Cha danh 46. hàng (Phạm Ngọc Lân)

Lượt xem: 360

“…Lòng mẹ như lửa đốt, dù cả nhà lo sợ nhưng bà cụ vẫn nhất định một thân một mình đi từ Đà Lạt xuống Phan Rang theo  dòng người đi về duyên hải. Đến được Phan Rang thì dòng người chạy loạn về phía nam, nhưng bà cụ phải đi ngược lên phía bắc để mong ra tới Quy Nhơn tìm con…”

ra_hang_1975

Tối ngày 30 tháng 3 năm 1975, Long nghe tiếng gõ cửa và tiếng người gọi tên mình. Mở cửa ra thì siết bao vui mừng,  chẳng ai xa lạ mà chính là  S., em thứ tư mà mọi người lo lắng mong ngóng tin tức vì đơn vị nó ở ngoài Quảng Trị, vùng hỏa tuyến dầu sôi lửa bỏng mà không có tin tức gì cả năm nay rồi. 

Mặc mỗi bộ đồ trận bạc phếch, không đồ đạc gì ngoài cái bi-đông nước, mặt mày hốc hác, trông già hẳn so với tuổi 23 của nó. Tắm rửa xong nó vừa ăn vừa kể cách nào mà từ Quảng Trị về được đến Sài  Gòn. 

Đơn vị của  S. đóng bên hữu ngạn sông Thạch Hãn (gọi là bờ phía nam, nhưng thực ra sông Thạch Hãn khúc đó chảy theo hướng nam-bắc, nên phải gọi là bờ phía đông thì chính xác hơn), bờ bên kia là các đơn vị quân cộng sản xâm nhập từ  miền Bắc và từ năm 1972. Năm đó Việt Nam Cộng Hòa mất thành phố Quảng Trị, sau vài tháng đã phản công lấy lại được và đẩy lui quân đội cộng sản qua bên kia sông Thạch Hãn ở  phía tây của thành phố, với một cổ thành đã hoàn toàn đổ nát sau chiến trận. Kể từ đó, con sông Thạch Hãn tạm dùng làm  lằn ranh giữa hai quân đội đối địch. S. kể là hằng ngày hai bên  nhìn thấy sinh hoạt của nhau, nhưng án binh bất động, không  hề có đụng độ. 

S. đang học lớp đệ nhị (lớp 11 bây  giờ) thì bị « bắt » lính vào  nă  1971 vì nó không chịu trình diện khi nhận được giấy gọi  nhập ngũ, và phải đi bin nhì  trong một « đơn vị kỷ luật »  thuộc Sư đoàn 3 Bộ binh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa mới  thành lập, trấn đóng vùng tuyến đầu Quảng Trị tăng cường cho  Sư đoàn 1 đã lâu đời trấn giữ vùng này. Nó kể đã phải vào sinh ra tử không biết bao lần dù chỉ là lính bộ binh, cuối cùng mới  được nghỉ ngơi khi đơn vị của nó chốt bên bờ sông Thạch Hãn. Trong 5 anh em phục vụ trong quân đội, nó là đứa duy nhất thật sự nếm mùi lửa đạn, vậy mà cuối cùng vẫn bình yên trở về nhà, trong khi Tr. em nó chỉ đóng đồn ở miền Tây là nơi không có những trận đánh lớn, vậy mà đã tử trận chỉ sau vài  tháng  ra đơn vị. 

S. cũng như đa số dân miền Nam đều chịu khó nghe tin tức trong chương trình Việt ngữ của đài BBC (British Broadcasting  Corporation, đài phát thanh của Anh quốc phát đi từ thủ đô  nước Anh) cũng như của đài VOA (Voice of America, đài của chính phủ Hoa Kỳ phát đi từ thủ đô nước Mỹ) để biết những tin  chiến sự chính xác. Vì nếu chỉ nghe đài Sài Gòn thì « phe ta » luôn luôn thắng, không bao giờ thua cả. 

Mà chiến sự đã thực sự đi đến một khúc ngoặt quan trọng từ  đầu năm 1975 khi tỉnh Phước Long rơi vào tay cộng sản ngày 6 tháng 1-1975 sau hơn ba tuần chống cự. Đây chỉ là một tỉnh nhỏ với dân cư thưa thớt, nhưng biến cố này quan trọng vì lần đầu tiên nguyên một tỉnh bị thất thủ, gồm cả tỉnh lỵ, tức thị xã quan trọng nhất của tỉnh, nơi đặt các cơ quan đầu não, cả về hành chánh lẫn quân sự. Hơn nữa Phước Long chỉ cách Sài Gòn hơn 100 cây số. Hà Nội cho quân tiến chiếm Phước Long vừa dùng làm bàn đạp cho các cuộc tấn công sau này, vừa có mục đích dò xét phản ứng của Hoa Kỳ. 

Nhắc lại là khi Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu không chịu ký  hiệp định Paris vào đầu năm 1973, Tổng Thống Richard Nixon đã đưa ra tối hậu thư « Nếu Việt Nam Cộng Hòa không ký thì Hoa Kỳ vẫn ký và sẽ bỏ rơi miền Nam ». Nhưng ông Nixon  cũng kèm thêm lời cam kết để trấn an « nếu ông Thiệu chịu  ký thì ông Nixon cam kết là Hoa Kỳ sẽ trả đũa nếu quân Bắc Việt đe dọa sự sống còn của Việt Nam Cộng Hòa ». Tổng Thống  Nixon viết thư riêng gửi cho Tổng Thống Thiệu cam kết như  thế, nhưng ông Thiệu đâu ngờ được là ông Nixon đã phải từ  chức vào tháng 8-1974 vì vụ Watergate. Phó Tổng Thống Gerald Ford lên thay ông Nixon, ông Ford không muốn Hoa  Kỳ  phải dính líu đến Việt Nam nữa nên hoàn toàn không phản ứng gì khi tỉnh Phước Long rơi vào tay cộng sản. 

Sau trận đánh thăm dò đó, Hà Nội biết chắc Hoa Kỳ sẽ không can thiệp vào chiến sự ở Việt Nam nữa nên quyết định phát  động chiến dịch mùa xuân năm 1975 với tên gọi chính thức là  « Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam » 

Chiến dịch bắt đầu bằng cuộc tấn công thị xã Ban Mê Thuột ngày 10 tháng 3-1975 (1). Chỉ hai ngày sau Ban Mê Thuột thất  thủ vì lực lượng chính của Việt Nam Cộng Hòa tập trung tại  Pleiku, không tiếp cứu kịp thời cho thị xã này vì nghĩ rằng cuộc  tấn công Ban Mê Thuột chỉ là kế « điệu hổ ly sơn » của quân  cộng sản, tưởng rằng mục tiêu chính sẽ là Pleiku nơi tập trung  đầu não của Quân Đoàn 2. 

Trước tìn hình đó, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu lấy một  quyết định vô cùng tai hại, khởi đầu cho sự sụp đổ nhanh chóng của Việt Nam Cộng Hòa. Ông ra lệnh cho Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn 2 ở Pleiku triệt thoái về miền duyên hải, tức là bỏ  hẳn vùng cao nguyên vào tay cộng sản, để tập trung lực lượng bảo vệ các thành phố ven biển và miền Tây. 

Trên nguyên tắc, đoàn quân phải rút trong vòng bí mật và cấp  tốc, nhưng trên thực tế, các gia đình quâ nhân cũn như  thường  dân của hai th xã  Kontum và Pleiku khi biết quân đội rút đi thì cũng bám sát đi theo, nên cuộc « triệt thoái trong trật tự » trở thành một cuộc « quân dân di tản trong hỗn loạn ». Thêm vào  đó, con đường rút quân được chọn là liên tỉnh lộ 7B đi từ Pleiku qua Phú Bổn (2) xuống Tuy Hòa, tỉnh lỵ của tỉnh Phú Yên. Đây  là một con đường băng rừng đã không dùng từ lâu, công binh phải vừa đi vừ tái  thiết, bắc cầu. Chưa kể là còn bị địch quân truy kích, nên đã phải mất 12 ngày đêm lặn lội trong « hỏa  ngục » để băng qua vài trăm cây số đường rừng về đến duyên  hải (3). 

Xuống đến Phú Yên thì Quân đoàn 2 chỉ còn lại một phần ba quân số, hai phần ba kia hoặc chết, hoặc mất tích, hoặc bỏ trốn về gia đình vì cảm thấy cuộc chiến đã đến ngày tàn (4). 

Trong khi vùng cao nguyên di tản về miền duyên hải trong hỗn  độn như thế, tại phía hữu ngạn sông Thạch Hãn ngoài Quảng Trị tình hình vẫn yên tĩnh, chỗ S. đóng đồn vẫn án binh bất động. Nhưng vào một ngày giữa tháng 3, trong một cuộc tuần tiễu xuống núi, S. thấy trại đóng quân của lực lượng Nhảy Dù  trống trơn, đoàn quân thiện chiến này đã được lệnh rút êm  trong chính sách triệt thoái miền Trung của ông Thiệu. Thế là  S. hiểu là đơn vị mình đã bị bỏ rơi, vì không có lực lượng Nhảy Dù yểm trợ thì khó mà cầm cự nếu quân cộng sản tấn công. S.  bèn lẳng lặng một thân một mình với cây súng M16 và bi-đông  nước lần  mò xuống  bờ biển. 

Khi xuống được đến đường cái thì S. thấy là linh tính đã thúc  giục nó hành động đúng lúc. Trên con đường quốc lộ dân chúng hớt hải đổ về xuôi, cùng với lính tráng bỏ đơn vị tìm  cách đổ ra bờ biển tìm đường thoát thân về miền Nam. Ngay các đơn vị thiện chiến được lệnh bí mật rút về trấn giữ miền Nam cũng có những đơn vị không rút được an toàn (5)… 

Cứ thế, theo đoàn người di tản hỗn loạn, S. đến được Huế  đúng lúc thành phố cổ kính này cũng lên cơn sốt di tản. S. tìm  được chỗ trên một xe cam-nhông vượt đèo Hải Vân vào đến Đà Nẵng thì cảnh hỗn loạn ở đây còn khủng khiếp hơn ở Huế gấp bội. Những chuyến bay cuối cùng của Hàng Không Việt Nam,  rồi của Không Quân tràn ngập người trước khi phi trường không còn dùng được nữa. Dân chúng đổ xô lên tàu bè làm xảy ra bao thảm cảnh tang thương. S. may mắn leo lên được một chiếc thuyền nhỏ và hai ngày sau đến được cảng Cam Ranh, để thấy  rằn cảnh náo loạn ở đây cũng không khác gì các tỉnh phía bắc.  Lại một phen chen chân lên được một chiếc tàu vào đến Vũng Tàu, rồi từ Vũng Tàu nhanh chân nhảy lên được một xe chở hàng về đến Sài Gòn. 

S. kể những chuyện mắt thấy tai nghe tang thương, những  chuyện mà Mai và Long cũng từng nghe trên đài BBC và đài  VOA, nhưng khi có một chứng nhân sống – lại chính là em  mình – kể lại thì các thảm cảnh đó còn thấm thía gấp bội… 

S. chỉ ở với hai vợ chồng Long vài ngày rồi đi tìm mấy đứa bạn  cùng hoàn cảnh rủ nhau đi trình diện một nơi nào đó trong Sài Gòn. Hồi đó Long được biết các binh sĩ bỏ đơn vị như thế rất đông, và có chính sách quy tụ họ lại và bổ sung vàocác  đơn  vị  bảo vệ vùng Sài Gòn Gia  Định. Long không còn tin tức gì của S. nữa cho tới khi chiến tranh chấm dứt, lúc đó mới biết nó đã về lại Bảo Lộc và vẫn an toàn dù đã trở lại quân ngũ trong  những ngày cuối của cuộc chiến. 

Ít ngày sau gia đình Long lại có thêm một đứa em khác chạy loạn về tá túc. Lần này Long không ngạc nhiên vì vẫn cầu mong nó về, đó là Th., em thứ chín, em trai kế của Tr. mới tử trận tháng trước. Nó cũng về trong bộ đồ trận đã lâu không giặt, nhưng khác với anh S. của nó là còn mang theo được cái ba-lô. Nó kể có giấy gọi nhập ngũ sáu tháng trước, lên đường  đi học hạ sĩ quan ở Đồng Đế gần Nha Trang giống như Tr.một  năm  trước đó, nhưng khóa học chưa xong thì tình hình chiến  sự sôi động, tất cả khóa sinh phải đi đón chốt trên quốc lộ 21  từ Ninh Hòa lên Ban Mê Thuột, chính là con đường Long và Mai đã thong dong đi qua bằng Vespa mới 5 năm trước đây. 

Đơn vị của Th. có nhiệm vụ đóng chốt giữ một cây cầu trên quốc lộ này, không xa Ninh Hòa lắm. Phía trước là đơn vị  Nhảy  Dù. Khi đơn vị Dù được lệnh rút về bảo vệ những điểm trọng yếu hơn, đơn vị của Th. tan hàng vì chỉ là khóa sinh chưa học  xong, và cuối cùng Th. phải theo đoàn người di tản lần mò dần  về đến Sài Gòn, cũng giống hệt trường hợp anh nó mới  đây.   

Thời gian này, biết bao gia đình miền Nam sống trong cảnh lo  âu tột cùng vì có ngườ  thân ở xa mà không có  tin tức. Gia đình của bố mẹ Mai lúc đó vẫn sống ở Đà Lạt cũng không tránh khỏi tình trạng này. Ngoài Mai và cô em kế sống với chồng con ở Sài Gòn, tương đối an toàn, Mai có cô em thứ ba ra trường  Đại Học Sư Phạm Đà Lạt và được bổ nhiệm dạy học ở trường Trung Học Quy Nhơn. Khoảng giữa tháng 3 ngay trước khi đường Đà Lạt Sài Gòn bị cắt đứt, và các tỉnh miền Trung đã lần lượt di tản trong hỗn loạn tột cùng, gia đình Mai ở Đà Lạt phải lấy quyết định cho 5 đứa em nhỏ về Sài Gòn ở tạm nhà chị, ông cụ ở lại Đà Lạt để giữ nhà, còn bà cụ quyết định đi ra Quy Nhơn tìm con gái dạy học ngoài đó mà không có tin tức  gì. Thật là một cuộc phiêu lưu nguy hiểm không tả xiết, vì các trục giao thông tắc nghẽn do xe hơi lớn nhỏ, xe hai bánh, người đi bộ, không còn luật lệ nào cả, lính tráng bỏ ngũ mang theo súng uy hiếp dân thường, cũng may là phần đông chỉ dùng súng để bảo vệ thân nhân trong cuộc di tản lôi thôi lếch thếch này. 

Lòng mẹ như lửa đốt, dù cả nhà lo sợ nhưng bà cụ vẫn nhất định một thân một mình đi từ Đà Lạt xuống Phan Rang theo  dòng người đi về duyên hải. Đến được Phan Rang thì dòng người chạy loạn về phía nam, nhưng bà cụ phải đi ngược lên phía bắc để mong ra tới Quy Nhơn tìm con. Vì từng dạy học, và  sau này làm thư ký tại các trường Trí Đức, rồi Adran (nơi Long học ngày trước và Mai dạy học trước khi lập gia đình) nên bà cụ  quen rất nhiều phụ huynh học sinh hoặc học trò cũ ngày xưa và được họ giúp đỡ nên bà lần mò đến được Cam Ranh thì dòng  người báo cho biết là không thể đi tiếp được nữa vì thành phố Nha Trang đã bỏ ngỏ rồi, nhưng bà cụ vẫn tìm cách vượt thêm mấy chục cây số đến được Nha Trang. Và đúng như lời người ở Cam Ranh nói, từ Nha Trang không có cách nào đi thêm về phía bắc được nữa, nên làm sao có thể ra đến Quy Nhơn cách đó hơn 200 cây số? 

Cũng may bà cụ gặp một người quen là phụ huynh học sinh  trường Adran Đà Lạt, gia đình này có tàu nhỏ đang chuẩn bị di  tản vào Vũng Tàu, cho bà cụ quá giang. Ngày hôm sau tàu cặp bến Vũng Tàu, rồi lại tìm xe quá giang về đến Sài Gòn. Về đến nơi an toàn là một chuyện, nhưng mục đích tìm con gái vẫn  không đạt  được, trong lòng vừa sợ hãi vừa lo âu vì không biết  số phận con gái mình dạy học ngoài Quy Nhơn ra  sao…  Có người quen làm việc tại đài Phát Thanh Sài Gòn, Mai cũng tìm  em qua mục nhắn tin nhưng chẳng còn ai để trả lời cho những  mục này nữa. 

May phước là chỉ ba ngày sau, cô con gái lần mò về được tới  Sài Gòn bình yên vô sự sau bao gian truân thử thách trên đường di tản cũng nhờ gặp được gia đình của một người học trò cũ của mẹ đã nhận ra cô giáo của con gái mình nên hết sức giúp đỡ.  

Long không trải qua thử thách của cuộc di tản hỗn loạn của cả  triệu người đổ về phía nam, chỉ nghe đài phát thanh và xem tin  tức trên đài truyền hình, cũng đã tưởng tượng ra bao cảnh tang  thương trong cuộc chạy loạn lịch sử này. Rất nhiều lần Long thấy Mai khóc nức nở trước máy truyền hình khi thấy những  đứa trẻ trạc tuổi con mình còn bé tí nhưng bị thương, bị lạc mất cha mẹ vừa đi vừa gào khóc thảm  thiết. Mai vốn rất thương trẻ con nên không chịu nổi cảnh những em bé hai chân  quấn những mảnh vải hay chiếc áo rách đầy những vết máu, nước mắt đầm đìa, miệng mếu máo lê lết theo chân cha mẹ trên những con đường đất gập ghềnh hay những đoạn đường nhựa rát bỏng… những cảnh mà các đồng nghiệp của Mai đã lặn lội đi làm phóng sự tại những vùng đám dân khốn khổ tìm  mọi cách trốn chạy cộng sản trên đường di tản theo đoàn quân đang rã hàng. 

Đã có bao nhiêu nạn nhân chết, mất  tích, bị thương, bao gia  đình tan nát trong giờ thứ 25 của cuộc chiến tương tàn bi thương này? 

(Còn tiếp)

Phạm Ngọc Lân

Cha vô danh – Chuyện kể cuộc đời một người Việt lai Pháp

Chú thích:

(1) Ban Mê Thuột cùng với Pleiku và Kontum là ba thị xã quan trọng trên Cao Nguyên Trung Phần, sát với biên giới Lào và  Cam-Bốt. Về mặt quân sự, Pleiku là điểm trọng yếu, nơi đặt Bộ Tư lệnh Quân đoàn 2 của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Khi  Ban Mê Thuột bị tấn công, các tướng lãnh chỉ huy quân đoàn nghĩ rằng đó chỉ là kế « điệu hổ ly sơn » của quân cộng sản, mục  tiêu chính là Pleiku nên không phái quân tăng viện đầy đủ và kịp thời cho Ban Mê Thuột, khiến cho thị xã này nhanh chóng  thất thủ. Đó là sai lầm nghiêm trọng đầu tiên trong những sai lầm nghiêm trọng khác sau này, với những hậu quả tai hại cho số  phận của miền Nam. 

(2) Phú Bổn là một tỉnh thời Việt Nam Cộng Hòa, giáp ranh Pleiku, Bình Định và Phú Yên, tỉnh lỵ là Hậu Bổn (xưa gọi là  Cheo Reo), dân cư thưa thớt, đa số thuộc các sắc tộc thiểu số Jarai và Bahnar. Hiện nay tỉnh này cắt ra một phần sáp nhập vào Đắc Lắc, một phần vào Gia Lai Kontum. Con đường 7B hiện nay là Quốc lộ 25. 

(3) Có nhiều tài liệu về cuộc triệt thoái hãi hùng này, trong đó cuốn sách “Ngày N+” của Hoàng Khởi Phong (Nhà xuất bản  Văn Nghệ, California, Hoa Kỳ, 1988) có giá trị sống động của một nhân chứng trong cuộc. Năm 1975, tác giả là Đại úy Quân  Cảnh ở Pleiku nên cùng đơn vị rút lui trong cuộc triệt thoái này và ghi lại các thảm cảnh diễn ra từng ngày từng giờ. 

(4) Ngày 10 tháng 3-1975 Ban Mê Thuột bị tấn công và nhanh chóng thất thủ. Ngày 13-3, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu ra  lệnh cho Tướng Ngô Quang Trưởng, Tư Lệnh vùng 1 chiến thuật, triệt thoái khỏi miền Trung. Ngày 14-3, ông Thiệu họp tại  Cam Ranh với Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm và Đại Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng Cao Văn Viên, lấy quyết định triệt thoái khỏi Pleiku và Kontum, và ra lệnh cho Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, Tư Lệnh vùng 2 chiến thuật, thi hành lệnh triệt thoái khẩn cấp, không cho địa phương quân và dân chúng biết để tránh hỗn loạn. Tướng Phú xin tử thủ Pleiku nhưng ông Thiệu không  cho, đưa ra lý do là Quốc Hội Mỹ đã cắt giảm viện trợ, Việt Nam Cộng Hòa không thể nào giữ được nguyên vẹn miền Nam như trước nữa, nên phải triệt thoái vùng cao nguyên để tập trung lực lượng bảo vệ phần đất từ Phú Yên trở vào. Tướng Phú không tuân hành lệnh, thoái thác bằng cách khai bịnh, nên cuộc triệt thoái trao cho Chuẩn Tướng Phạm Duy Tất, Tư Lệnh Phó,  tổ chức thi hành. 

Quốc lộ 21 từ Ban Mê Thuột xuống Ninh Hòa gần Nha Trang không dùng được vì Ban Mê Thuột đã mất, quốc lộ 19 nối liền Pleiku với Quy Nhơn đã bị cắt ở đèo An Khê, nên phải chọn đường số 7B đi qua Phú Bổn xuống Tuy Hòa thuộc tỉnh Phú  Yên. Nhưng con đường băng rừng này đã không dùng từ lâu, nên công binh phải vừa đi vừa mở đường, bắc cầu, v.v. Do đó,  quân cộng sản có thời giờ tập trung lực lượng đuổi đánh. Cuối cùng không biết bao nhiêu người đã bỏ mạng trong cuộc di tản  hãi hùng kéo dài 12 ngày đêm này. 

Ông Thiệu dùng từ hoa mỹ là « Tái phối trí lực lượng » để chỉ lệnh triệt thoái miền Trung và cao nguyên, khởi đầu cho sự  sụp đổ nhanh chóng của Việt Nam Cộng Hòa. 

Sau hai cuộc triệt thoái vô cùng tai hại này, tinh thần quân nhân của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa suy sụp, mở đường cho bộ đội của Quân Đội Nhân Dân Việ  Nam tiến chiếm dễ dàng toàn bộ miền Nam. 

Riêng Thiếu Tướng Phạm Văn Phú bị ông Thiệu buộc tội đã không chu toàn nhiệm vụ, đã tự sát ngày 29 tháng 4-1975.

(5) Trung Úy Thủy Quân Lục Chiến Cao Xuân Huy (1947-2010) có viết cuốn hồi ký “Tháng Ba Gãy Súng” (nhà xuất bản Văn Khoa, California  1986)  kể lại những ngày cuối cùng của đơn vị ông trong cuộc triệt thoái miền Trung tháng 3-1975.