất, nay chỉ có  những chiếc xe cam-nhông đen ngòm im lặng nối đuôi nhau  trên đường phố vắng tanh vì lệnh giới nghiêm ban đêm vẫn có hiệu lực. Những chiếc xe trước kia chở quân từ Bắc vào Nam nay dùng để chở những người thua trận, chở đi đâu chưa biết. 

Long và các bạn trong cùng A được hướng dẫn đến một chiếc xe, cùng với hai A khác. Mỗi chiếc xe 30 người được lệnh leo lên, sau cùng một bộ đội cầm súng AK cũng leo lên ngồi sát phía sau. Trong ca-bin cạnh người lái là một bộ đội khác. Bạt xe được kéo xuống cài lại kín bưng. Người bộ đội ra lệnh  không được nói chuyện, không được hút thuốc. Thời gian chờ đợi kéo dài cả giờ để hàng mấy ngàn người bị chất lên đoàn xe dài dằng dặc. Rồi cũng đến lúc xe nổ máy và chuyển bánh, đi đến một nơi không ai biết trước. 

Nhưng dù ngồi bịt bùng trong xe kín bưng, những người dân Sài Gòn như Long đã thuộc lòng đường phố cũng nhận ra dễ dàng các đường đi qua, nhất là đoàn xe dài như thế phải đi rất chậm. Đường Hai Bà Trưng về phía tây bắc, rồi quẹo trái. Chỉ có thể là đường Hiền Vương với những tiệm phở gà nổi tiếng.  Sau khi qua nhiều đường mà mọi người thầm nhận ra dù không thấy gì bên ngoài – Pasteur, Công Lý, Trương Minh Giảng…  – đoàn xe quẹo phải và từ đó cứ đi thẳng mãi không đổi hướng nữa. Đúng là  đường Lê Văn Duyệt đi qua Hòa Hưng, Chí Hòa, Ngã Ba Ông Tạ, Ngã Tư Bảy Hiền và như thế là trực chỉ Tây Ninh và biên giới Cam-Bốt theo quốc lộ 1. 

Khoảng 6 giờ sáng, xe ngừng lại, người bộ đội leo xuống và nói mọi người phải ngồi tại chỗ, giữ im lặng. Vài tiếng nói cất lên yêu cầu mở tấm bạt, vì không khí kín bưng, mọi người bắt đầu ngộp thở, người bộ đội ra phía trước nói gì đó với người ngồi trong ca-bin rồi trở lại hé mở tấm bạt, và dặn mọi người tiếp  tục ngồi im. Nhìn ra ngoài thì thấy xe ngừng trên đường giữa đồng không mông quạnh, không hiểu vì lý do gì. Khi đoàn xe chuyển bánh lại, Long chăm chú nhìn ra ngoài qua kẽ hở của tấm bạt và thấy một chiếc xe bị lật ngang nằm dưới hố bên đường. Không hiểu bằng cách nào đoàn xe chạy chậm như vậy mà có thể xảy ra tai nạn ? Chắc là tài xế ngủ gục… Dù sao thì chẳng ai có lời giải thích về tai nạn này, và nếu  Long không thấy tận mắt chiếc xe nằm nghiêng bên đường thì cũng không thể biết được. Mãi về sau có  tin đồn là tai nạn làm cho một người chết và nhiều người bị thương, nhưng cũng chỉ là tin đồn, không có một nguồn tin chính thức nào để xác nhận hoặc phủ nhận tin đồn này cả. 

Đến 8 giờ, xe đi chậm lại, rồi vòng vào chỗ đậu. Bạt mở ra, mọi người được lệnh xuống xe và sắp hàng theo đội ngũ của mình. Long đếm được khoảng 30 chiếc xe đậu ngay hàng thẳng lối trên một bãi đất  trống, như vậy là có khoảng 1000 người trên khoảng đất trống này. Nhìn quanh quất thì thấy một khu đất  rộng, cỏ hoang mọc nhiều, bao quanh là hàng rào kẽm gai, có một cái cổng lớn khung gỗ và kẽm gai, chắc lúc nãy xe vào bằng cổng này. Trông như một doanh trại của quân đội, với nhiều nhà mái tôn vẻ tiêu điều. 

Một bộ đội, chắc là người chỉ huy trại, lên tiếng trước hàng ngũ những người « tình nguyện học tập cải  tạo », cho biết là mọi người sẽ ở đây để học tập cải tạo. « Việc trước mắt là phải ổn định chỗ ăn chỗ ở  đã». Nghe đến đây Long bắt đầu toát mồ hôi lạnh, và chắc nhiều người khác cũng có cảm giác tương tự.  « Ổn định chỗ ăn chỗ ở » có nghĩa là sẽ ở đây lâu dài chứ đâu phải chỉ 10 ngày ! 

Và sự thật phũ phàng cứ tiếp tục phũ phàng. Mỗi A 10 người được hướng dẫn đến một chỗ sẽ là nơi ăn ngủ của mình. Long và các bạn được đưa vào một cái nhà rộng – không biết có thể gọi là nhà hay không, vì chỉ có mái tôn lủng nhiều lỗ chắc là do vết đạn, không có tường, sàn nhà chỉ là đất lồi lõm, cột nhà là  những thân cây tròn lột vỏ thô sơ. A của Long được chỉ định một khoảng đất dài khoảng sáu bảy thước là chiều ngang của nhà, rộng khoảng 2 thước. Như vậy, mỗi người có một chỗ ngủ chiều dài 2 thước, chiều  rộng khoảng sáu, bảy tấc. Đặc biệt chỗ của Long và của hai bạn hai bên đất bị trũng xuống và nước mưa đọng lại làm thành một bãi sình nho nhỏ… Tháng 6 trời mưa mà ! 

Tới đây thì mọi người đã hiểu là mình bị lừa rồi, không phải chỉ đi học tập cải tạo 10 ngày như mình tưởng. Nhưng phản ứng của từng người khác nhau. Có những người đã phải sống lăn lộn và quen với  phấn đấu để sống còn, có những người khác may mắn sống trong tiện nghi và được cuộc đời ưu đãi. Có những người bản tính lạc quan, tinh thần vững chắc, tin tưởng mình sẽ lướt qua được và « ngáy mai trời  lại sáng », có những người khác bi quan, không đủ nghị lực để vượt qua hoàn cảnh khó khăn. Cũng may là sống chung cả ngàn người cùng hoàn cảnh, con người biết nương tựa nhau để cùng sống còn. Riêng  Môn, con người từ nhỏ đến lớn chắc chỉ sống trong nhung lụa, thầm thì với các bạn « Chỗ này làm sao sống được, chắc họ cho mình ở tạm đây rồi đưa đến nơi đàng hoàng tiện nghi hơn mới học được chứ ! »  Các bạn của Môn sẽ còn được nghe câu này lặp đi lặp lại nhiều lần nữa… 

Nhưng rồi cũng phải « thích nghi » với hoàn cảnh. Long học thêm được một điều quý giá: khi sống  chung cả ngàn người trong một trại như thế này, thế nào cũng có ít nhất một người có câu trả lời cho rất  nhiều câu hỏi đặt ra. Thí dụ cụ thể: trả lời cho câu hỏi « nơi này là nơi nào ? » câu trả lời đến từ đâu  không biết nhưng loan đi rất nhanh. Đây là một vùng gần Tây Ninh có tên là Trảng Lớn, trại này là một phần của doanh trại của Sư Đoàn 25 bộ binh trước kia. 

May là trại rộng lớn, cỏ dại đang mùa mưa mọc tràn lan. Long bắt chước các bạn đi tìm vật liệu trong bãi cỏ gần hàng rào kẽm gai, may quá vớ được tấm tôn đã hoen rỉ đặt lên trên vũng sình để lót tạm làm chỗ nằm. 

Sau đó một bộ đội đến, ra lệnh mỗi B (gồm 4 A, tức là 40 người) phải cử 3 người theo lên ban chỉ huy  trại. Lát sau ba bạn đó về vác một bao gạo 50 ký, một bao muối 10 ký, một cái nồi to và một cái chảo to, nồi và chảo đều có hai quai. Hãi hùng nhất là ba bạn đó thông báo: « Họ nói mình phải tự lo liệu cơm  nước. » 

Anh bạn Môn lại càng vững tin vào nhận định ban đầu của mình: Chỗ này làm sao sống được? 

Cả đội 40 người nhìn nhau không biết làm sao để « lo liệu cơm nước », nhưng ai cũng còn mang theo cái gì đó nên ngày đầu tiên còn có cái mà ăn. Long và các bạn cùng A lúc còn ở trường Taberd đưa tiền cho bộ đội ra ngoài mua bánh mì, giờ này còn lấy ra « nhá » cho đỡ đói. 

Nhưng qua ngày hôm sau không còn gì để ăn, « đói đầu gối phải bò ». Phải có bếp để nấu cơm và để  nấu nước sôi để nguội uống. Làm cách nào có bếp ? Một lần nữa, Long được dịp nghiệm lại chân lý về  đám đông : thể nào cũng có ít nhất một người trong số một ngàn người biết cách phải làm bếp như thế  nào. Quả đúng như vậy, không biết bài học từ đâu ra, nhưng người này bảo người kia, cuối cùng ai cũng  biết cách làm bếp. Lấy ba cây cọc sắt, loại cọc dùng cho hàng rào kẽm gai, đóng xuống đất, đặt cái nồi và cái chảo lên làm sao cho vững, chưa vững thì phải nhổ cọc lên đóng lại. Sau đó đào đất sét, lấy nước trộn  thành bùn đặc – cũng may là trong trại có 5 cái giếng nước không sâu lắm, không biết tên nào đó tìm được cái thùng và dây làm gầu múc nước. Trộn thêm với cỏ khô thay vì rơm, rồi trét chung quanh ba cái cột sắt và chung quanh chảo và nồi thành cái lò. Phía trước lò chừa một cái cửa nhỏ để cho củi vào đốt, và để cho không khí vào trong lò, phía sau phải làm một ống khói, dùng ống sắt đựng đạn đại bác của Mỹ, ba bốn cái nối vào nhau thành một cái ống cắm vào sau lò và đưa lên cao. Chung quanh bếp phải tạo một cái chòi để che mưa nắng và làm điểm tựa cho ống khói. 

Nói nguyên tắc thì như thế, nhưng khi thực hiện thì dĩ nhiên phải làm đi làm lại, chỉnh qua chỉnh về không biết bao nhiêu lần mới có cái bếp dùng được… Tất cả do mình tự làm lấy, không có ai canh gác, cũng chẳng có ai hướng dẫn. 

Vật liệu nhặt nhạnh trong các bãi cỏ chung quanh trại, ngoại trừ ống sắt đựng đạn đại bác. Đây cũng là một cái may « trời cho », một người nào đó tìm ra một cái hầm lớn chứa rất nhiều đạn đại bác loại 155 ly. Mỗi quả đạn đựng trong cái ống sắt, bên ngoài lại có một thùng bằng gỗ thông. Trong một ngàn người, thế nào cũng có những người trước kia trong ngành pháo binh, nên rất rành về loại đạn này. Chứ những  người như Long chắc chắn không dám rờ tới, lỡ nó nổ thì sao? Nhưng mấy người cựu pháo binh giải thích là đạn đại bác tự nhiên không nổ được, trước khi bắn phải gắn một đầu đạn dùng làm ngòi nổ. Thế là mọi người xuống hầm khuân thùng đạn lên, tháo gỡ thùng gỗ, tháo ống sắt và xếp viên đạn khổng lồ vào một góc. Làm chuyện này có xin phép ban quản giáo hay không, Long không biết, nhưng chẳng thấy  bóng dáng một bộ đội nào từ trên bộ chỉ huy xuống xem xét chuyện này cả. 

Làm xong cái bếp là một chuyện, nhưng củi đun bếp ở đâu ra ? Sau này các B được cấp phát củi là những khúc thân cây to còn tươi, nhưng những ngày đầu tiên chưa có gì, phải tự lo liệu. Trong một góc trại lẫn trong cỏ dại có một đống cột điện là những thân cây gỗ thông thẳng tắp. Tưởng thế là dùng làm củi được ? Nhưng các cột này được tẩm một loại dầu hóa học màu đậm, thấm sâu vào trong lõi để chống  mối mọt và giữ cho gỗ khỏi mục, nên khi đốt thì khói đen có mùi khét lẹt thấm vào cơm làm sao ăn ?  Nhưng cũng phải chịu, ăn cơm ám khói còn hơn nhịn đói. Vấn đề là không thể chẻ củi bằng tay không  được. Tới đây, nhận thấy vấn đề ăn uống là ưu tiên số một nên ban chỉ huy trại mua cái cưa to và cái rìu chẻ củi cung cấp cho trại để dùng.   

Cuối cùng thì cũng có được nồi cơm, khét lẹt vì ám khói chất dầu trong củi, và có nước đun sôi để uống. 

Qua những ngày sau, mọi người tiếp tục «ổn định chỗ ăn chỗ ở» bằng cách khai thác các tấm ván gỡ  ra từ các thùng đựng đạn. Mạnh ai nấy lấy ván lát xuống nền đất làm « giường », sau đó trong cùng một A bàn nhau làm một tấm phản chung cho 10 người cao hơn mặt đất để tránh ẩm thấp và nằm thoải mái  hơn. Mỗi người vẫn giữ phần dành cho mình trên tấm phản tập thể này. 

Nhưng dụng cụ hoàn toàn không có, làm sao đóng phản? 

Đặt câu hỏi như thế là coi thường óc sáng tạo vô biên của một tập thể một ngàn người bắt buộc phải sống chung trong một trại lớn. Đinh được chế biến từ dây kẽm gai, những cái « gai » cuốn chặt vào sợi dây kẽm, phải gỡ từ từ ra, đập cho thẳng lại, rồi bẻ thành hình chữ U có hai đầu nhọn. Dĩ nhiên ngón tay  không làm sao bẻ kẽm gai được, nên phải đi tìm trong đám cỏ xem có mảnh sắt (hiếm có), hoặc mảnh đá (có nhiều) thích hợp, mảnh nhỏ dùng để cậy, cục đá lớn hơn dùng làm búa. Phải tập dượt khá lâu mới có thể dùng cái búa đá đóng cái đinh hai đầu như thế vào tấm ván. May phước là gỗ thông rất mềm. 

Anh bạn Môn nói, có phải mình trở lại sống như người thời đồ đá không? Long không đồng ý. Thời đồ đá phải dùng đá làm dụng cụ, nhưng trong đầu họ chưa có những tri thức và kinh nghiệm của con người sống ở thế kỷ 20, nên con người bây giờ dù chỉ có dụng cụ bằng đá cũng thích nghi được với hoà cảnh dễ đàng hơn vì đã thừa hưởng được mấy ngàn năm kinh nghiệm của nhân loại. 

Long còn nhớ mãi một trường hợp khác điển hình về óc sáng tạo vô biên của con người. Có một anh  chàng không cùng nhà với Long, vớ được đâu đó một lốp xe cam-nhông to tướng còn mới toanh, có cả ruột nữa – ngoài Bắc gọi là lốp và săm (săm là do tiếng Pháp « chambre à air), trong Nam gọi là vỏ và  ruột. Anh chàng quyết định làm dép râu. Muốn vậy phải có dụng cụ cắt được lớp cao-su vừa dày vừa  cứng của cái lốp. Thoạt nhìn thì thấy là vô phương, vậy mà anh chàng vẫn làm được! Đầu tiên anh chàng  tìm được mấy cái đai sắt dùng để ràng quanh thùng gỗ đựng đạn, loại sắt tầm thường vì chỉ dùng làm đai, đâu phải thép tốt. Nhưng vẫn kiên nhẫn cắt nó ra làm lưỡi dao (gọi là cắt nhưng không có dụng cụ, phải  bẻ qua bẻ lại không biết bao nhiều lần, rồi sắt cũng phải đứt), một đầu cắt xéo để có mũi nhọn, xong rồi mài vào đá cho đến khi nó sắc như dao, dĩ nhiên phải mài lâu lắm. Dùng cái lưỡi mới mài đó cứa vào lốp  xe, người ngoài trông thấy như là « trứng chọi đá », làm sao con dao như thế cắt được lốp xe cam-nhông  to dầy thế kia ? Vậy mà với kiên nhẫn và có giờ để tỉ mỉ làm việc, vẫn được. Lưỡi sắt chỉ rạch được tí xíu  là cùn rồi. Cùn thì mài lại. Cứ thế, cắt chút xíu, rồi mài, rồi lại cắt, cuối cùng Long đã chứng kiến anh chàng làm xong đôi dép râu… Và phục sát đất! 

Mười ngày lặng lẽ trôi qua với công việc «ổn định chỗ ăn chỗ ở». Hằng ngày các B trưởng phải lên ban chỉ huy để nhận chỉ thị, và ngày nào câu hỏi cũng được đặt ra : chừng nào thì bắt đầu  « học » ?  Không ai trả lời được câu hỏi này, vì chính những người trông coi trại cũng chẳng biết gì. Họ chỉ là những bộ đội trong quân ngũ, chẳng phải là những cai tù chuyên nghiệp. Họ được lệnh giữ những người tù cải tạo trong trại, được lệnh phát cho họ gạo, muối, một chút rau, để họ đừng chết đói. Thế thôi. Làm  sao họ biết chừng nào bắt đầu học, chừng nào thì được về? 

Vẫn có người lạc quan: họ chưa tổ chức được cho mình học, chắc khi bắt đầu học mới bắt đầu đếm đủ 10 ngày rồi cho về, cũng như binh lính và hạ sĩ quan học đủ 3 ngày rồi cho giấy chứng nhận để phục hồi quyền công dân là gì! 

Trong A của Long có một anh cũng Đại úy như các bạn khác, nhưng biệt phái về Xây Dựng Nông Thôn. Anh này kinh nghiệm đầy mình với cộng sản, lẩm bẩm cho ai muốn nghe thì nghe: «Giá chót 3 niên ! » 

Long làm lơ như không nghe, nhưng chợt rùng mình…  

(Còn tiếp)

Phạm Ngọc Lân  

Cha vô danh – Chuyện kể cuộc đời một người Việt lai Pháp