Cha danh 49. Một tháng rưỡi để trấn an (Phạm Ngọc Lân)

Lượt xem: 400

“…Thế là mấy ngày sau, ngôi nhà được giao cho ba hay bốn gia đình cán bộ của Đại Học Dược Khoa chia nhau ở. Những người này không quên cử chỉ của Long và chàng sẽ được cảm tình của nhiều cán bộ trong suốt thời gian chàng dạy học tại đây…”

dumping_helicopter

Chiến tranh đã chấm dứt. Như ngay sau mọi cuộc chiến, với các gia đình ly tán, đó là thời gian tìm lại  người thân xem ai còn ai mất.  

Về phía Long có 4 người em trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, Tr. là em thứ 8 tử trận một tháng rưỡi trước khi chiến tranh chấm dứt, S. là em thứ 4 đã từ Quảng Trị lần về được nhà Long, cũng như Th.  em thứ 9 chạy từ Ninh Hòa về. Sau đó S. đi trình diện lại và sau ngày chấm dứt chiến tranh, may quá vẫn  bình yên trở về nhà Long rồi cả hai anh em S. và Th. trở về với gia đình ở Bảo Lộc. 

Nhưng còn H. là em thứ 6 không có tin tức gì cả. Nó nhập ngũ từ 2 năm trước và làm công việc bảo trì  máy bay quân sự trong phi trường Tân Sơn Nhứt, tức là một đơn vị tương đối an toàn so với 3 anh em của nó. Nhưng vào những ngày cuối tháng 4-75, phi trường bị pháo kích dữ dội, và cuối cùng hoàn toàn thất  thủ, nên nếu nó bị tử thương như em Tr. của nó thì có thể gia đình sẽ không bao giờ biết, vì lúc đó là những ngày cuối của một quân đội đang tan rã, chẳng còn ai để lo cho người chết nữa. Nhưng trước khi bị  pháo kích, rất nhiều máy bay quân sự còn trong Tân Sơn Nhứt đã bay thoát qua các phi trường các nước  lân cận như Thái Lan, Phi Luật Tân… và riêng các trực thăng còn có thể bay ra biển tìm cách đáp xuống  các tàu chiến của hạm đội 7 của Hoa Kỳ lúc đó đậu ngay ngoài khơi đón người tị nạn (1). Cả nhà đều hy vọng H. có mặt trong Tân Sơn Nhứt lúc đó, có thể đã thoát được trên một chiếc máy bay hay trực thăng, nhưng khi chưa có tin tức của nó thì không thể biết được số phận nó ra sao. 

Bên phía gia đình Mai chỉ có hai cậu con trai út sinh đôi mới 14 tuổi nên không có vấn nạn này. Ngoài  việc bà cụ một thân một mình liều lĩnh đi ngược dòng người tị nạn định ra Quy Nhơn tìm cô con gái thứ 3  đang dạy học ngoài đó, và cuối cùng cũng về được Sài Gòn, ông cụ và bà cô ở lại Đà Lạt để giữ nhà vẫn  bình yên vô sự. Người em gái kế của Mai cùng với chồng và hai con rời khỏi Sài Gòn bằng máy bay vào  ngày 25 tháng 4, nhờ vào một người Mỹ là chồng của cô em chồng đã tìm cách làm giấy tờ cho cả gia  đình họ hàng của vợ di tản qua Mỹ. Còn lại bà cụ và 6 người em kia của Mai từ Đà Lạt về từ cuối tháng 3  quyết định không trở về Đà Lạt nữa mà tiếp tục sống trong căn nhà của cô em đã di tản. 

Chỉ vài ngày sau khi chiến tranh chấm dứt, ông cụ của Mai ở Đà Lạt được một người đến thăm thật bất  ngờ. Đó là một người cháu gái đến từ Hà Nội, con của bà bác cả, đã gần ba mươi năm không gặp nhau.  Người này vai chị của Mai, nhưng lớn tuổi hơn nhiều, tên là T. Làm sao chị T. biết địa chỉ của ông cụ mà  đến? Và làm cách nào mà đến Đà Lạt nhanh như thế? Thì ra sau ngày 30 tháng 4, chị T. đã bay vào Sài  Gòn thăm người em đã vào Nam từ năm 1954, và do đó mà hỏi ra địa chỉ của ông cụ ở Đà Lạt. Điểm đặc  biệt là chị T. dùng máy bay « chuyên cơ » là những máy bay dùng cho các cán bộ cao cấp nhất ở trung  ương, chứng tỏ chị có chức vụ rất cao, và chồng của chị cũng là một nhân vật cao cấp trong Bộ Chính Trị. 

Ông cụ của Mai tiếp chị T. không được nồng nhiệt cho lắm. Chị T. mừng cho ông cụ được bình yên  qua các biến cố, chị nói đại khái giờ đây đế quốc Mỹ đã thua phải cuốn cờ bỏ chạy, ngụy quyền không  còn nữa, toàn dân có thể xây dựng lại quê hương. Nghe những lời đó, ông cụ cảm thấy có một hố sâu  ngăn cách hai cậu cháu, ông cám ơn người cháu có nhã ý đến thăm ông, nhưng ông cũng nói cậu là một  công chức nhỏ trong một chế độ đã bị xóa bỏ, còn cháu giữ một chức vụ quan trọng trong một chế độ mới  thắng trận, khó có thể thông cảm nhau. 

Thái độ của ông cũng khá đặc biệt vì cháu của ông làm lớn ngoài Bắc, thường thì những gặp gỡ như  thế xảy ra bình thường hơn. Sau hiệp định Genève năm 1954, biết bao gia đình bị chia đôi vì kẻ ở người  đi trong cuộc di cư gần một triệu người ngay sau đó. Trong thời gian đầu sau ngày thống nhất đất nước  1975, nhiều người ở lại miền Bắc có điều kiện để vào thăm thân nhân trong Nam thường được đón tiếp  rất nồng nhiệt, với nhiều cảnh đoàn tụ thật cảm động. Nhiều người ngoài Bắc vào rất ngạc nhiên về mức sống cao của bà con mình trong Nam, vì họ được tuyên truyền là phải giải phóng miền Nam vì người dân  ở đây bị bóc lột bởi chính sách « thực dân kiểu mới », phải sống quằn quại dưới « gót giầy của đế quốc  Mỹ và bọn tay sai ngụy quyền. » 

Tiếc là sau những phút mừng mừng tủi tủi ban đầu, cũng đã xảy ra nhiều trường hợp tình cảm bị nhạt dần, thường là vì cảnh « nhận họ hàng » biến thành « người Nam nhận họ, ngươi Bắc nhận hàng » theo  kiểu ví von mới – càng ngày càng trở thành thời thượng – của người dân miền Nam. 

Và cũng có những chuyện bất ngờ chỉ xảy ra sau một cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn như cuộc  chiến ở Việt Nam. Đó là chuyện khám phá ra một người quen, hay một người bạn, hay một người trong  gia đình, đã bí mật làm việc cho «bên kia», nói nôm na ra là « nằm vùng ». Đó là trường hợp của Hoài,  chồng của Vy. Vy là em kế của Long, hai anh em rất gần gũi nhau khi còn ở nhà. Khi lập gia đình, Vy và  Hoài lại có dịp gần gũi với Long và Mai khi cùng sống ở Bảo Lộc trong năm 1971-72.   

Khi Bảo Lộc được « giải phóng » ba tuần trước khi Sài Gòn thất thủ, Vy mới khám phá ra chồng mình  là một đảng viên Đảng Cộng Sản hoạt động tuyên truyền bí mật trong giới học sinh và thanh niên. Vy biết  chồng mình không ưa gì chính quyền miền Nam và kịch liệt chống lại việc Mỹ can thiệp vào Việt Nam.  Nhưng không phải ai có những tư tưởng tương tự cũng là người cộng sản. Sau này Long được biết Hoài  được kết nạp đảng năm 1974 qua ảnh hưởng của người bạn thân từ thời sinh viên, cùng dạy ở Bảo Lộc và  đã là đảng viên từ lâu. Một bất ngờ ngay cả đối với Vy, vì trở thành một cán bộ cộng sản hoạt động bí  mật – dù trong môi trường học đường chăng nữa – là một việc rất nguy hiểm, vì có thể bị bắt bất cứ lúc  nào. Nhưng Hoài đã may mắn thoát lưới của cảnh sát đặc biệt, và ra khỏi bí mật trong tháng 4-1975 để  trực tiếp trách nhiệm Đoàn Thanh Niên Cộng Sản Hồ Chí Minh ở Bảo Lộc. Hoài sẽ dần dần thất vọng về  chính quyền mới, cũng như phần đông trí thức miền Nam theo cộng sản vì bị ảo tưởng là xã hội sẽ công  bằng hơn. Nhưng đó là chuyện sẽ nói đến sau này. 

Trong thời gian đầu, không khí chung vẫn còn trong chiều hướng « hồ hởi phấn khởi », một cụm từ  nghe lạ tai với người dân miền Nam, cũng như nhiều từ ngữ khác do người ngoài Bắc đem vào. Không  phải là những từ ngữ mới, nhưng cái mới là cách dùng những từ Hán Việt trong những hoàn cảnh không  cần đến từ Hán Việt, điển hình là « Khẩn trương lên ! » thay vì « Nhanh lên ! » hay « Mau lên ! » hay  « Lẹ lên ! ». 

Nhưng được nghe nhiều nhất vẫn là « Cách mạng », và đối lại là « Ngụy ». Chính quyền cách mạng,  gia đình cách mạng… Ngụy quân, ngụy quyền… Cái đẹp đẽ, cái xấu xa. Cái tinh hoa, cái tồi tệ. Cái tiến  bộ, cái phản động. Nhưng dần dần, phản ứng lại với chính sách kỳ thị này, chính người dân miền Nam sẽ  tự xưng mình là « dân ngụy » một cách tự hào. 

Công việc đầu tiên của phe cách mạng là làm sao để có thể «tiếp quản» – thêm một cụm từ mới rất  thời thượng – tất cả các công tư sở của miền Nam. Các cơ quan chính quyền như các bộ, các nha, các ty,  các cơ quan quân sự, các cơ quan y tế, các cơ quan giáo dục, các cơ quan thông tin… Nhưng trong một  nước xã hội chủ nghĩa thì tư nhân không thể làm chủ « tư liệu sản xuất », nên cũng cần phải tiếp quản các  trường học tư, bệnh viện tư, hãng xưởng tư, v.v. và v.v. Làm sao có đủ người để hoàn thành một công việc khổng lồ như thế ? Giải pháp là tìm một vài người « cách mạng », có chút ít chữ nghĩa, nếu thêm được chút kinh nghiệm thì càng tốt, đứng đầu một ủy ban tiếp quản, và giữ nguyên nhân viên cũ của cơ  quan để tiếp tục làm việc hoặc nếu không làm gì cả thì ít nữa cũng không xảy ra chuyện phá hoại. Những người « lãnh đạo » mới này không cần phải « rành nghề », miễn là « cách mạng » là được, theo đúng  phương châm « hồng hơn chuyên ». Sau này, khi phe cách mạng đã có đủ người, và đã học được nghề, họ sẽ dần dần thay thế người cũ, chưa nói đến những trường hợp sa thải một cách trắng trợn. Hậu quả tai hại của chính sách đó, mọi người sẽ phải hứng chịu trong những năm sau này. 

Trở lại địa hạt giáo dục, trong thời gian giao thời ban đầu, tất cả các trường đại học, trung học, tiểu học đều tạm ngưng công việc dạy học, nhưng tất cả thầy cô giáo cũng như nhân viên khác đều phải đến nhiệm sở trong giờ làm việc để làm quen với nhân sự mới cũng như cách làm việc của « cách mạng ». Tại  trường Đại Học Dược Khoa, ba người trong ban tiếp quản lúc đầu đã được thay thế bằng những khuôn mặt mới, không ai biết tại sao, vì chuyện bổ nhiệm nhân viên là chuyện « bí mật » của một bộ phận có quyền hạn rất lớn với cái tên gọi thật khiêm nhường là « phòng tổ chức », gồm những đảng viên trung kiên nhất. Từ từ rồi người dân miền Nam sẽ nhận ra là «bí mật» và «cách mạng» luôn luôn đi đôi với  nhau. 

Ông Hiệu Trưởng mới có tên là Ba Phát, không phải tên thật của ông, cũng như đa số các cán bộ hoạt động thời bí mật không khi nào dùng tên thật. Ông là một dược sĩ tốt nghiệp từ thời Pháp thuộc, và là  người miền Nam. Sau này Long cũng như các đồng nghiệp thở phào nhẹ nhõm vì ông Ba Phát không có suy nghĩ giáo điều, và tỏ vẻ cởi mở với mọi người như phần đông các cán bộ gốc miền Nam. Tiếp sau đó, có thêm ba cán bộ ngoài Bắc vào, nhưng không ai là cán bộ giảng dạy, mà lo về quản lý, trong đó có người trách nhiệm phòng tổ chức. Nghe nói phòng tổ chức là nơi nắm trong tay lý lịch của nhân viên, có  nghĩa là nắm quyền sinh sát. Cũng nghe đồn rằng người trưởng phòng tổ chức là bí thư đảng, tức là người cao cấp nhất trong hệ thống đảng. Nghe đồn thế, và chắc là như thế, nhưng tất cả những chuyện như thế  vẫn nằm trong vòng « bí mật » cố hữu của tổ chức đảng. 

Lúc đầu ông Ba Phát cũng mặc quần áo bộ đội, cho phù hợp với nhiệm vụ của ông trong « Ủy Ban  Quân Quản », tức là một ủy ban do quân đội đảm trách. Dần dần thấy ông mặc thường phục, không biết như thế là có gì thay đổi trong đường lối hay không. Có nhiều chuyện thay đổi như thế, người dân thường  chẳng hiểu gì, thật ra cũng chẳng ai quan tâm.   

Một thí dụ điển hình là việc treo cờ. Trong những ngày đầu của tháng 5, Long cũng bắt chước hàng xóm ra khu vực quanh chợ Bến Thành mua hai lá cờ bán đầy rẫy hai bên lề đường. Cờ đỏ sao vàng của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và cờ nửa đỏ nửa xanh sao vàng của Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam. Không hiểu làm cách nào mà cờ được may nhanh thế, cũng không hiểu vải xanh, vải đỏ, vải vàng tìm đâu ra mà nhiều thế… Nhà nào cũng cắm hai lá cờ, thấy người ta cắm mình cũng cắm « cho chắc ăn », chẳng có lệnh nào bắt phải cắm cờ cả! Dần dần thấy có nhà chỉ còn cắm lá cờ đỏ sao vàng, lá kia biến mất, thế là nhà nào cũng nhìn qua nhìn lại rồi cũng bỏ bớt một lá cờ đi. Cũng chẳng còn thấy báo đài nhắc gì đến cái tên dài thoòng « Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam » nữa. Nó từ từ tiêu tan không trống không kèn như mây khói lan tỏa ra không gian sau khi đã đóng vai trò hỏa mù đối với thế giới (2). 

Đối với Long và Mai, cả tháng 5 trôi qua với các cuộc họp hành, học tập, kiểm kê tài sản của cơ quan. Và lần đầu được nếm mùi « sơ yếu lý lịch ». 

Sơ yếu lý lịch phải viết trên giấy trắng, không có mẫu để người khai điền vào. Gọi là « sơ yếu » nhưng thật ra rất chi tiết, bằng chứng là phải cần một tài liệu nhiều trang để liệt kê và giải thích rất chi tiết những điều bắt buộc phải khai. 

Đầu tiên Long ngạc nhiên vì có hai chi tiết bắt buộc là « dân tộc» và « tôn giáo ». Sau này sẽ càng ngạc nhiên hơn nữa khi thấy hai chi tiết này xuất hiện trên thẻ Chứng Minh Nhân Dân, tương đương với  Thẻ Căn Cước của miền Nam trước kia. Dân tộc  « Kinh », hay  « Thái », hay  « Rha-đê »…  Tôn giáo  « Phật Giáo » hay « Thiên Chúa Giáo » hay « Không »… Ngày xưa Long vẫn tưởng tín ngưỡng là chuyện riêng của cá nhân, nhưng dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, nhà nước cần biết để «quản lý», đó là giải thích của một cán bộ phòng tổ chức khi Long đặt câu hỏi. 

Đến phần gia đình, Long lại khám phá ra là phải khai từ đời ông bà nội ngoại, còn sống hay đã mất cũng phải khai, với đầy đủ chi tiết về trình độ học vấn, làm nghề gì, có hoạt động gì đặc biệt trong suốt cuộc đời. Cha mẹ, chú bác cô cậu dì chú cũng phải khai hết với đầy đủ chi tiết như ông bà. Chế độ cộng sản dựa trên một nguyên tắc căn bản là « đấu tranh giai cấp », nên mỗi người phải được xếp hạng vào một  giai cấp nào đó. Mà muốn thế, phải biết gốc gác của người đó ít nữa là từ ba đời mới có thể xếp hạng chính xác được. 

Đó mới chỉ là gia đình, còn mục « bạn bè » nữa mới khó xử. Làm sao chọn ai để khai ? Không thể nào  để trống, ghi «không c » là không thể được. Chỉ còn cách ghi tên vài người biết chắc đã di tản ra khỏi nước trong những ngày giờ cuối của cuộc chiến. 

Và dĩ nhiên mục « bản thân » vẫn là trọng tâm của tờ khai. Qua các giai đoạn của cuộc đời, từ khi học  tiểu học, rồi trung học, rồi đại học, rồi công tác ở đâu, nếu có trong quân đội thì cấp bậc gì, lên lon năm  nào, được huy chương gì,v.v. thôi thì trăm thứ phải khai. 

Rất may cho Long là được một người bạn mới quen chỉ vẽ đường đi nước bước trong việc khai lý lịch này. Anh chàng này mới ngoài Bắc vào, nhưng cũng là gốc miền Nam, năm 1954 còn bé, theo cha tập kết ra Bắc, và như nhiều người tập kết khác, ra ngoài đó không hợp với cách suy nghĩ và cách sống của người cộng sản miền Bắc nên gặp nhiều « mâu thuẫn ». Anh chàng thân với Long vì cùng có máu văn nghệ như nhau, tuy được điều về công tác tại Đại Học Dược Khoa nhưng có sinh hoạt khác trong ngành nhạc cổ truyền và kịch nghệ. Anh chàng nói trước kia ngoài Bắc cứ 6 tháng lại phải khai lý lịch một lần, nên ai cũng viết vào một cuốn vở và khi khai cứ chép trong cuốn vở đó ra rồi thêm vào những gì mình làm trong 6 tháng kể từ kỳ khai trước. Như thế mới chắc ăn là nếu mình có giấu bớt điều gì, hay có nói khác đi điều gì, thì lần sau cũng sẽ viết giống hệt. Không phải những người phụ trách về lý lịch không biết điều đó, và sau này trong một hoàn cảnh khác, Long sẽ được nếm mùi một cách khai lý lịch khác, khai tại chỗ, không  được giữ lại một tài liệu viết nào cả. 

Nhưng đó là chuyện về sau, sẽ kể sau. Chuyện hiện tại là phải làm quen với cách tổ chức mới trong khu mình ở. Làm quen dần với những tiếng lạ tai như « hộ khẩu », « tổ dân phố », «công an khu vực »,  v.v.  

Sổ hộ khẩu là tên mới của sổ gia đình trước kia, nhưng giá trị của nó thì lớn lắm, sổ gia đình không thể so sánh được. Các «hộ » trong một khu phố được tập họp lại thành một tổ dân phố, khoảng vài chục nhà một tổ, có một tổ trưởng dân phố bị chỉ định. « Bị » chứ không phải « Được » vì ông hay bà tổ trưởng dân phố phải lên phường nhận chỉ thị, về tổ báo cho bà con biết ngày giờ nào thì được đi mua gạo, tối nào phải đi họp tổ, v.v. tóm lại là những việc hành chánh chẳng đem lại lợi lộc gì cho mình, mà có khi lại bị bà con lối xóm nhìn với con mắt nghi ngờ… Phải nói là cũng có những người hăng hái quá, cảm thấy mình như là người của « cách mạng » đến nơi rồi nên đâm ra quá đà, nhưng phần đông chỉ làm việc vì bị bắt buộc mà thôi. 

Còn công an khu vực thì phải chờ đến nhiều tháng sau mới thấy xuất hiện, vì lúc đầu làm sao có đủ nhân sự để kiểm soát hang cùng ngõ hẻm như thế. Công an khu vực là một anh chàng đến « thăm » gia  đình một cách đều đặn, coi như « người nhà » đến hỏi thăm sức khỏe và sinh hoạt của gia đình ra sao.  Hên thì gặp một người ăn nói bình thường, xui thì gặp một người có giọng hạch hỏi, nhưng dù có gặp hên hay xui thì mục đích của họ vẫn là để « nắm » rõ từng gia đình trong phạm vi khu vực của họ. Công an phải biết rõ từng hành vi của gia đình, nhưng đó cũng chỉ là lý thuyết. Trong một thành phố đông đúc như Sài Gòn, với những con người quen tự do như dân Sài Gòn, người ta vẫn có trăm phương nghìn kế để qua  mặt công an khu vực. 

Với cách tổ chức kiểm soát dân chúng chặt chẽ như vậy, Long không dám đến sống luôn trong ngôi biệt thự của bạn mình để lại nữa. Mà bỏ đi để cho phường lấy thì phí quá. Chàng bèn nghĩ ra một giải pháp vừa có lợi cho những cán bộ mới vào phục vụ ở trường Đại Học Dược Khoa, vừa gián tiếp có lợi cho chàng sau này. 

Với số lượng cán bộ từ ngoài Bắc vào hay từ trong rừng ra, việc cung cấp nhà ở cho họ là một nhu cầu cấp thiết của Ủy Ban Quân Quản (trong chế độ xã hội chủ nghĩa, nhà nước có bổn phận lo mọi chuyện cho cán bộ, kể cả chỗ ở). Thời gian đầu những nhà có chủ đã di tản bị trưng dụng làm nơi tạm trú cho cán bộ (sau này có thể sẽ trở thành thường trú, và sau này nữa có thể trở thành chủ nhân khi có chính sách « đổi mới » » và «hóa giá » trong thập niên 90), nếu còn một vài người trong gia đình ở lại thì cho họ ở một góc nào đó trong nhà – cái nhà trước đây là của họ. Sau này sẽ có chiến dịch « đi kinh tế mới», rồi  có chuyện « vượt biên », sẽ có thêm nhiều nhà để cấp cho cán bộ, nhưng đó là chuyện về sau. 

Chuyện trước mắt là Long gặp riêng ông Ba Phát, Khoa Trưởng mới của Đại Học Dược Khoa, ông này đã có nhà được cấp, chẳng đâu xa lạ, chính là nhà của Giáo Sư Tô Đồng (đã di tản vào những ngày cuối  tháng tư) ở khu Đa Kao. Khi chàng trình bày hoàn cảnh của mình là có bạn giao lại một ngôi biệt thự cho chàng ở, nhưng vì chàng đã có nhà rồi, và không muốn lôi thôi với phường hay với công an khu vực nên muốn giao nhà đó lại cho Đại Học Dược Khoa, ông Ba Phát rất mừng vì cũng đang lo tìm nhà cho cán bộ  mới chưa có nơi ở tươm tất. Ông nói là trong lúc còn Ủy Ban Quân Quản, một cơ quan như Đại Học  Dược Khoa cũng có quyền quản lý nhà để cấp cho nhân viên của mình. Long đưa ông và mấy người nữa trong ban lãnh đạo của trường đến xem nhà, mọi người đều không ngờ Long lại cầm chìa khóa của một  ngôi biệt thự bề thế như vậy. 

Thế là mấy ngày sau, ngôi nhà được giao cho ba hay bốn gia đình cán bộ của Đại Học Dược Khoa chia nhau ở. Những người này không quên cử chỉ của Long và chàng sẽ được cảm tình của nhiều cán bộ trong suốt thời gian chàng dạy học tại đây. 

Qua tháng 6 có một quyết định quan trọng của chính quyền mới. Đó là 3 trường Đại Học Y, Nha và  Dược sẽ tiếp tục việc giảng dạy bị gián đoạn từ cuối tháng tư, và sẽ tổ chức thi cuối năm như thường lệ,  trong khi tất cả các trường khác, tiểu học, trung học, đại học, vẫn chưa trở lại sinh hoạt bình thường. Chế  độ mới muốn cho dư luận trong nước cũng như quốc tế thấy là đã nhanh chóng « bình thường hóa » được  sinh hoạt tại miền Nam chỉ sau hơn một tháng quân quản. 

Trước đây Long chỉ đảm nhiệm việc thực tập của sinh viên, với tư cách là Giảng Nghiệm Viên. Giờ  đây, vì Giáo Sư trách nhiệm bộ môn đã di tản, ông Khoa Trưởng mới yêu cầu Long dạy thay môn Dược Học Ga-Liêng. Chàng đành phải chuẩn bị « giáo trình» để « lên lớp » (cũng lại những từ mới phải làm  quen). Mỗi tuần chàng có hai buổi dạy, mỗi buổi 2 tiếng đồng hồ, cho gần 300 sinh viên của năm thứ tư. 

Nhưng chàng chỉ dạy được vỏn vẹn ba lần. 

(còn tiếp)

Phạm Ngọc Lân

(Cha vô danh – Chuyện kể cuộc đời một người Việt lai Pháp)

Chú thích: 

(1) Các đài truyền hình sau này đều chiếu cảnh trực thăng chạy nạn đáp xuống tàu chiến của hạm đội 7 của Hoa Kỳ. Sau khi mọi người đã ra khỏi, chiếc trực thăng bị xô xuống biển vì không có chỗ đậu lâu dài cho trực thăng trên những chiếc tàu này, và quan trọng hơn là phải nhường chỗ cho những trực thăng khác đáp xuống. Một nhân vật nổi tiếng dùng phương tiện này để di tản là tướng Nguyễn Cao Kỳ. 

(2) Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam chính thức ra đời ngày 20 tháng 12-1960 trong một mật khu phía bắc Sài Gòn. Nó được dựng lên tiếp theo một nghị quyết trong hội nghị thứ 15 của Trung Ương Đảng Lao Động Việt Nam tại Hà  Nội diễn ra từ ngày 12 dến ngày 22 tháng 1-1959. Nghị quyết này chủ trương lật đổ « bè lũ Ngô Đình Diệm, tay sai của Đế  Quốc Mỹ ». Để đi đến mục tiêu đó, liên đoàn 559 (lấy tên theo tháng 5-1959) được thành lập để xây dựng hệ thống đường mòn  Hồ Chí Minh làm đường xâm nhập quân vào miền Nam. Qua năm sau, 1960, Mặt Trận Giải Phóng được thành lập cũng trong  kế hoạch định ra bởi nghị quyết này. 

Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam được thành lập ngày 8 tháng 6-1969 khoảng một năm sau  khi hòa đàm Paris nhóm họp năm 1968, mục đích để cho Mặt Trận Giải Phóng có một vị thế ngoại giao trong cuộc hòa đàm.  Sau khi thống nhất đất nước, chính phủ này bị giải tán không kèn không trống trong năm 1976, vì nhiệm vụ đã hoàn tất.