Cha danh 47 - Những dòng cuối cùng của một trang sử (Phạm Ngọc Lân)

Lượt xem: 240

“…Chính thể miền Nam Việt Nam đã chết yểu khi chưa đầy 20 tuổi. Nếu kể từ ngày 26 tháng 10 năm 1956 là ngày ban hành hiến pháp khai sinh nền Đệ Nhất Cộng Hòa đến ngày 30 tháng tư năm 1975 là ngày khai tử nền Đệ Nhị Cộng Hòa, chính thể Việt Nam Cộng Hòa đã tồn tại được 18 năm 6 tháng 4 ngày…”

binhsi_vnch_tancang

Cũng như cả triệu người dân Sài Gòn, cũng như cả chục triệu người dân miền Nam, Long và Mai sống những ngày cuối tháng 4-1975 trong cảnh hoang mang cùng cực.

Đầu tháng tư xảy ra một thảm cảnh báo hiệu cho các thảm cảnh nối tiếp sau này trong cơn hấp hối của chính thể miền Nam. Ngày 4 tháng tư, một chiếc phi cơ khổng lồ Galaxy C5 của quân đội Hoa Kỳ (dùng để chuyên chở vật liệu nặng của quân đội như xe vận tải, súng đại bác) chở các cháu bé trong một số cô nhi viện di tản khỏi Việt Nam trong một phi vụ nhân đạo bị rớt gần Tân Sơn Nhứt. Lúc đó có tin đồn phicơ bị hỏa tiễn bắn hạ, nhưng sau này khi mọi sự được công bố rõ ràng, máy bay không rớt vì bị tấn công. Chiếc phi cơ bị trục trặc kỹ thuật ít lâu sau khi cất cánh, đã bay ra đến biển Đông rồi lại phải quay gấp về Tân Sơn Nhứt để hạ cánh, nhưn gần đến nơi thì bị rớt, gây thiệt mạng cho hơn phân nửa trong số 311 nhân mạng. Chuyến bay này nằm trong khuôn khổ một chương trình của chính phủ Hoa Kỳ gọi là Babylift, mục đích di tản các trẻ em mồ côi lai Mỹ đưa về Hoa Kỳ. Riêng chính phủ Pháp cũng có thỏa thuận với Hoa Kỳ để thêm vào số trẻ lai Mỹ một số bé mồ côi Việt Nam đang làm hồ sơ cho các gia đình Pháp nhận làm con nuôi. Các em bé cùng chung số phận với các nhân viên đi kèm trong công việc từ thiệ này, là những nạn nhân oan uổng trong những ngày tàn của một chế độ.

Nhưng ai chết coi như cái số phải chết, còn người sống vẫn phải tiếp tục vẫy vùng để sống còn.

Đối với Long, việc đầu tiên trong tháng tư này là chàng phải biến phòng ăn bên trong nhà thành một hầm trú ẩn, theo khuyến cáo của chính phủ qua các đài truyền thanh truyền hình, phòng khi có pháo kích và tấn công vào thủ đô miền Nam. Hỏa tiễn 122 ly của quân cộng sản pháo kích vào Sài Gòn từ trước đến giờ vẫn có, nhưng mỗi đêm chỉ bắn vài quả vào thành phố trúng nhà ai nấy chịu. Còn bây giờ với tình hình chiến sự suy sụp, nếu có tấn công quy mô thì sẽ là pháo kích đêm ngày như mưa chứ không phải chỉ có vài quả đạn mỗi đêm như trước đây.

Gọi là « hầm trú ẩn » cho oai, thật ra chỉ rất sơ sài vì làm sao đào hầm trong nhà được? Long để một tấm nệm mỏng của giường lớn vào một góc của phòng ăn, rồi dùng bao cát chất bốn bề cao lên khoảng một thước rưỡi, hai bề sát vào tường, mặt trước chừa một cái cửa nhỏ vừa đủ chui ra chui vào. Phía trên lót ván rồi chất bao cát lên trên ván. Đêm đêm cả nhà vợ chồng con cái chui vào cái « lô-cốt » đó ngủ. Khỏi nói cũng đoán được là hai đứa nhỏ 5 tuổi và 3 tuổi rất khoái cái « hầm » này, như một trò chơi lạ ngay trong nhà!

Trong khi đó thì bố mẹ chúng hồi hộp nghe ngóng tin tức. Cũng như hàng triệu người dân miền Nam, Long và Mai ngày nào sáng chiều cũng đón nghe hai đài BBC và VOA để theo dõi thời cuộc, để từng ngày hãi hùng nghe tin dân chúng bỏ các thành phố miền Trung chạy về phía nam trong hoảng loạn… Những tin tức ấy lại được các phóng viên của đài Truyền Hình Sài Gòn đi theo những đoàn quân dân chạy loạn qua những hình ảnh đưa lên TV làm cho Mai càng hãi hùng hơn. Long vẫn hằng ngày đi dạy tại Đại Học Dược Khoa, Mai vẫn đi làm tại đài Truyền Hình nhưng những tối được nghỉ không ít lần Long thấy Mai ngồi khóc âm thầm trước máy truyền hình khi thấy đồng bào miền Trung bỏ cả nhà cửa bồng bế nhau chạy hướng về miền Nam. Dân chúng bỏ chạy khỏi những thành phố khi thấy quân đội di tản và họ nghĩ là các thành phố này sẽ lần lượt «mất » vào tay cộng quân. Nói chung thì phần đông các thành phố, tỉnh lỵ chỉ là bỏ ngỏ, rồi sau đó bộ đội cộng sản cứ việc đến chiếm đóng chẳng cần đánh đấm gì cả!

Ngoại trừ một trận đụng độ cuối cùng và đẫm máu nhất xảy ra ở Long Khánh, chỉ cách Sài Gòn chưa đầy một trăm cây số. Bắt đầu từ ngày 9 tháng tư, trận chiến ác liệt kéo dài đến ngày 20 tháng tư, cả hai bên đều thiệt hại nặng nề, những người lính của cả hai miền đã phải hy sinh vào những ngày cuối cùng của cuộc chiến. Qua ngày 21 tháng tư, bộ Tư lệnh Sư đoàn 18 và Lữ đoàn 1 Nhảy Dù được lệnh bỏ tỉnh lỵ Xuân Lộc của Long Khánh, rút về gần Sài Gòn hơn để tập trung lực lượng còn lại bảo vệ thủ đô miền Nam.

Tỉnh Long Khánh không còn là nút chặn nữa, đường về Sài Gòn trở thành thênh thang cho các đoàn xe Molotova tiến dũng mãnh đến thắng lợi cuối cùng …

Long Khánh thất thủ mở đầu cho giai đoạn hấp hối của chính thể miền Nam. Không khí hoảng loạn ở Sài Gòn đang như ngọn lửa âm ỉ bỗng bùng lên dữ dội. Các chuyến bay quốc tế đầy ắp những người có phương tiện chạy ra ngoại quốc, trong đó có gia đình vợ con một số các quan chức cao cấp trong chính quyền.

Đang lúc dầu sôi lửa bỏng như thế, một chuyện lạ lùng xảy đến với Long. Ngày 20 tháng 4-1975, bỗng dưng một người bạn học từ thời xa xưa, hồi còn ở nội trú trường trung học Adran Đà Lạt đến nhà gặp Long và đề nghị gia đình Long đến ở nhà mình. Người bạn này tên Hinh, trước kia học dưới Long một lớp, sau này cũng tốt nghiệp Dược sĩ, nhưng ít liên lạc với nhau, không hiểu do đâu Hinh biết nhà Long mà tìm đến. Thời còn sống nội trú ở Đà Lạt, ai cũng biết mẹ của Hinh là một thương gia giàu có ở Sài Gòn. Long cũng từng giúp đỡ Hinh bằng cách giảng giải vài chỗ rắc rối trong hai môn toán và vật lý, nên được mẹ của Hinh mời đến chơi nhà và tỏ vẻ rất quý mến. Từ đó đến khi gặp lại Long, Hinh vẫn chưa lập gia đình, vẫn sống với mẹ và mấy đứa em.  

Hinh trình bày là với tình hình chiến sự lan tràn đến gần Sài Gòn, gia đình Hinh sẽ tạm lánh qua Hồng Kông, nên nhờ Long đem cả gia đình đến ở ngôi biệt thự của mẹ chàng trong Sài Gòn, vì sợ nhà không chủ sẽ bị phá phách và hôi của trong lúc dầu sôi lửa bỏng. Anh chàng hy vọng có ngày trở về nhà khi đã qua thời kỳ hỗn loạn của những ngày cuối của cuộc chiến. Lúc đó có vài dư luận cho rằng có thể sẽ trung lập hóa miền Nam theo một đề nghị của chính phủ Pháp vẫn có chủ trương này từ thời Tướng De Gaulle còn làm Tổng Thống trong thập niên 60. Thật tình mà nói, Long không có một mơ tưởng hão huyền nào về việc này cả, vì Hà Nội đang thắng thế trên chiến trường, tại sao lại phải chấp nhận một giải pháp trung lập khi họ sắp sửa chiếm trọn cả nước?

Theo lời mời của Hinh, hôm sau Long và Mai đến ngôi biệt thự trong khu Đa Kao, cách nhà Long chưa đầy một cây số. Đi ngoài đường chỉ thấy bức tường cao và cánh cổng sắt rộng kín bưng. Vào trong là một cái sân rất rộng tráng xi-măng, có thể đậu nhiều chiếc xe hơi. Ngôi nhà lớn hai tầng, kiến trúc đẹp, kiểu nhà Tây ngày xưa, nhưng Long được biết là nhà mới xây cất sau này. Tầng lầu mở ra một cái sân thượng rộng, dưới sân thượng là nhà để xe. Trước đây ngôi biệt thự này không phải nhà chính của gia đình Hinh ở, mà dùng cho Mỹ thuê. Khi quân Mỹ rút năm 1973, gia đình Hinh mới lấy lại về đây ở. Thời gian nhiều lính Mỹ từ 1965 đến 1973, rất nhiều nhà nhỏ có lớn có, xây cất mới hoặc sửa sang lại để cho Mỹ thuê rất có lợi, nhưng đa số chỉ là lính Mỹ thường thôi. Còn ngôi biệt thự của gia đình Hinh kín cổng cao tường trong một khu yên tĩnh như thế, người Mỹ sống ở đây là những viên chức dân sự cao cấp trong guồng máy của Hoa Kỳ.

Bà mẹ của Hinh đón tiếp hai vợ chồng Long rất niềm nở, tỏ vẻ quý mến Long như thời xưa. Bà nói tin tưởng Long là người đàng hoàng nên giao cả ngôi nhà với đồ đạc bàn ghế giường tủ, có cả một chiếc xe hơi LaDalat (1) và một chiếc xe gắn máy Honda. Bà đưa đi xem tất cả các phòng trên lầu dưới nhà, phòng nào cũng đầy đủ đồ đạc tiện nghi. Bà nhờ gia đình Long đến ở để giữ giùm nhà, cho nhà có vẻ vẫn có chủ, tránh cướp bóc hôi của trong khi loạn lạc. Bà nói hai vợ chồng không phải làm gì vì vẫn còn chị giúp việc sống luôn trong nhà, bà đã trả trước ba tháng lương để chị này tiếp tục làm việc dọn dẹp trông nom.

Một ngôi biệt thự trên một mảnh đất rộng lớn như thế ngay trong thành phố Sài Gòn, so với căn nhà của Long hiện tại thì thật là một trời một vực. Long nghĩ mình có đi làm suốt đời cũng không thể nào có tiền tậu được một cơ ngơi như thế, và cũng chẳng khi nào chàng mơ tưởng có ngày sống trong một biệt thự như thế này. Vậy mà bây giờ có người « mời » chàng và gia đình đến ở. Tình hình chiến tran loạn lạc, chàng vẫn tưởng sẽ chẳng còn gì có thể gọi là bất ngờ được nữa! Nhưng chàng lầm, cái bất ngờ vẫn có, và vẫn đến với gia đình chàng!

Ngoài câu chuyện lạ lùng này, công việc dạy học củ Long vẫn tiếp tục nhưng dĩ nhiên chỉ tiếp tục để trấn an mọi người và tự trấn an mình. Tại trường Marie Curie của Pháp nơi chàng dạy Lý Hóa cho mấy lớp chuẩn bị thi tú tài, có kế hoạch phải tổ chức thi sớm hơn dự trù phòng khi phải đóng cửa trường sớm. Tại Đại Học Dược Khoa không khí rất căng thẳng, thầy cô cũng như sinh viên đều hoang mang trước tình thế dầu sôi lửa bỏng. Một hôm, một vị Giáo Sư là thầy của Long trước đây, gặp riêng chàng ngoài sân trường, nói bên Đại Học Y Khoa đang lập một danh sách các thành phần trong ban giảng huấn muốn di tản qua Mỹ trong trường hợp Sài Gòn thất thủ. Bên trường Y có phái đoàn Y Khoa Hoa Kỳ làm việc chung nên họ tìm cách giúp các đồng nghiệp đang dạy học tại đấy. Ban giảng huấn bên trường Dược cũng được ghi tên « ké » vào danh sách này, nên vị Giáo Sư kia hỏi riêng một số người thân cận có muốn ghi tên không. Long chỉ biết trả lời « Vâng! », dù chẳng biết gì khác hơn về cách tổ chức di tản này cả.

Về phía Đài Truyền Hình nơi Mai vẫn tiếp tục làm việc, một hôm ông Giám Đốc nói với Mai là ban đêm có thể mang chồng con vào ngủ trong đài, nếu bất thình lình đài có phương tiện di tản thì xướng ngôn viên sẽ được đi cùng với các thành phần khác, những người được xem là có thể bị nguy hiểm đến tính mạng khi cộng sản thắng thế. Long và Mai có hai con nhỏ 5 và 3 tuổi, đã thấy các thảm cảnh di tản từ miền Trung vào Sài Gòn nhất là đối với trẻ con, nên chỉ biết cám ơn lòng tốt của ông nhưng không trông đợi gì lắm với đề nghị đó, vì chính ông cũng không biết cụ thể sẽ tổ chức di tản như thế nào.

Các biến cố càng dồn dập hơn khi Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố từ chức trong một một bài diễn văn đọc lúc 19 giờ 30 ngày 21 tháng 4-1975 được trực tiếp truyền thanh và truyền hình. Trong vòng hai giờ đồng hồ, trước một cử tọa gồm thành phần chính phủ, quân đội và quốc hội, và trước một số người kỷ lục theo dõi trước máy truyền hình, ông Thiệu trình bày thành quả mười năm cầm quyền của mình, với một giọng cay đắng đối với « người bạn đồng minh Hoa Kỳ » đã quyết định bỏ rơi Việt Nam Cộng Hòa khi Quốc Hội Mỹ cắt giảm viện trợ đang từ hàng tỉ xuống còn ba trăm triệu đô-la cho năm 1975, trong khi miền Bắc vẫn nhận được viện trợ dồi dào của khối cộng sản quốc tế để đánh chiếm miền Nam.

Ông Thiệu phải từ chức Tổng Thống vì sức ép từ nhiều phía, vì chiến cuộc đã đành, mà còn có những thế lực chính trị tin tưởng là nếu thay ông Thiệu bằng một khuôn mặt khác « chống cộng ít cứng rắn hơn » thì hy vọng có thể thương thuyết với Hà Nội về một giải pháp ôn hòa. Khuôn mặt đó là Tướng Dương Văn Minh (2), người đã cầm đầu đảo chánh Tổng Thống Ngô Đình Diệm năm 1963.

Nhưng việc từ chức Tổng Thống phải được tiến hành theo Hiến Pháp, nên người lên thay là Phó Tổng Thống Trần Văn Hương, một cụ già 71 tuổi sức khỏe yếu ớt. Chờ làm xong các thủ tục mất gần một tuần lễ, đến tối ngày 28 tháng 4 Tướng Dương Văn Minh mới chính thức lên làm Tổng Thống. Trong khi đó, ông Thiệu được Mỹ tổ chức đưa qua Đài Loan từ ngày 25, nhưng ông không qua tị nạn ở Hoa Kỳ mà xin tị nạn ở Anh Quốc (4).

Từ hôm ông Thiệu từ chức, không còn ai ảo tưởng gì về tương lai của thể chế Việt Nam Cộng Hòa nữa, và những ai có thể bay ra khỏi nước một cách chính thức đều vội vã ra đi hoặc không đi cũng tìm cách cho gia đình đi. Riêng người Mỹ đã bắt đầu tổ chức cho các thân nhân người Việt của họ di tản bằng máy bay của Hoa Kỳ. Trong gia đình Mai, cô em kế cùng chồng con cũng ra đi theo đường này, vì chồng của cô có em gái lấy một người Mỹ, người Mỹ này đã tổ chức được cho cả gia đình bên vợ ra đi. Phải hiểu là không phải ai có thân nhân lấy Mỹ cũng có thể ra đi như vậy, đơn giản là vì số chỗ trong các chuyến bay có hạn, các chuyến bay cũng chỉ có hạn, mà số người muốn ra đi thì quá nhiều, nên rất nhiều thảm cảnh kẻ ở người đi xảy ra cho nhiều gia đình. Một cậu con trai sau này là em cột chèo của Long hụt chuyến đi vì đang bận đi đâu đó không có mặt ở nhà khi người cố vấn Mỹ của ông bố cậu đến đón cả nhà vào ngay phi trường…

Trở lại câu chuyện riêng của Long, ngày 25 tháng Tư, Hinh đến nhà Long báo tin gia đình chàng sẽ lấy máy bay qua Hồng Kông lánh nạn và giao cho Long chùm chìa khóa,nhờ chàng mang cả gia đình đến ở ngay hô đó để có người trong nhà.

Đêm đó Long đem Mai và hai con đến ngủ trong ngôi nhà rộng lớn và kiên cố này. Cảm giác Long còn nhớ mãi là đêm đó ngủ yên giấc hơn vì ít lo hơn. Dù sao nói dại nếu có rơi vào nhà quả đạn đại bác 122 ly của quân đội cộng sản đang tiến sát đến bao vây Sài Gòn thì cũng có hai lớp bê-tông cốt sắt bảo vệ phần nào, một lớp làcái trần nhà, lớp thứ hai là cái sàn của lầu trên cũng là trần của tầng trệt. Dù không bảo đảm an toàn 100% nhưng cũng đỡ hơn là cái sàn gỗ và cái trần các-tông nhà của Long, dù có tăng cường thêm mấy bao cát che trên cái « hầm trú ẩn ».

Nhưng gia đình Long chỉ được cảm giác an toàn đó trong hai đêm mà thôi. Qua ngày thứ ba, khi Long dùng Vespa chở cả gia đình vào Đa Kao là nơi tọa lạc ngôi nhà kiên cố kia thì cầu Phan Thanh Giản đã có kẽm gai và bao cát dựng lên làm một hàng rào kiên cố, với nhiều khẩu đại liên chĩa họng súng đe dọa người đến gần. Chàng đi vòng Ngã Tư Hàng Xanh qua Thị Nghè thì cầu này cũng có nút chặn tương tự, nội bất xuất khỏi Sài Gòn, ngoại bất nhập vào Sài Gòn. Tình hình chiến sự đã đến lúc căng thẳng tột độ, « trận chiến Sài Gòn » không biết sẽ nổ ra lúc nào, sẽ gây ra bao tang thương đổ nát trong một thành phố đông nghẹt hàng mấy triệu con người.

Lệnh giới nghiêm 24/24 được ban hành, nhưng ngoài đường xe cộ vẫn chằng chịt, người ta chạy lui chạy tới như những con ruồi bay loạn xạ trong cái hộp bẫy. Chứng tỏ không còn ai tuân lệnh một chính quyền sắp tan rã. Người ta chỉ biết tìm đường « chạy loạn » !

Đối với Long, bị cô lập bên ngoài Sài Gòn cũng có cái hay về mặt tâm lý. Nếu có mặt trong thành phố vào những ngày cuối cùng của tháng tư thì thế nào chàng cũng sẽ bị lôi cuốn theo dòng người hoảng loạn chạy xuống bến tàu tìm đường trốn chạy. Sau này chàng được người quen kể lại cảnh leo lên tàu, rồi lại leo xuống vì khám phá ra còn thiếu ai đó trong gia đình, hoặc leo lên rồi mới biết chiếc tàu đó chẳng có ai định lái đi đâu cả… Tàu rời bến rồi trên đường ra biển lại bị đạn pháo của quân cộng sản nã theo… Cảnh kẻ ở người đi, vợ lạc chồng, con thơ lạc cha mẹ… Nhưng vì sống bên ngoài Sài Gòn, dù không xa cái không khí nóng bỏng hỗn loạn của một thủ đô miền Nam đang lên cơn sốt, nên chàng còn đủ tỉnh táo để nghĩ rằng cái số mình không phải chịu cảnh chạy loạn như thế có khi lại là may!  

Tình hình đang sôi sục như thế thì ngay gần nhà Long xảy ra một sự kiện bất ngờ. Trong khi chợ búa không còn họp hay chỉ có lơ thơ vài bó rau, vài nải chuối, bỗng nhiên hai bên bờ đường Phan Thanh Giản nối dài (là con đường chính đi ra xa lộ Biên Hòa và quốc lộ 1) bao nhiêu người ngồi la liệt bày bán hàng hóa của… M ! Từ đồ hộp đủ loại đến cam tươi Sunkiss của California, phó-mát Cheddar cheese đặc biệt của Hoa Kỳ… với giá rẻ mạt. Hỏi ra mới biết, ngay Tân Cảng ở chân cầu xa lộ có một kho hàng PX (3) lớn của Mỹ không còn ai quản lý, bị dân chúng phá cửa vào lấy đồ đạc mang ra bán. Long nghe đồn cũng chạy Vespa đến nơi xem thực hư ra sao thì thấy lũ lượt người lớn trẻ con vác bị trên vai, lội nước bùn bì bõm đến ngang bụng để vào được cái kho bị phá để hôi của. Phía cửa bị phá quay ra sông nên người ta cũng phải lội nước bùn khổ cực lắm mới lấy được hàng cho vào bị mang về bán chứ không dễ dàng gì.

Đúng là « của Trời cho », đang lo nếu đánh nhau to thì đồ ăn thức uống tìm đâu ra, bỗng dưng vừa có nhiều lại vừa rẻ! Đi mua đồ hộp Mỹ để trữ cũng là một cách dùng những công việc nhỏ nhặt để quên đi phần nào những chuyện to tát gấp bội…

Chuyện to tát có thể xảy ra bất cứ lúc nào là một cuộc tấn công quy mô vào Sài Gòn từ nhiều phía. Từ ngày Long Khánh thất thủ, một trong những con đường tiến thẳng vào Sài Gòn chính là đường đi qua khu nhà Long, nếu có giao tranh thì căn nhà này chắc chắn sẽ nằm trong vùng giao tranh ác liệ nhất.

the_last_battle

Nhưng may mắn cho người dân Sài Gòn, sự việc đã không xảy ra như thế. Đã không có giao tranh đẫm máu, vì ngày 28 tháng 4, Tướng Dương Văn Minh lên làm Tổng Thống với một nội các do ông Vũ Văn Mẫu cầm đầu, gồm những khuôn mặt « mềm dẻo » hơn những người chống cộng cứng rắn trong chính phủ của ông Thiệu trước đây. Việc làm đầu tiên của Thủ Tướng Vũ Văn Mẫu là phổ biến trên đài phát thanh một thông cáo yêu cầu tất cả nhân viên Hoa Kỳ, dân sự cũng như quân sự, phải rời khỏi Việt Nam trong vòng 24 tiếng đồng hồ để người Việt Nam « dàn xếp công việc » với nhau. Thật ra việc di tản người Mỹ khỏi Việt Nam đã được chính phủ Hoa Kỳ ở Washington quyết định trước đó rồi, chỉ còn vấn đề thời điểm chính xác để thực hiện cuộc di tản này, và cách tổ chức ra sao cho khỏi rơi vào cảnh hỗn loạn. Nhưng thật khó mà tránh được hỗn loạn khi có cả mấy trăm ngàn người Việt Nam sống tại Sài Gòn đang cố tìm cách được di tản với Mỹ trong đợt này.

Tảng sáng ngày 29, phi trường Tân Sơn Nhứt bắt đầu bị pháo kích nặng nề, phi đạo không còn dùng được nữa, chỉ còn hai phương tiện để rời Sài Gòn là tàu thủy và trực thăng. Bến tàu Sài Gòn đông nghẹt người tranh nhau leo lên các tàu neo bến, nhiều khi không biết tàu có đi hay không, chỉ nghe đồn là có tàu chỗ nào là chạy đến tìm cách leo lên thôi. Long có bạn sau này gặp lại cho biết leo lên một chiếc tàu ở Kho Năm cùng với bao nhiêu người khác, rốt cuộc tàu đó không đi, trong khi cái tàu bên cạnh lại rời bến. Thế là… lỡ tàu!

Riêng người Mỹ và một số ít người Việt còn một cách thoát cuối cùng là trực thăng. Số người Việt này hoặc có liên hệ gia đình (vợ con của người Mỹ và thân nhân của họ), hoặc là những người có chức vụ trong chính quyền Việt Nam Cộng Hòa, nếu ở lại có thể nguy hiểm đến tính mạng, đã được người Mỹ liên lạc từ trước cho biết điểm hẹn khi phải di tản.

Ngày 29, trên bầu trời nhà hai vợ chồng Long ở gần Ngã Tư Hàng Xanh là một cảnh ngoạn mục có một không hai đối với người dân Sài Gòn. Từng đoàn trực thăng bay từ hướng đông vào, từ từ khuất sau các mái nhà về phía cầu Phan Thanh Giản. Lúc đầu chỉ là con đường một chiều từ biển Đông vào thành phố, ít lâu sau trở thành xa lộ hai chiều với đoàn trực thăng bay ngược từ thành phố ra biển Đông. Và cứ thế, hai dòng trực thăng vẽ lên bầu trời trong xanh của Sài Gòn một cảnh tượng chẳng khác gì trong những phim nổi tiếng nhất của Hollywood…

Nhưng không như đoàn trực thăng bay rầm rộ đi « tiễu trừ phiến loạn » kèm theo tiếng nhạc oai hùng của Wagner trong phim Apocalypse Now (5), đoàn trực thăng này bay lặng lẽ từng toán 3 chiếc một, chỉ nghe tiếng cánh quạt phành phạch đều đặn, đều đặn… Long tưởng tượng tâm trạng của những người Việt Nam ngồi trong đó, chắc là khôn xiết vui mừng vì mới leo lên được một cái « phao » thoát hiểm. Nhưng không biết trong sâu thẳm của tâm hồn, đã có ai bắt đầu cảm thấy cái cảm giác tê tái của một người từ biệt quê hương mình mà không biết có ngày nào trở về hay không…

Cuộc di tản trên không này kéo dài qua đến sáng ngày 30 mà không có phản ứng quân sự nào của phe cộng sản, có lẽ do một sự thỏa thuận ngầm giữa Hà Nội và Washington để những người Mỹ cuối cùng rút ra khỏi Việt Nam một cách an toàn. Vì phải hiểu là dù đa số những người được di tản bằng trực thăng này là người Việt, nhưng toàn bộ kế hoạch được dự trù để di tản người Mỹ là chính, để không một người Mỹ nào còn bị sót lại để bị bắt làm tù binh khi Sài Gòn thất thủ, kể cả ông Đại Sứ Martin. Ông Đại Sứ đã nhất định không nghe lời thúc giục của thượng cấp từ Washington là phải đi ngay từ đầu, ông đã ở lại để điều hành cuộc di tản với cấp thừa hành để giữ vững tinh thần cho họ. Ông chỉ rời khỏi Sài Gòn vào sáng sớm ngày 30 theo lịnh của Ngoại trưởng Mỹ Kissinger, trên một trong các trực thăng cuối cùng đưa những người Mỹ cuối cùng ra khỏi miền Nam Việt Nam (6).

Cuộc di tản phải chấm dứt mặc dù còn rất nhiều người Việt tụ tập ngoài hàng rào của tòa đại sứ Mỹ cũng như các điểm hẹn. Chấm dứt vì giờ lịch sử đã điểm.

10 giờ 15 sáng ngày 30 tháng tư 1975, Long nghe trên đài phát thanh lời kêu gọi của Tổng Thống Dương Văn Minh mới nhậm chức chưa được hai ngày. Ông Minh ra lệnh cho các binh sĩ của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa buông súng, đồng thời cũng kêu gọi phe cộng sản ngưng bắn để tiết kiệm xương máu của đồng bào. Ông nói thêm là toàn bộ chính phủ của ông đang ở dinh Độc Lập, chờ đợi đại diện của Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam đến để bàn giao quyền lực trong ôn hòa.

Long và Mai vẫn ở nhà lắng nghe tin tức trên các đài phát thanh, bỗng có tiếng súng rất gần, lúc đầu còn rời rạc, sau đó càng ngày càng nhiều, cuối cùng liên tục như pháo Tết đêm Giao Thừa, kéo dài không biết bao lâu, có lẽ cả giờ… Sau này Long mới biết là tiếng súng không phải đến từ một trận đụng độ cuối cùng ở đâu đó, mà chỉ là những người lính Việt Nam Cộng Hòa từ xa rút về Sài Gòn theo ngả xa lộ Biên Hòa, khi nghe lệnh ngưng bắn của Tổng Thống cuối cùng của miền Nam, đã bắn chỉ thiên cho đến khi hết đạn, rồi đa số quăng súng, trút bỏ quân phục bên lề đường, trở lại hình dáng của một người dân thường để hy vọng được sống lại cuộc đời bình thường trong cảnh thái bình. Tương lai của họ sẽ như thế nào, sau này mới rõ…

Trong khi đó, chuyện gì đã xảy ra trong dinh Độc Lập? Tổng Thống Dương Văn Minh, Thủ Tướng Vũ Văn Mẫu cùng toàn thể nội các đều có mặt, chờ đợi một cuộc « bàn giao quyền lực trong ôn hòa ». Nhưng đó chỉ là mơ ước hão huyền, tỉnh giấc chỉ thấy xe tăng T54 của phe thắng cuộc xông vào sân dinh Độc Lập, bộ đội cầm súng tiến vào phòng nơi mọi người tụ tập. Ông Minh lên tiếng sẵn sàng bàn giao thì được trả lời thẳng thừng là các anh không còn gì để bàn giao nữa cả, phải đầu hàng vô điều kiện mà thôi (7). Toàn bộ nội các bị bắt làm tù binh, riêng ông Dương Văn Minh bị giải đến đài phát thanh để đọc một bản văn đầu hàng do phe thắng cuộc thảo ra.

Chính thể miền Nam Việt Nam đã chết yểu khi chưa đầy 20 tuổi. Nếu kể từ ngày 26 tháng 10 năm 1956 là ngày ban hành hiến pháp khai sinh nền Đệ Nhất Cộng Hòa đến ngày 30 tháng tư năm 1975 là ngày khai tử nền Đệ Nhị Cộng Hòa, chính thể Việt Nam Cộng Hòa đã tồn tại được 18 năm 6 tháng 4 ngày, tổng cộng 6760 ngày.

Phạm Ngọc Lân

Cha vô danh – Chuyện kể cuộc đời một người Việt lai Pháp  

Chú thích:

(1) Đây là loại xe hơi có máy và sườn là của hãng Citroen (xe 2CV nổi tiếng của Pháp), nhưng phần còn lại làm tại Việt Nam.

(2) Đại Tướng Dương Văn Minh (1916-2001) bắt đầu sự nghiệp trong quân đội Pháp từ thập niên 1940, sau đó chuyển qua

Quân Đội Quốc Gia thời ông Bảo Đại về nước làm Quốc Trưởng. Năm 1955, ông Dương Văn Minh là người cầm đầu các đơn vị đánh bại Bình Xuyên và Hòa Hảo, giúp củng cố chính quyền non trẻ của Thủ Tướng Ngô Đình Diệm mới nắm quyền sau hiệp định Genève 1954.

Tám năm sau, ông chính là người cầm đầu đảo chánh Tổng Thống Ngô Đình Diệm và có thể là người ra lệnh giết hai anh em ông Diệm và ông Nhu. Chỉ 3 tháng sau đó, ông bị Tướng Nguyễn Khánh đảo chánh, và chỉ thực sự xuất hiện lại trên chính trường miền Nam vào những ngày cuối của tháng tư 1975, khi ông trở thành « Tổng Thống 2 ngày » để đầu hàng phe cộng sản.  

Vì chuyện đầu hàng vô điều kiện này, phe thắng cuộc không bắt ông vào các trại tù cải tạo như những tướng lãnh khác, mà chỉ quản thúc ông tại gia. Năm 1983 ông được phép qua Pháp sống, sau đó ông sang định cư bên Mỹ và mất tại California năm 2001.

(3) PX (Pacific Exchange) là tên những siêu thị của Mỹ dành riêng cho quân nhân Hoa Kỳ.

(4) 2 Ông Nguyễn Văn Thiệu sinh năm 1923 tại Phan Rang. Năm 1965, khi quân đội Mỹ ồ ạt vào miền Nam trực tiếp điều khiển chiến tranh, ông lên nắm quyền trong một chính phủ quân nhân. Hai năm sau, một bản hiến pháp mới được ban hành khai sinh nền Đệ Nhị Cộng Hòa, và ông được bầu làm Tổng Thống năm 1967. Bốn năm sau, ông tiếp tục chức vụ Tổng Thống sau khi đắc cử trong một cuộc bầu cử « độc diễn ». Ngày 21 tháng 4-1975 ông buộc phải từ chức, và người Mỹ tổ chức cho ông bay qua Hồng Kông 4 ngày sau đó. Có tin đồn đại cho rằng ông Thiệu ra đi mang theo 16 tấn vàng, sau này được biết chính xác đó chỉ là tin thất thiệt, số vàng đó vẫn còn nguyên trong kho bạc.

Qua Hồng Kông rồi, ông xin tị nạn bên Anh, sống ở đấy đến thập niên 1990 ông qua Mỹ sống tại thành phố Boston, và mất tại đấy năm 2001.

(5) Apocalypse Now là bộ phim của Mỹ do đạo diễn Francis Ford Coppola thực hiện năm 1979, với tài tử Marlon Brando.

Trong phim có cảnh đoàn trực thăng Mỹ bay rợp trời theo tiếng nhạc bài “Chevauchée des Walkiries” trích trong vở nhạc kịch nổi tiếng của nhạc sĩ Đức Richard Wagner (1813-1883). Tác giả được xem phim này năm 1980 khi mới đến Paris, đã rất thất vọng vì không thấy được cái thật trong những cảnh về chiến tranh Việt Nam. Một người bạn sống lâu năm bên Pháp cho biết đây là một phim rất thành công về mặt điện ảnh, được nhiều giải thưởng quốc tế, nhưng chủ đề không phải là chiến tranh Việt Nam, cũng không phải là phim tài liệu về chiến tranh Việt Nam. Chỉ dùng chiến tranh Việt Nam làm cái khung cho truyện phim mà thôi, nên đối với người ngoại quốc, họ không quan tâm đến những chi tiết “không thật” chỉ có người Việt Nam mới chú ý.

(6) Trong suốt tháng tư, người Mỹ (quân nhân cũng như dân sự) không thật sự cần phải ở lại đến phút chót, đã được di tản bằng phương tiện hàng không dân sự hoặc máy bay quân sự. Phần đông những người Mỹ này có thì giờ để lo giấy tờ cho những thân nhân người Việt của họ để cùng di tản trong trật tự.

Đến ngày 29 bắt đầu cuộc di tản bằng trực thăng mang tên Operation Frequent Wind, cũng đã dự trù từ trước, nhưng sẽ chỉ được tiến hành khi chính quyền Mỹ nhận định là giờ phút nguy kịch đã đến. Nó bắt đầu từ trưa ngày 29 tháng tư, kéo dài suốt đêm qua đến sáng ngày 30 thì chấm dứt. Hơn một ngàn người Mỹ cuối cùng rời khỏi Việt Nam bằng cách này, số người Việt đi cùng với họ khoảng hơn 5000 người.

Có nhiều điểm hẹn trong thành phố cho những người di tản, kể cả Mỹ lẫn Việt. Mật hiệu để những người này đến điểm hẹn là ca khúc White Christmas (Lễ Giáng Sinh Trắng, một bản nhạc Mỹ quen thuộc của Irving Berlin do ca sĩ Bing Crosby hát lần đầu năm 1942) được phát đi phát lại trên đài phát thanh Mỹ ở Sài Gòn. Xe ca đến đón những người này đưa vào cơ quan DAO (Defense Attaché’s Office) là cơ quan quân sự Mỹ có từ sau hiệp định Paris 1973, nằm trong một khu gần phi trường Tân Sơn Nhứt. Tại đây có trực thăng đưa họ ra các tàu chiến của Đệ Thất Hạm Đội Hoa Kỳ. Ngoài ra, ngay trung tâm Sài Gòn, tòa đại sứ Mỹ và nhiều cơ quan khác của Mỹ cũng là nơi đáp trực thăng di tản.

Nguyên tắc là như vậy, nhưng khi người Việt đến những điểm hẹn đó thì có khi mọi việc trôi chảy (nhất là khi điểm hẹn đó thực sự « bí mật » ít người khác biết), nhưng cũng có khi lỡ tàu vì trục trặc vào giờ chót xe ca không đến, hoặc vì đông nghẹt người không vào được. Đặc biệt là tại tòa Đại Sứ Mỹ, các đài truyền hình quốc tế đều đưa lên hình ảnh đám đông chen nhau trước hàng rào để tìm cách vào trong.

Có một tấm hình có lẽ được biết đến nhiều nhất vì mỗi khi nhắc đến cuộc di tản bằng trực thăng ở Sài Gòn vào cuối tháng 4-1975, các đài truyền hình cũng như báo chí quốc tế đều đưa tấm hình đó lên. Hình chụp trên sân thượng của một tòa nhà, có một chiếc trực thăng đậu trên một cái bệ cao, bên phải là một cái thang bắc lên chống vào cái bệ đó. Người ta lần lượt leo lên thang, có một người đứng ở chân trực thăng kéo từng người một đưa vào trong trực thăng. Nhiều người tưởng đó là hình ảnh cuộc di tản tại Tòa Đại Sứ Mỹ, nhưng không phải. Đó là nóc nhà một cơ quan của CIA, ở số 22 đường Gia Long (nay là Lý Tự Trọng).

(7) Các báo chí trong nước cũng như quốc tế đều đưa tin người sĩ quan của quân đội Bắc Việt vào trong dinh Độc Lập nhận lời đầu hàng của Tổng Thống Dương Văn Minh là ông Bùi Tín. Ông không phải là một sĩ quan chỉ huy đoàn quân tiến vào dinh Độc Lập, chỉ là phóng viên của báo Quân Đội Nhân Dân đi theo đoàn quân. Nhưng lúc đó ông có quân hàm cao nhất trong các sĩ quan có mặt nên là người đại diện trực tiếp nói chuyện với Tướng Minh.

Năm 1990, ông Bùi Tín qua Paris và xin tị nạn tại đây. Trong nước rất xôn xao về việc này, các phương tiện truyền thông của nhà nước lên tiếng đả kích, xỉ vả ông nặng nề. Đặc biệt họ nhắc lại chuyện ngày 30 tháng 4-1975 trong dinh Độc Lập, phủ nhận việc ông Bùi Tín gặp gỡ đầu tiên nội các của ông Minh. Theo họ thì người đó là Trung Tá Bùi Văn Tùng, tuy cấp bậc thấp hơn nhưng là chính ủy của đơn vị. Vấn đề đặt ra là tại sao nhà nước không cải chính ngay từ đầu, mà phải chờ 15 năm sau, khi ông Bùi Tín đã xin tị nạn chính trị tại Pháp, mới tung tin là ông Bùi Tín « nhận vơ »?