Cha danh 42 - Vào đời (Phạm Ngọc Lân)

Lượt xem: 208

“…Đám cưới tổ chức trên Viện Đại Học Đà Lạt là trường Mai học, Cha Viện Trưởng Nguyễn Văn Lập cử hành lễ cưới trong nhà nguyện Năng Tĩnh của  viện, sau đó xuống tiếp tân thân mật tại giảng đường Spellman thuộc phân khoa Chính Trị Kinh Doanh là giảng đường lớn nhất của đại học này…” 

Thông thường ra, mốc « vào đời » là lúc mà con cái có đủ lông cánh để tự mình bay nhảy, tạo dựng  một cuộc sống riêng, không phải nương tựa vào cha mẹ nữa. Bên trời Âu Mỹ, đã từ lâu các thanh niên  thiếu nữ đến tuổi trưởng thành đều tìm cách để « vào đời » như thế, dù rằng tuổi 18 cũng chưa chắc đã có  đủ lông cánh. Nhưng bên Việt Nam cách đây nửa thế kỷ, chuyện vào đời phức tạp hơn vì tùy thuộc nhiều yếu tố mà phương tây không có, trong đó phải kể đến tập quán đại gia đình là yếu tố quan trọng nhất. 

Chàng thanh niên Long lúc mười ba tuổi đã bắt đầu vào sống nội trú trong trường trung học ở Đà Lạt, chỉ về nhà hai tuần lễ Tết và một tháng hè. Mười tám tuổi về Sài Gòn bắt đầu tự túc trong cuộc sống sinh viên xa gia đình, bằng cách dạy kèm toán lý hóa cho học sinh chuẩn bị thi tú tài. Hai mươi mốt tuổi trở lại sống với gia đình khi người cha dượng trong quân đội được đổi từ Kontum về làm việc gần Sài Gòn. Trong thời gian 4 năm sau đó, Long đã có dịp sống cùng nhà với bà ngoại, mẹ và các em, còn người cha dượng vẫn phải xa gia đình, sống trong một doanh trại xa thành phố nên chỉ về vào cuối tuần khi không bị cấm trại. Ngoài chuyện sống quây quần bên người thân, Long về ở chung nhà cũng là một cách để phụ  giúp vào tài chánh eo hẹp của gia đình, vì con đông mà chỉ có một đầu lương thì làm sao xoay xở trong  nền kinh tế « kiệm ước » (1) thời buổi đó? 

Nên có thể nói là Long đã « vào đời » rất sớm. Nhưng đối với chàng, cái mốc thật sự vào đời, chàng  vẫn nghĩ là lúc mình tạo lập được một gia đình riêng. Và việc này đã đến ngay sau khi chàng kết thúc  mấy tháng huấn luyện quân sự ở Quang Trung và thụ huấn hành chánh quân y ở Trường Quân Y. 

Sau ngày mãn khóa tổ chức rất đơn giản – có lẽ vì cái tang đến với đơn vị khi ở Quang Trung nên  không ai còn bụng dạ nào để tổ chức rình rang nữa – các khóa sinh trưng tập phải qua một thủ tục rất  quan trọng, đó là việc chọn đơn vị. Đơn vị trong quân đội có ảnh hưởng lớn đến tương lai của một quân  nhân nên không thể coi thường việc chọn đơn vị được. Y Nha Dược sĩ trưng tập sẽ phục vụ trong một  bịnh viện lớn có, nhỡ có, nhỏ có. Cũng có thể phục vụ trong những đơn vị quân y trực thuộc các sư đoàn. Các đơn vị này có thể thuộc Không Quân, Hải Quân, đông nhất là Lục Quân với Bộ Binh, hay những đơn vị đặc biệt hơn như Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến, Biệt Động Quân, Lực Lượng Đặc Biệt, v.v. 

Dược sĩ có một ngày chọn đơn vị riêng, không liên quan gì đến các ngành khác. Khóa sinh khoảng hơn một trăm người đã được xếp hạng theo kết quả các kỳ thi huấn luyện quân sự ở Quang Trung và hành chánh quân y tại Trường Quân Y. Danh sách các đơn vị được phân phát trước để mọi người nghiên cứu, đến ngày chọn, mọi người phải có mặt trong hội trường. Ban tổ chức gọi tên người đậu thủ khoa, anh này  chọn một đơn vị xong, gọi đến tên người thứ hai chọn trong những đơn vị còn lại. Cứ thế cho đến người  cuối cùng chẳng phải chọn lựa gì nữa vì chỉ còn một đơn vị duy nhất! 

Trường hợp của Long và mấy người bạn bị thương trong vụ nổ, lúc phải thi quân sự trước khi mãn khóa ở Quang Trung thì còn nằm bịnh viện, do đó không có điểm quân sự thì làm sao xếp hạng chung với các bạn khác được? Bộ chỉ huy nghĩ ra một giải pháp là dành ra mấy đơn vị riêng cho những người bị thương, những đơn vị này đều là những bịnh viện tiểu khu ở các tỉnh nhỏ, không phải là các quân y viện quan trọng ở các thành phố lớn (được xem là những chỗ « tốt »), nhưng cũng không phải là các đơn vị quân y trực thuộc các sư đoàn tác chiến (được xem là những chỗ nguy hiểm). 

Và thế là Long được chọn trong một danh sách chỉ có 4 đơn vị (vì có 4 dược sĩ bị thương), trong đó có bịnh viện tiểu khu Lâm Đồng nằm ở Bảo Lộc. Bảo Lộc là tỉnh lỵ của tỉnh Lâm Đồng, nằm trên quốc lộ 20  là đường đi Đà Lạt (2). Long chọn Bảo Lộc vì đó là đơn vị tiện lợi nhất cho mình, nằm trên trục giao thông nối liền Sài Gòn (gia đình của Long) và Đà Lạt (gia đình của Mai, vợ tương lai của chàng). Bảo Lộc chỉ cách Sài Gòn 182 cây số và cách Đà Lạt 118 cây số. 

Cuối tháng 9 chàng Dược Sĩ Trung Úy mới mãn khóa đến trình diện đơn vị trưởng của bịnh viện tiểu khu Lâm Đồng. Bịnh viện này nằm ngay trên quốc lộ 20 là con đường chính chạy qua thị xã Bảo Lộc, đơn vị trưởng là Bác Sĩ N. cũng là một Trung Úy ra trường trước Long hai khóa. Sau khi nhận chức vụ  Trưởng phòng thí nghiệm y khoa (một bạn dược sĩ cùng khóa là anh Q. nhận chức vụ Trưởng phòng tiếp liệu, lo về thuốc men và dụng cụ y khoa), việc đầu tiên của Long là xin hai tuần lễ nghỉ phép đi cưới vợ. 

Chưa làm việc ngày nào đã xin nghỉ phép! Bác sĩ N. rất thông cảm, cưới vợ thì không thể nào không cho phép được! 

Đám cưới tổ chức trên Viện Đại Học Đà Lạt là trường Mai học, Cha Viện Trưởng Nguyễn Văn Lập cử hành lễ cưới trong nhà nguyện Năng Tĩnh của  viện, sau đó xuống tiếp tân thân mật tại giảng đường Spellman thuộc phân khoa Chính Trị Kinh Doanh là giảng đường lớn nhất của đại học này. 

phamngoclan36
Đám cưới tại Viện Đại Học Đà Lạt 28-9-1969.
Hình chụp hai gia đình trước nhà nguyện Năng Tĩnh. 

phamngoclan37
Hình chụp với Sư Huynh Bernard Bường, Giám Tỉnh dòng La San
và Sư Huynh Pierre Trần Văn Nghiêm, Khoa Trưởng phân khoa Sư Phạm Đại Học Đà Lạt. 

phamngoclan_quanmylan
Hình chụp với Linh Mục Viện Trưởng   

Viện Đại Học Đà Lạt Nguyễn Văn Lập

quanmylan02
Cô dâu mới bên hồ Xuân Hương.

Cuộc sống mới tại Bảo Lộc có thể xem là một tuần trăng mật kéo dài, gọi là « năm trăng mật » có lẽ  chính xác hơn. Hai vợ chồng mới cưới thuê căn nhà nhỏ sát với hai căn của hai anh em bác sĩ H. (cùng  khóa với Long) và nha sĩ C. (trước một khóa). Mai tìm được một chỗ dạy trong trường Cộng Hòa, một  trường trung học tư thục do Linh Mục Đỗ Quang Biên (3) làm hiệu trưởng. Thật tình cờ vì cha Biên không xa lạ gì với Mai khi còn ở Đà Lạt, chính là người đã hướng dẫn Mai theo đạo Công Giáo 5 năm trước. 

Long mới ra trường nên nghe người ta gọi mình là « Dược sĩ » còn lạ tai, còn Mai được gọi là « Cô Giáo », có người gọi là « bà Dược sĩ » lại càng lạ tai hơn nữa. Hai vợ chồng dần dần nhận ra là bây giờ mình đã trở thành những « chức sắc » trong cái thị xã nhỏ bé này. Nhưng thật ra bản chất của Long cũng như của Mai không quan tâm lắm đến chuyện chức sắc hay không chức sắc, vẫn còn sống với phảng phất phong thái của hai sinh viên. Trong nhà đồ đạc tối thiểu, ăn cơm ở nhà hai vợ chồng già chuyên môn nấu cơm tháng cho mấy ông độc thân trong tỉnh. Và cứ đến trưa thứ bảy – hồi đó làm việc sáng thứ bảy, chiều nghỉ – là hai vợ chồng đèo nhau bằng Vespa lên Đà Lạt hoặc xuống Sài Gòn, đi lên nhiều hơn đi xuống vì gần hơn. 

phamngoclan_dinhquan
Hai vợ chồng tại Định Quán (cây số 113)
trên đường Bảo Lộc về Sài Gòn 

Long nhớ lại thời chàng đi Vespa một mình trên con đường này lên thăm Mai ở Đà Lạt, bị chặn ở cầu Là Ngà vì đang có giao tranh. Nay hai vợ chồng cùng đi, thật thú vị khi chàng cảm thấy hơi ấm của nàng sát lưng mình. Xe Vespa bánh nhỏ, không phải loại xe chạy đường trường nên không đi nhanh được, đổi  lại có cái thú được nhẩn nha ngắm cảnh đẹp. Và thích đâu thì ngừng đó, khi gặp quán ăn hay nhà ven  đường bày bán trái cây mới hái trong vườn. Thật là thoải mái so với cảnh ngồi xếp cá mòi trên xe đò, chưa kể đi qua đèo Chuối, đèo Bảo Lộc, đèo Prenn còn bị say xe thật khó chịu. Thoải mái, miễn là trời  đừng… mưa! 

Đi xe hai bánh trên đường trường như thế không khỏi gặp những chuyện đáng ghi nhớ. Một chiều chủ  nhật, hai vợ chồng chạy từ Đà Lạt về Bảo Lộc, còn cách tỉnh lỵ chưa đến mười cây số có cây cầu Đại Nga  bằng sắt làm từ thời Pháp nay đã bắt đầu hoen rỉ. Gần cây cầu là một đồn điền nhỏ (hình như trồng cà-phê) cũng có từ thời Pháp thuộc, lúc đó không biết người chủ Pháp còn sống ở đấy hay không. Người ta  đồn là các đồn điền này đều phải đóng thuế cho Mặt Trận Giải Phóng, vì nằm xa các thị xã nên ban ngày  thuộc vùng chính quyền quốc gia kiểm soát, nhưng ban đêm lại do quân của Mặt Trận làm chủ tình hình,  nên phải đóng thuế cho được yên thân. 

Hôm đó Long chở Mai chạy Vespa phom phom trên con đường chiều vắng vẻ, trước sau không có một  xe nào khác. Sau một khúc quanh là đến con sông Đại Nga quen thuộc thì một cảnh hãi hùng hiện ra ngay  trước mắt: cây cầu sắt không còn nữa! Long vội đạp thắng hết sức mình theo phản xạ tự nhiên, và cũng  may là chàng chạy không nhanh quá nếu không có thể đã lao cả xe lẫn người xuống con sông tuy nhỏ  nhưng khá sâu này! 

Định thần lại, hai vợ chồng nhìn cảnh tượng hiếm có trước mặt. Một chiếc xe cam-nhông khổng lồ chở  một xe ủi đất (gọi là bulldozer) khổng lồ không kém, đầu xe đâm xuống lòng sông, đuôi xe cùng với cái  xe ủi đất vẫn còn nằm trên nền cầu chúc xuống một góc 45 độ. Thì ra chiếc xe nặng nề lúc bắt đầu lên cầu còn chưa sao, nhưng khi đã hoàn toàn trên cầu rồi thì chiếc cầu cũ kỹ hoen rỉ không chịu nổi trọng lượng của hai chiếc xe quá nặng, thế là đầu bên kia bị sụp xuống, lôi theo chiếc xe cam-nhông đâm đầu xuống  nước, đuôi vẫn nằm trên nền cầu! Người tài xế chắc là không bị gì nặng, vì thấy đã leo được lên bờ bên  kia ngồi chờ xe cứu thương… Chiếc cầu có ghi rõ ràng sức nặng tối đa chịu đựng được là 8 tấn, mà tổng  cộng chiếc xe cam-nhông với xe ủi đất nặng phải vài chục tấn là ít! 

Chắc là tai nạn cũng vừa xảy ra vì khi Long đến chưa có xe nào khác cả, một lúc sau mới có thêm vài chiếc xe đò chạy muộn đến nơi. 

Hai vợ chồng đành quay trở lại thị xã Di Linh (cách Bảo Lộc hơn 30 cây số), ngay đầu tỉnh có một  xóm nhà nhỏ, lúc đó trời đã nhá nhem tối. Một gia đình hai vợ chồng trẻ với đứa con thơ sống trong một căn nhà gỗ đã cho Long và Mai tá túc qua đêm chủ nhật, sáng hôm sau dậy sớm, gửi lại xe Vespa ở nhà này rồi ra đường cái đón xe đò đi Bảo Lộc. Dĩ nhiên xe chỉ đến cầu Đại Nga phải cho hành khách xuống, mọi người phải men theo bờ sông để xuống dòng nước lúc đó rất cạn, xắn quần lội qua bên kia bờ rồi lại leo dốc khá cao lên mặt đường. Bên kia có xe đò từ Bảo Lộc đến cũng cho hành khách xuống lội sông ngược qua bờ bên này. Hai vợ chồng về tới Bảo Lộc kịp giờ đi làm và đi dạy học sáng thứ hai. 

Long lại nhớ bà ngoại kể chuyện khi chàng mới được 14 tháng vào đầu năm 1945, cả nhà từ Sài Gòn về quê làng Hà Hồi gần Hà Nội, lúc đó máy bay Mỹ đang ném bom các đường giao thông để cản trở quân Nhật đóng ở Đông Dương, cũng có những cây cầu bị bom phá sập, xe lửa đến nơi cũng phải cho hành  khách xuống, rồi mọi người phải đi bộ đến bờ sông lấy đò ngang để qua bên kia, đi bộ thêm một quãng khá xa mới đến chỗ có xe lửa leo lên để đi tiếp. Bà ngoại Long gọi đó là « tăng bo » (do tiếng Pháp  « transbordement » mà ra). Thời đó khổ là thế, các thế hệ sống bên trời Tây ngày nay đi xe lửa vận tốc nhanh TGV chạy hơn 300 cây số/giờ chắc không hiểu được ông bà mình làm cách nào để sống trong cảnh thiếu thốn vất vả như thế! 

Đúng ba ngày sau, giao thông được khôi phục. Chỉ trong ba ngày, toán lính thuộc đơn vị công binh Mỹ đến kéo chiếc xe cam-nhông chở xe ủi đất lên (Long không tưởng tượng nổi cái cần cẩu phải mạnh như thế nào!), tháo gỡ chiếc cầu Đại Nga cũ vứt đi để thay vào đó một chiếc cầu sắt khác, loại cầu dã chiến của quân đội Hoa Kỳ, trông thì thô sơ nhưng thật vững chắc. 

Long và Mai lại lấy xe đò lên Di Linh đến nhà người cho tá túc hôm trước để lấy Vespa trở về Bảo  Lộc. Chàng cám ơn hai vợ chồng quá tử tế, và tặng món quà tượng trưng cho đứa con còn bé xíu của họ.  Hai vợ chồng nghèo sống trong căn nhà nhỏ, nhưng lòng tử tế, hiếu khách của họ thì không nhỏ tí nào. Ngày ấy người Việt Nam thật thà, đôn hậu là thế! 

Một chuyện như thế dĩ nhiên để lại kỷ niệm nhớ đời. Nhưng cũng có những chuyện khác ít tưởng tượng được mà lại còn nguy hiểm nữa khi chạy Vespa trên đường trường. Các cụ ngày xưa nói « đi đêm  lắm có ngày gặp ma », thời nay có thể nói « đi xe hai bánh đường xa lắm có ngày gặp tai nạn ». Hôm đó đi từ Bảo Lộc về Sài Gòn vào ngày thứ bảy sau khi ăn cơm trưa. Đến Tân Bùi (4) bắt đầu mưa to, hai vợ chồng cũng đã chuẩn bị áo mưa nên vẫn tiếp tục đi, đường vắng không một chiếc xe nào khác. Bỗng nhiên xe lảo đảo rồi bánh sau kẹt cứng lại giống như thắng gấp, nhưng thật ra Long đâu có thắng! May quá chàng kềm xe lại được, nếu không cả hai vợ chồng ngã lăn ra đường thì còn chết nữa! Xuống xe thì thấy cái bánh sau không còn gắn vào trục xe nữa mà nằm kẹt trong cái hốc của thùng xe, nhìn kỹ thì ra là ba cái bù-loong gắn bánh xe đã không cánh mà bay, còn một cái cũng đã lỏng sắp rơi ra ngoài, chính cái bù-loong thứ tư này giữ cho cái bánh không sút hẳn ra. Sở dĩ có thể xảy ra chuyện này vì bánh xe Vespa  được gắn vào thân xe bằng bù-loong giống như bánh xe hơi, nên khi xe bị bể bánh tháo ra thay rất dễ, vì  xe Vespa có bánh phòng hờ (gọi nôm na là bánh xơ-cua do tiếng Pháp secours), khác với xe gắn máy không có, bể bánh phải tìm cách vá thôi. Có lẽ lần thay cuối cùng các bù-loong không được siết đủ chặt nên chạy lâu ngày lỏng dần và đến lúc đó bay mất luôn. 

May quá ngay đấy còn vài căn nhà nhỏ trước khi đến khúc đường hoang vu chuẩn bị xuống đèo Bảo Lộc. Long dắt xe vào hàng hiên một nhà ven đường để tránh mưa, người chủ nhà ra mời Mai vào ngồi  nghỉ, trong khi đó Long đi ngược lại con đường quốc lộ 20 để tìm lại ba cái bù-loong đã rơi đâu đó. Thật  là công việc « mò kim đáy biển », nhưng ví như thế cũng hơi quá vì cái bù-loong to hơn cây kim, và con  đường nhựa dưới cơn mưa tầm tã sạch trơn nên nếu có cái gì trên mặt đường cũng dễ thấy. Hơn nữa,  đường vẫn vắng hoe không một chiếc xe, nên Long đi giữa đường lom khom tìm, vừa đi vừa khấn vái ông  bà ông vải để tìm lại được ba cái bù-loong quái ác này. Nếu không thì làm sao đi tiếp? Trong xe làm gì có  loại bù-loong đặc biệt này để thay thế! Khúc đường này làm gì có tiệm sửa xe! 

Tình trạng bi đát như thế, vậy mà phép lạ đã xảy ra. Long lần mò mãi dưới cơn mưa tầm tã, tưởng đã vô vọng thì bắt gặp cái bù-loong đầu tiên nằm chỏng gọng giữa đường nhựa. Vững tin hơn vào ngôi sao soi đường dẫn lối của mình, chàng tiếp tục đi ngược lại con đường quốc lộ, mò thêm vài chục thước tìm được cái bù-loong thứ hai, và cuối cùng, sau một quãng khá xa, tìm lại được cái thứ ba. Thế là chàng trở lại xe lòng thơ thới hân hoan, lắp bánh vào và đi tiếp xuống đèo… Không biết lúc đó chàng có nhớ mà thầm cám ơn ông bà ông vải không! Nhưng về đến Sài Gòn, Mai đến nhà thờ của dòng kín Carmel (đường Cường Để ngày xưa, nay là đường Tôn Đức Thắng) để tạ ơn Đức Mẹ, vì nàng đã cầu khấn để được tai qua nạn khỏi. 

Bà Quy mẹ của Long giờ đây đã lấy quyết định phải làm gì đó để kiếm thêm tiền cho gia đình. Từ khi  bà rời Hà Nội vào Sài Gòn từ năm 1951, bà đã không còn đi làm nữa, lo cho 12 đứa em của Long làm sao  còn có giờ để làm gì khác. Nay tới lúc vật giá leo thang, đứa con út cũng đã 5 tuổi, bà nghĩ ra việc mở  một quán bán bánh cuốn ngay tại nhà. Phía trước nhà được dọn dẹp bỏ hết đồ đạc, bầy cái bếp tráng bánh cuốn, vài cái bàn với mấy cái ghế đẩu thấp. Bà đi tìm hiểu kinh nghiệm của một người quen dưới Sài Gòn để biết cách làm sao cho bánh cuốn ngon. Trước hết phải dùng gạo loại gì, mỗi ngày phải ngâm gạo rồi mang ra chỗ xay bột gần nhà. Cái bếp đặt nồi nước sôi to có căng tấm vải, dùng cái gáo sọ dừa đổ bột lên tráng, đậy vung nồi cho bánh chín rồi dùng cây que dẹp bằng tre để vớt bánh ra. Cho nhân vào (nhân gồm  thịt heo băm, mộc nhĩ (nấm mèo), hành củ, hành lá, hạt tiêu…) cuốn lại, cắt thành mấy khúc nóng hổi, chấm nước mắm chanh, không gì ngon hơn! Chỉ có điều là nhà nằm trong đường nhỏ, dù có tấm bảng ngoài đường lớn chỉ vào, nhưng cũng chỉ có khách quen là chính. 

Mỗi lần hai vợ chồng Long về thăm lại được thưởng thức món bánh cuốn mà sau này Long không còn được ăn ở đâu ngon như thế! 

Ngoài những chuyến đi Đà Lạt hay Sài Gòn vào cuối tuần, hai vợ chồng còn liều lĩnh đi xa hơn nữa, vẫn bằng chiếc Vespa với bốn con ốc vặn thật chặt để bánh xe không còn cơ hội sút ra nữa! Đó là lần đi Ban Mê Thuột (5) vào tháng 2 năm 1970 thăm Vy là em kế của Long mới lấy Hoài dạy học trên thành phố  cao nguyên này. Thật ra, nếu xem bản đồ thì Đà Lạt và Ban Mê Thuột gần nhau, đường chim bay khoảng 300 cây số, nhưng vì cùng nằm trên núi nên không có đường giao thông trực tiếp (6), mà phải đi vòng  xuống biển rồi vòng lại lên núi. Từ Đà Lạt phải xuống Tháp Chàm, Phan Rang, đi dọc bờ biển ngược lên  Nha Trang, đến Ninh Hòa mới rẽ trái lên núi trở lại để đến Ban Mê Thuột.

Nhưng hai vợ chồng mới lấy nhau, đi đâu cũng đi, nào có sợ gì! Sáng sớm đèo nhau lên đường đi về phía Đà Lạt, nhưng khi đến ngã ba Đức Trọng còn cách Đà Lạt khoảng 30 cây số thì quẹo phải đi Đơn Dương (thời Pháp gọi là D’ran) rồi xuống đèo Ngoạn Mục (thời Pháp là đèo Bellevue). Trên đèo có đập nước Đa Nhim, hai ống dẫn nước xuống nhà máy thủy điện ở Sông Pha nằm dưới chân đèo. Thời gian chiến tranh này ống nước bị quân cộng sản phá vỡ nên nhà máy điện không chạy. 

Đèo Ngoạn Mục nổi tiếng đẹp, cái đẹp hùng vĩ của thiên nhiên hoang dã. Đường ngoằn ngoèo trên 20  cây số, một kỳ công của các kỹ sư cầu cống thời Pháp thuộc. Chiếc Vespa chạy chậm rãi vì đường nguy hiểm đã đành, mà cũng cố ý vừa đi vừa nghênh ngó cảnh thiên nhiên tuyệt diệu. Khi đến một khúc quanh bên phải là vực không có cái rào cản nào ngăn chặn cả, bỗng nghe tiếng động ngầm từ dưới đất, lúc đầu còn nhỏ, rồi càng ngày càng lớn dần, lúc đó mới nhận ra là có đoàn xe lớn đang tới gần nên đất mới rung  chuyển như thế. Long vội vàng ngừng xe lại bên đường sát bờ vực, hai vợ chồng xuống đứng chờ sau chiếc Vespa đã được dựng lên. 

Rồi quả nhiên xuất hiện chiếc xe đầu tiên là một chiếc Jeep nhà binh, có gắn khẩu đại liên phía sau xe với một dây đạn dài trông ghê rợn. Một người lính Mỹ đứng phía sau ghì chặt khẩu đại liên chĩa về phía  bên phải, chỗ hai vợ chồng đứng. Mai sợ quá nép sát vào người Long, nhưng chiếc xe chạy rất nhanh nên vụt một cái đã qua rồi, dù là đường vòng vèo xuống dốc. Ngay sau đó là cả một đoàn xe cam-nhông GMC của Mỹ bịt kín mui, chắc là chở đồ tiếp liệu, Long đếm không biết mấy chục chiếc vì nó chạy nhanh như  vũ bão, không hiểu tại sao đường đèo nguy hiểm thế mà đoàn xe này chạy bạt mạng như vậy! Giải thích  duy nhất mà Long nghĩ ra là họ chạy nhanh để nếu có phục kích của quân cộng sản thì dễ tránh hơn. Các đường đèo vẫn là những nơi dễ bị phục kích nhất. 

Cứ thế, mỗi chiếc cam-nhông khổng lồ phóng qua chỗ chiếc Vespa dựng bên bờ vực là một lần hai vợ  chồng muốn đứng tim vì sợ, chỉ biết đứng chịu trận, làm gì khác được! Nhưng rồi cơn nguy hiểm cũng qua khi đoàn xe kết thúc bằng một chiếc Jeep cũng giống như chiếc đầu, gắn khẩu đại liên với một tay  súng sẵn sàng bấm cò. Tiếng ầm ĩ xa dần trả lại sự tĩnh lặng cho rừng núi thiên nhiên, và bắt đầu lại có tiếng chim rụt rè gọi đàn đâu đấy. Hai vợ chồng lúc đó mới hoàn hồn, cứ tưởng tượng có một chiếc cam-nhông nào đó lúc quẹo với vận tốc nhanh như thế bị sát vào lề bên phải là có thể hất cả chiếc Vespa lẫn  hai vợ chồng xuống vực như chơi! 

Qua được đèo Ngoạn Mục rồi thì phần đường còn lại đến Nha Trang quá thảnh thơi! Xuống Phan Rang, rồi theo quốc lộ 1 lên phía bắc qua Cam Ranh trước khi đến Nha Trang. Con đường từ ngã ba Thành vào Nha Trang hai bên ruộng lúa xanh rì, lần đầu Long thấy trâu thả ngoài đồng, đặc biệt là mỗi  con trâu có một con cò trắng đậu trên lưng, trông cảnh quê hương thanh bình thật vui mắt. 

Nghỉ lại Nha Trang một đêm, sáng hôm sau hai vợ chồng lại tiếp tục cưỡi chiếc Vespa theo quốc lộ 1 vượt đèo Rù Rì rồi đến Ninh Hòa. Long cũng đã nghe nem Ninh Hòa nổi tiếng nên hai vợ chồng không bỏ lỡ cơ hội vào một quán ven đường thưởng thức món ăn này. Quả thật danh bất hư truyền. 

Bắt đầu từ Ninh Hòa, phải rời bỏ quốc lộ 1 và quẹo trái lên quốc lộ 21 (7) đi ngược lên cao nguyên. Các  quốc lộ nối liền ven biển với cao nguyên đều nguy hiểm vì có thể gặp giao tranh, nhưng lần đó Long và  Mai đang lúc hên nên được bình yên vô sự, gần trưa đã đến Ban Mê Thuột chỉ cách Ninh Hòa có hơn 150  cây số. Vô sự thật, nhưng không dễ dàng vì qua nhiều đoạn đường dài đang làm lại. Công binh Mỹ nới  rộng con đường cũ, những đoạn mới còn nguyên đất đỏ bụi mù khi có xe khác đi qua, chiếc xe hai bánh  phải chạy thật chậm. 

Vào thành phố Ban Mê Thuột rồi, Long hỏi thăm tìm đến trường trung học nơi Hoài dạy. Nơi đây văn  phòng cho biết hôm đó Hoài không có giờ dạy, và cho địa chỉ nhà của hai vợ chồng. Đến nơi, Long tạo ra  cho Hoài và nhất là Vy ngạc nhiên thích thú, vì chuyến đi ngẫu hứng, không tính trước nên cũng không  báo trước. Riêng Vy rất cảm động khi gặp lại ông anh. Ngày trước khi Long còn ở nhà hai anh em rất hợp  nhau. 

Hoài trước kia là sinh viên Đại Học Sư Phạm Huế. Trong cuộc biến động miền Trung năm 1966, chàng tham gia phong trào đấu tranh của sinh viên (song song với cuộc đấu tranh của Phật Giáo do Thượng Tọa Thích Trí Quang lãnh đạo) và bị bắt khi phong trào bị chính phủ trung ương của Tướng Nguyễn Cao Kỳ sai quân ra dẹp. Sau vài tháng tù, chàng được trả tự do và tiếp tục học, tốt nghiệp năm 1967 và được bổ nhiệm dạy văn tại trường trung học Ban Mê Thuột. Cũng may là đã rời Huế trước năm 1968 nên Hoài không bị rơi vào thảm cảnh tại đó khi quân cộng sản chiếm đóng thành phố này trong cuộc tấn công Tết Mậu Thân. 

Ban Mê Thuột nổi tiếng về các đồn điền có từ thời Pháp thuộc, nhất là đồn điền cao su. Cà phê cũng  trồng nhiều trong vùng, nhưng không nhiều bằng những đồn điền cao su ngay hàng thẳng lối bạt ngàn. Long và Mai được Hoài và Vy hướng dẫn đi chơi trong vùng, lần đầu đến vùng cao nguyên đất đỏ.

phamngoclan_quanmylan02
Hai vợ chồng trong một đồn điền cao su tại Ban Mê Thuột, tháng 2-1970 

Đây là lần đầu Long gặp người em rể mà sau này sẽ còn nhiều cơ hội gặp lại nhau và chia sẻ những vui buồn của cuộc đổi đời sau biến cố 1975.

(còn tiếp) 

Phạm Ngọc Lân

Cha vô danh – Chuyện kể cuộc đời một người Việt lai Pháp

Ghi Chú:

(1) “Kiệm ước” là tên một loại thuế mới do Tổng Trưởng Kinh Tế Phạm Kim Ngọc đề nghị làm cho vật giá leo thang thêm một bậc nữa, kéo theo nhiều cuộc biểu tình phản đối. Báo chí Sài Gòn thời đó hay nhắc đến “kinh tế kiệm ước của Tổng Ngọc”.

(2) Thời đó Đà Lạt thuộc tỉnh Tuyên Đức, Bảo Lộc thuộc tỉnh Lâm Đồng. Sau 1975 hai tỉnh sáp nhập làm một, lấy tên là  Lâm Đồng, Đà Lạt là tỉnh lỵ của Lâm Đồng, Bảo Lộc chỉ còn là một huyện. Dần dần cả Đà Lạt và Bảo Lộc đều được nâng cấp  về mặt hành chánh, và hiện nay cả hai đều là thành phố trực thuộc tỉnh Lâm Đồng.

(3) Sau biến cố 1975, Cha Biên di tản qua Mỹ, phụ trách một giáo xứ trong vùng San Diego, tiểu bang California, và mất tại đây trong thập niên 2010.

(4) Thời kỳ di cư gần một triệu người từ Bắc vào Nam năm 1954-55, Bảo Lộc là một trong những địa điểm được chọn để định cư những người đến từ các làng Công Giáo ngoài Bắc để tránh họa cộng sản. Những xã tân lập ở Bảo Lộc thời đó mang  tên Tân Phát (Phát đây là Phát Diệm), Tân Thanh (Thanh Hóa), Tân Bùi (Bùi Chu), v.v. 

(5) Trước năm 1975, tên thành phố này là Ban Mê Thuột, sau này có tên là Buôn Ma Thuột. 

(6) Thật ra thời Pháp thuộc đã có con đường nối liền Đà Lạt với Ban Mê Thuột, nhưng đường ít dùng nên rất thô sơ. Trong 

chiến tranh, con đường băng rừng này hoàn toàn bị bỏ phế. Sau này đường được khôi phục. Năm 2007, tác giả có dịp đi xe đò  từ Ban Mê Thuột về Đà Lạt bằng con đường này, lúc đó còn rất xấu. 

(7) Quốc lộ từ Ninh Hòa đi Ban Mê Thuột qua Dục Mỹ, nơi đây trước kia có Trung Tâm Huấn Luyện Biệt Động Quân của 

Việt Nam Cộng Hòa. Hồi đó mang tên quốc Lộ 21, hiện nay là quốc lộ 26.