Cha danh 48. Bắt đầu cuộc đổi đời (Phạm Ngọc Lân)

Lượt xem: 304

“…dù cả hai vợ chồng cảm thấy mình quá may mắn trong hoàn cảnh mới, vẫn giữ được công việc làm trong khi biết bao người khác chỉ trong vài ngày đã bị thất nghiệp, bất ngờ bị đẩy ra ngoài xã hội…” 

30_4_1975_26

Sau bữa cơm trưa ngày 30 tháng 4-1975, Long lấy Vespa đi một vòng « cho biết sự tình ». Mai rất sợ,  nàng nói mới đó súng còn nổ liên hồi, ra đường biết thế nào mà lường, nguy hiểm lắm. Nhưng nàng cản thế nào cũng không được, chàng nói sống chết có số, đất nước đang trải qua một cuộc thay đổi long trời  lở đất, không thể bỏ qua cơ hội chứng kiến tận mắt những gì đang xảy đến cho mình, cho dân mình, cho  nước mình. Chàng muốn ghi lại trong ký ức cảm giác của một nhân chứng trong những giờ đầu của cuộc  đổi đời này. 

Từ trong nhà theo con đường nhỏ ra đường cái Phan Thanh Giản nối dài, cảnh tượng đầu tiên đập vào mắt Long là hai bên đường quần áo lính lẫn với mũ sắt và giầy nhà binh quăng vứt bừa bãi. Những vết  tích cuối cùng của một đạo quân hùng hậu, một đạo quân mà chính chàng cũng đã từng là một thành  phần… Lòng chợt quặn thắt, sao phải thê thảm đến mức này? 

Cảnh tượng thứ hai Long không thể quên được là đã lác đác thấy trước một số nhà bên lề đường cắm hai lá cờ của phe thắng cuộc : cờ đỏ sao vàng của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và cờ nửa đỏ nửa xanh da trời với sao vàng ở giữa của Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam. Long ngạc nhiên hết sức vì mới có mấy tiếng đồng hồ, họ tìm đâu ra cờ mà cắm lên trước nhà nhanh như thế? 

Đường vào Sài Gòn đến cầu Phan Thanh Giản vẫn còn bao cát và giây thép gai được dẹp qua một bên, vết tích của nút chặn mới sáng nay còn nằm đó với các họng đại liên trấn giữ cửa vào thủ đô miền Nam. 

Băng qua cầu rẽ trái vào đường Nguyễn Bỉnh Khiêm rợp mát, đến cổng sở thú quẹo phải theo đại lộ  Thống Nhất tiến thẳng đến dinh Độc Lập là nơi mới vài giờ trước đây toàn bộ chính phủ Việt Nam Cộng  Hòa đã bị phe thắng cuộc bắt làm tù binh. Dinh này bao quanh bằng hàng rào khung sắt kiểu Pháp ngày  xưa trông rất thanh nhã, nhưng chiếc cổng sắt rất đẹp không còn nữa vì bị xe tăng ủi xuống và cán lên để  tiến vào sân cỏ của dinh. Phấp phới trên cao là cờ nửa đỏ nửa xanh ở giữa sao vàng, mới thay lá cờ vàng ba sọc đỏ chỉ vài tiếng đồng hồ trước đó (1). 

Ngay phía ngoài dinh Độc Lập, nơi có bãi cỏ với bóng cây rợp mát trước cổng Bộ Ngoại Giao trên đường Alexandre de Rhodes, mấy chiếc xe tăng T54 đậu dưới bóng mát, dân chúng khá đông tò mò đến gần, một số lân la hỏi chuyện mấy chú bộ đội đứng quanh xe tăng. 

Long lái xe chầm chậm để ghi vào ký ức quang cảnh này, những hình ảnh đầu tiên tiêu biểu cho cuộc ngưng chiến, ngưng một cuộc chiến đã kéo dài mấy chục năm trường với biết bao đau thương chia lìa… 

Nhưng chàng không ngừng lại mà tiếp tục cho xe chạy qua các đường phố quen thuộc. Nhiều xe hai bánh vẫn chạy lăng xăng đông đúc, có lẽ nhiều người như Long muốn đi xem không khí của ngày Sài Gòn thất thủ như thế nào, cũng có thể nhiều người vẫn còn chạy lên chạy xuống bến tàu tìm đường thoát  thân trước khi tấm lưới sắt bao phủ hoàn toàn lên thành phố sắp mất tên… Tại vài ngã tư, có những thanh niên mang băng đỏ trên cánh tay đứng chỉ đường giữ trật tự, thay chỗ cho những người lính cảnh sát trước đây có mặt ở mọi nẻo đường tìm cách giải quyết nạn kẹt xe. Vài chiếc xe Jeep nhà binh chạy vùn vụt, bấm còi inh ỏi, chở mấy thanh niên cũng mang băng đỏ. Sau này sẽ có những thành phần được gọi là « cách mạng 30 », có thể cuộc « cách mạng 30 » này đã bắt đầu ngay từ trưa ngày 30 tháng 4-1975, và  cũng có thể bắt đầu ngay trên những chiếc xe Jeep này không chừng… 

Trên đường Hồng Thập Tự, Long chạy xe về hướng Thị Nghè thì gặp một toán quân đi ngược lại phía bên kia lề đường. Những người bé nhỏ mặc quần áo bộ đội, nhưng không đeo lon, chân đi dép râu, đầu đội nón cối, đi hàng một, im lặng, trông rất mệt mỏi. Nói là « lầm lũi đi » chắc cũng không ngoa! Phần đông đeo súng AK, có người vác trên vai những vật nặng, chắc là súng cối hay súng phóng lựu, đặc biệt có vài người gánh trên vai cái đòn gánh hai đầu nặng trĩu những quả đạn dài. Tất cả đi hàng một như những nông dân đi trên bờ đê về nhà sau một ngày làm việc mệt nhọc. Có thể nào tưởng tượng họ là thành phần của một đoàn quân chiến thắng đang tiến chiếm thành lũy cuối cùng của một chính thể mới cáo chung? Làm cách nào mà những người lính này đã làm rã hàng cả một đoàn quân hùng hậu trong một thời gian kỷ lục như thế? 

Long chưa hết ngạc nhiên khi xe chàng chạy ngang toán quân chiến thắng mệt mỏi đi bộ vào thủ đô Sài Gòn, thì một sự kiện khác làm chàng không thể quên buổi chiều ngày 30 tháng tư trên đường phố Sài Gòn này. Chàng đang chạy chiếc Vespa chầm chậm nhìn quang cảnh thành phố đổi chủ như thế nào thì  có một bộ đội đứng bên đường ngoắc chàng lại. Người bộ đội này cũng mặc quần áo lính, cũng không đeo lon, không có bảng tên, chân cũng đi dép râu, đầu cũng đội nón cối, nhưng đeo một khẩu súng lục bên hông, và đặc biệt có một cái túi vải đeo chéo trên vai. Sau này Long được biết súng lục và túi vải chỉ có sĩ quan mới có, có thể là chính ủy không chừng. 

Người bộ đội này trạc khoảng bốn mươi, nói với Long có thể cho anh ta quá giang một đoạn đường được không. Giọng nói chững chạc và lịch sự. Long trả lời được, “Tôi cũng đi về hướng đó”. Anh chàng leo lên phía sau của cái yên đôi trên chiếc Vespa. 

Cuộc gặp gỡ bất ngờ này, và nhất là sự va chạm của hai thân thể gần kề trên cái yên đôi của chiếc Vespa làm cho Long không thể quên sự kiện này. Cứ tưởng tượng mới sáng nay thôi, khi mà ông Dương Văn Minh chưa tuyên bố đầu hàng vô điều kiện, không thể có chuyện gặp gỡ như thế này. Long và anh chàng bộ đội này thuộc hai chiến tuyến, gặp nhau chỉ có thể tiêu diệt nhau hoặc người này bắt người kia làm tù binh. Không thể khác được. Vậy mà giờ đây, Long đang chở người này phía sau mình, như Long đã từng chở bao bạn bè của chàng trước đây… Lịch sử có những lúc sang trang một cách đột ngột và kỳ lạ như thế! 

Người bộ đội ngồi sau lưng Long hỏi chàng về thân thế, gia đình, công việc của chàng. Sau này Long sẽ biết là người miền Bắc vào thời đó có thói quen hỏi một người lạ mới nói chuyện lần đầu như thế là để chứng tỏ sự thân tình, không phải là chuyện tò mò bất lịch sự. Và Long cũng hỏi lại anh chàng bộ đội này một câu mà chàng xem là vô thưởng vô phạt: “Anh vào Sài Gòn bằng phương tiện nào?”. Chàng chờ đợi câu trả lời như “đi từ phía bắc vào trên một chiếc xe tăng” hoặc “đi thẳng từ Biên Hòa đến đây trên một  chiếc xe chỉ huy” hoặc “đi xe cam-nhông Molotova cùng đoàn quân”, v.v. 

Nhưng câu trả lời đến tức khắc, không cần thời gian suy nghĩ: “Tôi đi thẳng từ ngoài Bắc vào bằng tàu ngầm, tàu đến Vũng Tàu hôm qua, sáng nay đi xe về Sài Gòn.” 

Long chưng hửng, không biết nói gì hơn, lúc sau phải nói lảng qua chuyện khác. Miền Bắc có tàu ngầm? Sao hồi nào đến giờ không nghe nói? Chàng không biết miền Bắc như thế nào, nhưng chàng biết chắc chắn miền Nam không có tàu ngầm (2). Chẳng lẽ miền Bắc tiến bộ về Hải quân hơn hẳn miền Nam như thế? Nhưng chỉ qua một thoáng suy nghĩ, chàng tìm ra chân lý: anh chàng bộ đội này “nói xạo” (theo  tiếng miền Nam) hay “nói phét” (theo tiếng miền Bắc) “như hít thở không khí” (theo kiểu người Pháp “il ment comme il respire”). Rất tự nhiên, như một phản xạ. Nhưng xạo để làm gì? Trông mặt mũi cũng sáng  sủa mà sao nói xạo tỉnh bơ vậy? Hay anh chàng nghĩ dân miền Nam dốt nát cả, nói khoác lác đến đâu họ cũng tin? 

Long chợt nhớ hồi còn nhỏ xíu đã nghe câu “nói dối như Vẹm”… Vẹm là tiếng lóng để chỉ Việt Minh. Thời đó vì nhu cầu tuyên truyền, những cán bộ Việt Minh có thói quen thổi phồng chiến thắng, tâng bốc quá lố các chiến sĩ có công ngoài mặt trận, chưa kể đôi khi còn dựng đứng lên những tên tuổi anh hùng  chỉ có trong trí tưởng tượng của họ (3). Không ngờ qua 30 năm, thói quen đó đã thấm sâu trong vô thức của họ đến độ thế hệ con cháu vẫn tiếp tục “nói phét” mà không ngượng miệng. 

Về đến nhà, Long kể Mai nghe những gì mắt thấy tai nghe, cốt để cho Mai yên chí là tình hình ngoài đường phố không có gì phải lo sợ cả. Thế là hai vợ chồng quyết định vào xem tình trạng nhà của Hinh trong Đakao như thế nào. Đã mấy ngày rồi không đến ngôi biệt thự này, từ khi cầu Phan Thanh Giản bị  chặn. 

Cuộc ngưng chiến mới được nửa ngày mà trong mấy khu nhà giàu, đã xảy ra chuyện hôi của tại những ngôi nhà chủ nhân bỏ ra đi. Cũng may là nhà của Hinh kín cổng cao tường vẫn còn nguyên, chị người làm vẫn ở đấy chào đón vợ chồng Long đến. Chị nói hai vợ chồng nên dọn đến ở luôn đây vì với tình hình  này, chắc chắn gia đình của bà chủ không thể trở lại Việt Nam được nữa. Chị cũng xin phép ngày mai về quê vài ngày thăm gia đình ở miền Tây, sau đó sẽ trở lên vì bà chủ đã trả lương trước ba tháng rồi. 

Mai và Long rất phân vân về việc có nên đến ở luôn ngôi biệt thự này không. Dọn từ căn nhà bé nhỏ của mình đến sống trong cái nhà to trong khu Đa Kao thị tứ này, còn gì bằng nữa! Nhưng khổ nỗi cái nhà to kia có phải của mình đâu! Dù người chủ đã ân cần mời gia đình chàng đến ở, nhưng không có giấy tờ gì chứng minh điều này cả. Rồi tương lai, với chính quyền mới này, chính sách của họ đối với những nhà có chủ bỏ ra đi sẽ ra sao? 

Hai vợ chồng lấy quyết định đi đi về về giữa hai nơi chỉ cách nhau chưa đến 10 phút Vespa, để dò xét  tình hình ra sao, rồi sẽ tính. Mai cho chị người làm về quê thăm gia đình, trong lòng cũng không mấy hy vọng chị ta trở lại. Quả vậy, sẽ không khi nào gặp lại chị người làm này nữa. 

Ngay chiều tối ngày 30, đài phát thanh lặp đi lặp lại lời kêu gọi mọi người làm việc trong các công sở ngày mai mùng 1 tháng 5 phải đến trình diện tại nhiệm sở của mình. 

Sáng hôm sau Long đến trường Đại Học Dược Khoa. Trong sân gặp lác đác mấy vị giáo sư lớn tuổi  cũng như các giảng nghiệm viên trẻ như Long, hỏi thăm nhau “ai ở ai đi”, là một đề tài sẽ còn được nêu lên hàng đầu trong các cuộc trao đổi nhỏ to nhiều năm sau này. Trên một bảng yết thị gắn trên tường ngôi nhà cổ ngay cổng vào, một tờ thông cáo yêu cầu tất cả ban giảng huấn cũng như nhân viên của trường có mặt tại giảng đường 2 lúc 3 giờ chiều. 

Long về nhà cho Mai biết tại Đại Học Dược Khoa không có gì phải lo sợ, và khi đi qua Đài Truyền  Hình nơi Mai làm việc, chàng cũng không thấy có gì lạ cả. Thế là Mai cũng quyết định buổi chiều sẽ đến đài trình diện như lời kêu gọi trên đài phát thanh. 

Buổi chiều Long chở Mai đến trước cửa Đài Truyền Hình rồi vào trường Dược ngay xế bên kia đường. Trong giảng đường, chàng gặp lại những khuôn mặt quen thuộc, trong đó có Giáo Sư Nguyễn Vĩnh Niên từng là khoa trưởng trong 12 năm. Chàng cũng nhận thấy vắng nhiều khuôn mặt quen thuộc khác, điển  hình là hai Giáo Sư Tô Đồng và Đặng Vụ Biền là hai người thầy khi chàng học chứng chỉ đệ tam cấp, cũng như Giáo Sư Nguyễn Hiệp chủ trì bộ môn mà chàng đang làm giảng nghiệm viên. 

Đúng 3 giờ, ba người mặc quần áo bộ đội, không biết cấp bậc là gì vì không ai đeo lon, bước lên bục  giảng. Người lớn tuổi nhất tóc đã bạc với khuôn mặt khắc khổ tự giới thiệu mình và hai người kia với  giọng của người miền Nam. Ông nói được cách mạng giao cho nhiệm vụ “tiếp quản” trường Đại Học  Dược Khoa. Ông là một dược sĩ tốt nghiệp từ thời Pháp thuộc, sau đó theo kháng chiến, năm 1954 tập kết ra Bắc và trở vào Nam theo đoàn quân từ mấy năm trước. 

Người thứ hai là một trung niên ăn nói nhỏ nhẹ với giọng Hà Nội, mặt mày sáng sủa, là một dược sĩ đang dạy tại trường Đại Học Dược Khoa Hà Nội. Sau này mọi người được biết người này không phải là một bộ đội, chỉ bị trưng dụng bay vào Nam để tiếp quản trường Dược, mươi ngày sau lại trở về nhiệm sở của mình ngoài Bắc. Sở dĩ phải mặc quần áo bộ đội vì thời gian đầu mọi việc tiếp quản các cơ quan ở Sài Gòn là do Ủy Ban Quân Quản đảm trách, tức là quân đội. 

Người thứ ba là một thanh niên mới tốt nghiệp dược sĩ ngoài Hà Nội, bị động viên vào quân đội, theo  đoàn quân tiến về Sài Gòn trong những ngày cuối cùng của cuộc chiến. Anh bộ đội này trông thư sinh, chẳng có vẻ gì là một người cách mạng nằm gai nếm mật trong rừng cả. 

Người lớn tuổi nhất bây giờ là “Hiệu Trưởng” của trường Dược, tên gọi mới thay vì “Khoa Trưởng” như trước kia. Ông nói để trấn an mọi người, đại khái “Chiến tranh đã chấm dứt, giữa người Việt Nam với nhau không có kẻ thắng người thua, chỉ có Đế Quốc Mỹ là thua đã phải cút khỏi đất nước mình. Trong cảnh hòa bình lập lại, giờ đây đất nước rất cần tất cả các bàn tay, các khối óc và các con tim để xây dựng lại trên đổ nát của chiến tranh. Người cán bộ giảng dạy là những “kỹ sư tâm hồn” có nhiệm vụ cao cả và trọng yếu trong công cuộc xây dựng lại đất nước.” Ông cũng nói nói thêm “Mọi người đều thấy rõ đã không có tắm máu như lời tuyên truyền của các thế lực phản động trước đây, mà rõ ràng chủ trương của cách mạng là động viên mọi người xây dựng một tương lai tươi đẹp cho quê hương.” 

Quả thật sau 24 giờ Sài Gòn thất thủ, nhiều người dân miền Nam đã thở ra nhẹ nhõm vì đã không có cuộc “tắm máu” như có lời đồn đại trước đây. Riêng cá nhân Long không hề nghĩ đến chuyện tắm máu này, có lẽ do bản tính lạc quan của mình. Nhưng phải hiểu là lời đồn này không phải là vô căn cứ, với  những gì xảy ra tại thủ đô Phnom Penh của nước láng giềng Cam-Bốt. Khi phe Khmer đỏ chiếm đóng  Nam Vang ngày 17 tháng 4-1975 (hai tuần trước ngày Sài Gòn thất thủ), chỉ trong vòng mấy ngày, đa số người dân thành thị bị đuổi ra khỏi thủ đô để tập trung về những vùng quê hoang dã, sống trong những  trại tập thể, chịu cảnh lao động khổ sai. Số người chết vì bị giết dã man, vì bệnh tật, vì đói khổ, đã lên đến gần 3 triệu người chỉ trong 3 năm, hơn một phần ba dân số của Cam-Bốt. Tất cả tội ác đó được tiến hành  nhân danh một cuộc cách mạng triệt để, với cách tuyên truyền nhồi sọ cuồng tín là sẽ trở lại thời “cộng  sản nguyên thủy” chưa có giai cấp, để không còn cảnh “người bóc lột người”… 

Tại Sài Gòn còn quá sớm để có thể biết được cuộc cách mạng cộng sản Việt Nam sẽ đi tới đâu, nhưng trước mắt người dân phải lo sống qua ngày, và ngày đầu tiên như thế cũng làm mọi người phần nào yên  tâm. Long cũng chung tâm lý này, và khi chàng đón Mai về, những gì xảy ra trong Đài Truyền Hình tuy  không có gì vui nhưng cũng làm cho hai vợ chồng yên lòng thêm. 

Mai kể là khi bước vào đài chiều nay, nàng rất buồn khi gặp lại nhiều cô thư ký, nhiều nữ xướng ngôn viên đồng nghiệp đến trình diện, trước đây rất diện nhưng bây giờ đa số mặc quần đen với áo bà ba, không trang điểm gì cả. Còn Mai vẫn mặc áo dài như khi đi làm, vẫn trang điểm như khi xuất hiện trên  màn hình. Nàng muốn cho những người mới từ Hà Nội vào hoặc từ trong rừng ra thấy người xướng ngôn viên miền Nam như thế nào. Trong khi đó thì đa số các đồng nghiệp của nàng lại sợ rằng chiếc áo dài sang trọng bị xem là biểu tượng của giai cấp tiểu tư sản, sẽ gây ra sự ghen ghét của những người mới, và  sẽ có hại cho mình chăng. Mai nói với Long trong lúc trang điểm trước khi đi: « Họ giết mình là cùng! Nhưng nếu chết em vẫn muốn chết trong đẹp đẽ ». Tánh Mai là thế! Rất lo sợ lúc đầu nhưng khi đến đường cùng thì không còn sợ gì nữa! Mai nhớ lại chỉ vài ngày trước ông Lê Vĩnh Hòa, Giám Đốc đài, một Trung Tá Không Quân của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Truyền Thanh, Truyền Hình và Điện Ảnh đã gọi Mai lên và khuyên Mai phải đi, mang Long và hai con vào đài để nếu có dịp, ông sẽ dàn xếp cho gia đình Mai di tản. Ông nói đã bắt được tài liệu của Việt Cộng trong đó có danh sách « đen » gồm tất cả tên của các xướng ngôn viên Đài Truyền Hình Sài Gòn trong đó có tên Mai. Mai rất lo sợ nhưng hỏi lại: « Trung Tá bảo tôi đi sao Trung Tá không đi ? ». « Tôi không thể đi vì tôi không thể bỏ anh em, tôi đi thì đài như rắn mất đầu, không biết chuyện gì sẽ xảy ra cho anh em. Ngoài ra tôi cuốc được 3 năm, cô không cuốc được 3 năm ». Câu nói đầy trách nhiệm khiến Mai xúc động. Nhưng khi về bàn với Long, chàng không muốn đưa vợ con vào đài khi không có kế hoạch gì rõ rệt chắc chắn cả. 

Ông giám đốc mới của đài từ Hà Nội vào tên là Huỳnh Văn Tiểng. Ông là một nhạc sĩ gốc miền Nam được biết đến trong những năm 1940, cùng với hai nhạc sĩ bạn là Lưu Hữu Phước và Mai Văn Bộ. Nhiều bản nhạc yêu nước thời đó ký tên Huỳnh Mai Lưu là bút hiệu chung của ba người này. 

Cuối cùng thì gia đình Mai vẫn còn đó, và ông Trung Tá Giám Đốc cũng còn đó. Ông còn được ông Giám Đốc mới cám ơn vì đã giữ nguyên máy móc của đài nên đã có thể tiếp tục phát hình không gián  đoạn ngày nào, một điểm son trong buổi giao thời. Dù mới chỉ là những bước tiếp xúc đầu tiên, chưa biết  tương lai sẽ ra sao, nhưng cũng làm cho những người trong phe thua trận được trấn an phần nào. 

Đài Truyền Hình là một cơ quan đầu não của thông tin tuyên truyền, vậy mà cũng như bên Đại Học Dược Khoa, cuộc tiếp xúc đầu tiên giữa “người cũ” và “người mới” xảy ra nhẹ nhàng. Một phần có lẽ do những người đến tiếp quản hai cơ quan này đều gốc miền Nam. Sau này Long sẽ thấy là những nhận định  đầu tiên của chàng là đúng, cách cư xử của những người cộng sản gốc miền Nam thường không có tính cách cứng rắn và kỳ thị như những cán bộ cộng sản đến từ miền Bắc. 

Bên hệ thống truyền thanh, câu chuyện xảy ra hoàn toàn khác. Tất cả nhân viên cũ đều bị cho nghỉ việc tức khắc. Những người  chủ nhân mới đến có đủ nhân viên để điều hành các đài phát thanh, nên không cần nhân viên cũ như bên truyền hình. Kỹ thuật phát hình tại Hà Nội còn rất sơ khai, máy móc, kỹ thuật tại Miền Nam quá mới đối với họ, các kỹ sư đào tạo từ Đông Đức, Tiệp Khắc, v.v. không có khả năng vận hành máy móc của tư bản nên họ bắt buộc phải dùng nhân viên kỹ thuật cũ để tiếp tục duy trì chương trình phát hình của đài Sài Gòn. Chính vì vậy mà toàn bộ nhân viên truyền hình, kể cả ông Giám đốc, được giữ lại để tiếp tục điều hành công việc phức tạp này. Được giữ lại đến bao lâu là câu hỏi mọi người đặt ra, nhưng chỉ đặt ra trong đầu mình hoặc nói với người thật thân thiết mà thôi. 

Đó cũng là câu hỏi Long và Mai tự đặt ra cho mình, dù cả hai vợ chồng cảm thấy mình quá may mắn trong hoàn cảnh mới, vẫn giữ được công việc làm trong khi biết bao người khác chỉ trong vài ngày đã bị thất nghiệp, bất ngờ bị đẩy ra ngoài xã hội… 

Tương lai với “cách mạng” chưa biết như thế nào, nhưng chắc chắn là cuộc đổi đời đã bắt đầu. 

(còn tiếp)

Phạm Ngọc Lân

Ghi chú:

(1) Rất lâu sau này, một hôm bên Canada, tác giả gặp một cựu sinh viên cư xá Đắc Lộ, nhưng đã rời cư xá trước khi tác giả  vào nên không quen nhau thời đi học. Đó là Nguyễn Hữu Thái, một sinh viên kiến trúc sau này theo Mặt Trận Giải Phóng vào  bưng, ngày 30 tháng 4-1975 trở về Sài Gòn, kể là chính anh là người hướng dẫn một bộ đội lên lầu dinh Độc Lập để thay lá cờ. 

(2) Đến năm 1997, Việt Nam mới có tàu ngầm đầu tiên, nhưng được giữ bí mật, hơn 10 năm sau mới công bố. Đó là hai chiếc  tàu ngầm « mini » lớp Yugo mua cũ lại của Bắc Hàn (thật ra là trao đổi trong thỏa thuận đổi gạo lấy vũ khí) được đem về Cam  Ranh sửa chữa và chỉ dùng trong việc huấn luyện thủy thủ tàu ngầm. 

Đến năm 2009, Việt Nam mới chính thức đặt mua của Nga 6 chiếc tàu ngầm lớp Kilo là những tàu ngầm chiến đấu tân tiến  có ngói bọc chống sonar để đối phương không dò tìm được, nên gọi nôm na là « tàng hình ». Chiếc đầu tiên được giao hàng  năm 2012. Qua năm 2017, Việt Nam đã có đủ 6 chiếc tàu ngầm này, tạo thành một hạm đội tàu ngầm có khả năng chiến đấu  cao. 

(3) Điển hình là "Ngọn đuốc sống Lê Văn Tám", một thiếu niên anh hùng đốt kho đạn của Pháp ở Thị Nghè năm 1946. Tên Lê Văn Tám được đặt cho nhiều trường học, đường phố, công viên... truyện Lê Văn Tám cũng được đưa vào sách giáo khoa  tiểu học ở Việt Nam. 

Gần đây, nhà sử học Phan Huy Lê tiết lộ rằng tác giả của câu truyện là ông Trần Huy Liệu đã thổ lộ với ông rằng, lúc làm Bộ trưởng Bộ Tuyên truyền và Cổ động, ông Trần Huy Liệu đã "sáng tác" ra câu chuyện Lê Văn Tám "vì nhiệm vụ tuyên  truyền." Ông Phan Huy Lê cũng cho biết là đầu năm 1946 thật sự có xảy ra vụ đánh phá và đốt cháy kho đạn của Pháp ở Thị  Nghè, nhưng không hề có thiếu niên nào tên Lê Văn Tám, cũng không hề có câu chuyện cậu thiếu niên nào đó một thân một  mình làm "đuốc sống" hy sinh như trong huyền thoại của ông Trần Huy Liệu.