Con đường tri thức của tôi (2) (Isaiah Berlin)

Lượt xem: 243

“…Nhưng nếu lịch sử tất yếu sẽ đi đến một xã hội toàn hảo, tại sao con người phải hy sinh mạng sống cho một tiến trình mà tiến trình này không cần đến sự hỗ trợ của con người cũng sẽ đạt tới mục tiêu một cách mỹ mãn và tốt đẹp?...”

isaiah_berlin04

Đa nguyên luận

Tôi đi đến kết luận rằng có sự đa dạng của những lý tưởng, cũng như có sự đa dạng của những nền văn hoá và những tính khí. Tôi không phải là người theo tương đối luận. Tôi không nói : Tôi thích cà-phê có sữa và anh thích cà-phê không sữa hay tôi đề cao tính hoà nhã và anh ưa thích những trại tập trung… Mỗi chúng ta có những giá trị riêng, mà chúng ta không thể nào ức chế hoặc sát nhập. Tôi tin rằng điều này sai. Nhưng tôi tin rằng có sự đa dạng của những giá trị mà con người có thể tìm đến và mong tìm đến. Và những giá trị này khác biệt nhau. Những giá trị này không có hằng hà sa số: con số những giá trị nhân bản, những giá trị mà tôi có thể theo đuổi và đồng thời tôi vẫn giữ sắc thái nhân bản của tôi, đặc tính nhân bản của tôi, chỉ có giới hạn. Cho nó là 74, hay có thể là 122, hay 26, nhưng có hạn, cho dù nó là số gì đi nữa. Và điều khác biệt là nếu một người theo đuổi một trong những giá trị đó, trong khi tôi, tôi không theo đuổi, tôi vẫn có thể hiểu tại sao người này theo đuổi nó và sự thể sau này sẽ ra sao, đối với người này, khi bị lôi cuốn phải theo đuổi giá trị này.

Do đó khả năng hiểu biết giữa con người đuợc thể hiện. Tôi nghĩ rằng những giá trị này có tính khách quan. Có nghĩa là bản chất những giá trị này, việc theo đuổi những giá trị này là thành tố cấu tạo nên con người. Và đây là một định đề khách quan. Đàn ông là đàn ông, đàn bà là đàn bà đó là sự kiện. Và chó, mèo, bàn hay ghế không phải là sự kiện khách quan. Và thành tố của sự kiện khách quan này là sự hiện hữu của một số giá trị. Và con người, vẫn luôn lưu giữ nhân tính của mình, có thể theo đuổi chỉ duy những giá trị này thôi. Nếu tôi là một người đàn ông hoặc là một người đàn bà với trí tưởng tượng khá phong phú (và lẽ cố nhiên tôi cần điều này), tôi có thể hoà nhập vào trong một hệ thống giá trị không nằm trong phạm vi giá trị của cá nhân tôi. Nhưng tôi nhận thức được sự việc những người khác theo đuối những giá trị đó, vì họ vẫn là con người, vì họ vẫn là những sinh vật mà tôi có thể liên lạc, mà tôi chia sẻ một số giá trị chung. Vì đã là người thì phải có một số giá trị chung nếu không họ không còn là người nữa, và đồng thời cũng có một số giá trị khác biệt, bằng không họ không còn khác biệt, và trên thực tế họ khác biệt.

Chính vì vậy đa nguyên luận không phải là tương đối luận - những giá trị đa dạng là khách quan, nó thuộc thành tố cơ bản của nhân loại hơn là những sáng chế tùy tiện phát xuất từ óc tưởng tượng viễn vông của con người. Tuy nhiên, lẽ cố nhiên, nếu tôi theo đuổi một hệ thống giá trị nào đó tôi có thể ghét bỏ một hệ thống khác. Và tôi có thể nghĩ rằng hệ thống này gây tổn hại cho mô hình duy nhất của cuộc sống mà tôi đang an hưởng hoặc chấp nhận cho chính bản thân tôi và cho người khác. Có trường hợp tôi có thể tấn công nó, tôi cũng có thể - trong những trường hợp cùng cực, phải khai chiến với nó. Nhưng tôi vẫn nhận biết đó là mục tiêu của con người. Tôi nhận thấy những giá trị của Quốc Xã đáng ghét. Nhưng tôi có thể hiểu vì sao: bị nhồi nhét bởi những thông tin sai lạc, tin theo những xác tín sai lầm về thực tế, một người có thể tin tưởng rằng những giá trị này là con đường cứu thoát duy nhất. Lẽ cố nhiên chúng ta phải đánh đổ chúng, bằng chiến tranh nếu cần. Nhưng tôi không xem những người theo Quốc Xã, như nhiều người vẫn làm, có căn cơ bệnh hoạn hay điên khùng.

Tôi chỉ nhận định là họ sai lầm nguy hiểm, hoàn toàn lệch lạc về những sự kiện. Ví dụ như họ tin rằng một số thể nhân là hạ đẳng, rằng chủng tộc là quan trọng, rằng chỉ có giống Bắc Âu là thực sự có đầu óc sáng tạo, và vân vân. Tôi hiểu vì sao con người, với lối giáo dục lầm lẫn, đầu óc mang đầy ảo tưởng và sai lầm, có thể, mặc dù vẫn mang bản tính con người, tin tưởng những điều này và phạm những tội ác mà không ngôn ngữ nào tả xiết.

Nếu đa nguyên là một quan điểm có giá trị - và sự tôn trọng giữa những hệ thống giá trị không hẳn là đối nghịch với nhau nếu có thể thực hiện được - thì tinh thần bao dung và những hệ quả tự do xuất hiện theo sau. Điều này không đuợc thể hiện qua nhất nguyên luận (chỉ có một hệ thống giá trị duy nhất là chân thực, tất cả những giá trị khác đều sai lầm) hoặc là qua tương đối luận (những giá trị của tôi thuộc về tôi, những giá trị của anh thuộc về anh, và nếu chúng ta đụng độ, không may, cả hai chúng ta chẳng ai đúng cả). Tinh thần chính trị đa nguyên của tôi là kết quả nhờ đọc ông Vico và ông Herder, và nhờ hiểu biết cội nguồn của học thuyết Lãng Mạn - qua sắc thái bạo động và bệnh hoạn của nó, nó đã đi quá mức chịu đựng của con người.

Đối với chủ nghĩa quốc gia cũng vậy: tinh thần nhập thuộc vào một quốc gia đối với tôi là một điều tự nhiên và về cơ bản chẳng có gì để lên án hoặc là đáng chỉ trích. Nhưng trong trạng thái nóng bỏng của nó - quốc gia của tôi tốt hơn quốc gia của anh, tôi biết cách uốn nắn thế giới ra sao và anh phải phục tùng vì anh không biết cách, vì anh thấp hèn hơn tôi, vì quốc gia của tôi là nhất và quốc gia của anh thua xa quốc gia của tôi và phải cúng hiến vật liệu cho quốc gia tôi, vì quốc gia tôi là quốc gia duy nhất có chính danh để tạo dựng nên một thế giới toàn hảo, thì là một hình thái cực đoan bịnh hoạn có thể dẫn đến, và đã dẫn đến những cảnh hãi hùng không thể tưởng tượng nổi, và hoàn toàn không phù hợp với hình thái đa nguyên mà tôi đã cố gắng mô tả.

Cũng nên chú ý rằng, một cách ngẫu nhiên, có một số những giá trị mà chúng ta ngày nay trên thế giới chấp nhận có lẽ đã được tạo dựng bởi học phái Lãng Mạn vì trước đó thế giới không hề có: ví dụ, ý niệm đa dạng là một điều đáng quý, ý niệm một xã hội trong đó nhiều ý kiến được tôn trọng, và những ý kiến khác biệt được tôn trọng này bao dung lẫn nhau - xã hội này tốt hơn là một xã hội nhất khối trong đó một tư tưởng duy nhất gắn liền mọi người với nhau. Không một ai trước thế kỷ thứ mười tám có thể chấp nhận điều này. Chân lý là duy nhất và ý niệm đa dạng khắc nghịch với nó. Thêm nữa, ý niệm về lòng thành tín, được xem như một giá trị, cũng là một điều mới lạ. Trở thành người hy sinh chết cho chân lý mà chỉ cho chân lý mà thôi luôn luôn là một điều chính đáng. Tín đồ Hồi Giáo, chết cho Islam, hóa ra là những sinh vật kém cỏi, điên khùng, sai lầm vì đã chết cho một điều vô nghĩa lý; và đối với tín đồ Công Giáo, cả những tín hữu Tin Lành và người Do thái và những người lương cũng như vậy cả. Sự kiện họ giữ vững niềm tin của họ một cách thành tín không làm cho họ khá hơn lên bởi vì điều quan trọng là có tính chính đáng.

Khi khám phá ra chân lý - như trong mọi nẻo đường của cuộc sống - rằng thành quả là điều quan trọng nhưng không phải là động lực. Nếu có một người nào đó nói với quý vị rằng anh ta tin rằng hai với hai là mười bảy, và một người khác nói : "Quý vị biết không, hắn nói như vậy không phải để gây phiền hà với quý vị đâu, hắn nói như vậy không phải vì hắn muốn khoe khoang hoặc vì hắn đã bị mua chuộc để nói điều ấy mà là do hắn tin tưởng thực sự như vậy, hắn là người thành tâm tin tưởng", và quý vị sẽ nói : "Dữ kiện này không làm cho vấn đề sáng tỏ hơn, hắn nói điều vô nghĩa lý". Đó là điều mà các tín hữu Tin Lành đang làm, dưới nhãn quan của tín hữu Công giáo, và ngược lại. Càng thành tâm bao nhiêu thì càng nguy hiểm bấy nhiêu. Không ai chú ý đến ý niệm thành tâm cho đến khi lan tràn rộng khắp ý niệm cho rằng có hơn một giải đáp cho một câu hỏi - đó là đa nguyên. Và điều này dẫn đến việc đặt giá trị trên căn bản động lực hơn là hệ quả, trên lòng thành tâm hơn là thành quả.

Kẻ thù của đa nguyên là nhất nguyên. Tinh thần xác tín cổ xưa cho rằng chỉ có một sự hài hoà duy nhất về những chân lý. Đó là nơi mà mọi sự - nếu nó thật sự chân chính - cuối cùng rồi cũng đồng quy về một mối. Hệ quả của tinh thần này (khác biệt với, nhưng liên quan tới điều mà Karl Popper gọi là thiết yếu luận - đối với ông đó là căn nguyên của mọi tệ hại) đưa đến việc kẻ nào hiểu biết điều khiển kẻ không hiểu biết. Kẻ nào có lời giải đáp cho một số vấn đề lớn của nhân loại phải được mọi người thuần phục. Vì chỉ có họ mới biết tổ chức xã hội như thế nào, biết đời sống cá nhân phải sống ra sao, biết văn hoá phải được phát triển ra sao. Đây là lòng tin cổ xưa kiểu Plato, đặt lòng tin vào các vị vua triết học, vì họ có chính danh để ra lệnh cho kẻ khác. Đã luôn có những nhà tư tưởng nhất quyết cho rằng nếu chỉ có các khoa học gia, hay là những người được huấn luyện trong tinh thần khoa học, mới được đảm nhiệm trách vụ cai quản mọi sự thì thế giới có lẽ sẽ tốt đẹp hơn nhiều.

Để trả lời xác quyết này, tôi phải lên tiếng rằng không có một luận cứ bào chữa nào, hay không có một lý do nào, có thể được viện dẫn để cho phép một thành phần ưu tú có quyền lực độc đoán vô hạn để cướp những quyền tự do căn bản của đa số.

Có một người đã có lần nhận xét rằng thuở xa xưa đàn ông và đàn bà được đem đi tế cho một số các thần linh, còn thời buổi tân thời những thần tượng mới là "-isms" (chủ nghĩa) đã thay thế cho họ. Gây đau đớn, giết chóc, tra tấn nói chung đều bị lên án một cách xác đáng. Nhưng nếu những điều này được thực hiện không vì lợi ích của cá nhân tôi nhưng vì một chủ nghĩa (ism) - chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa quốc gia, chủ nghĩa phát-xít, chủ nghĩa cộng sản, tín ngưỡng tôn giáo tuân theo một cách si cuồng, hoặc nhân danh tiến bộ, hoặc là để hoàn tất những định luật của lịch sử - thì lại là chính đáng. Phần đông những nhà cách mạng tin rằng để xây dựng một thế giới lý tưởng trứng cần phải đập vỡ. Chắc chắn trứng đã bị đập vỡ - chưa bao giờ tàn bạo và ở khắp mọi nơi như thời đại chúng ta - nhưng chả trứng còn lâu mới tìm thấy và nó lùi mãi vào khoảng không gian bất tận. Đây là một trong những hệ luận của chủ nghĩa nhất nguyên vô cương hãm, như tôi đặt tên cho nó - một vài người gọi đó là óc cuồng tín. Bởi vậy chủ nghĩa nhất nguyên là cội nguồn của mọi thứ cực đoan.

Tự do

Tự do chính trị là một đề tài mà tôi đã tận tâm biên khảo hai bài tham luận trong những thập niên 1950. Bài thứ nhì, tựa đề "Two Concept of Liberty" (Hai Ý Niệm Về Tự Do) (1) đã khai mạc Giáo Đàn của tôi tại Oxford, và luận điểm chính là phân biệt giữa hai ý niệm tự do (lời dịch giả : nơi đây tác giả giải thích việc sử dụng chữ freedom và liberty có cùng một ý và hoán chuyển cho nhau) tiêu cực và tích cực. Nói đến tự do tiêu cực là tôi muốn nói đến sự thiếu vắng của những chướng ngại vật ngăn cản hành động của con người. Ngoài những chướng ngại vật do thế giới bên ngoài tạo nên, hoặc do những định luật của sinh vật học, sinh lý học, tâm lý học điều khiển con người thì đó là sự thiếu vắng tự do chính trị - đề tài trọng tâm của bài tham luận của tôi. Ở đây những chướng ngại là do con người tạo nên, cho dù là cố ý hoặc là không cố ý. Phạm vi của tự do tiêu cực tùy thuộc vào mức độ thiếu vắng của những chướng ngại do con người tạo nên - tùy theo mức độ mà tôi được tự do đi theo một con đường này hay con đường kia mà không bị ngăn chặn bởi những định chế hoặc những kỷ luật do con người tạo nên, hoặc bởi những hoạt động của một nhóm người đặc thù.

Nói rằng tự do tiêu cực chỉ giản dị có nghĩa là tôi muốn làm gì tôi làm thì chưa đủ. Vì trong trường hợp này tôi tự giải thoát khỏi những chướng ngại để thỏa mãn những ước vọng của tôi bằng cách theo các vị tiên hiền nhẫn nhục chịu đựng (Stoics) và diệt dục. Nhưng con đường này, con đường đi đến diệt dục tiệm tiến có thể gặp những trở ngại, cuối cùng lần hồi sẽ tước đoạt những sinh hoạt cơ bản và sống động của con người. Nói cách khác, những con người hoàn toàn tự do là những người con người đã chết, vì họ không còn dục vọng nên họ không gặp chướng ngại. Điều mà tôi tư duy khác hơn, thật ra, chỉ đơn giản là số lượng đường hướng mà trên đó con người có thể bước đi, cho dù y có chọn lựa bước theo hay không. Đó là một trong hai ý nghĩa căn bản đầu tiên về tự do chính trị.

Có một vài người chống lại quan điểm của tôi, vẫn cho rằng tự do phải có một mối tương quan ba chiều. Tôi có thể vượt qua hoặc tháo gỡ hoặc không bị ngăn cản bởi những chướng ngại chỉ vì mục đích muốn thực hiện những hành động hay một hành động nào đó. Nhưng tôi không thể chấp nhận điều này. Thiếu tự do trong ý nghĩa căn bản của nó là việc chúng ta giam hãm con người trong tù hoặc là trói cột con người vào cây. Tất cả những gì mà người này mong ước là bẻ gẫy xích xiềng, vượt thoát xà-lim. Nhưng người này không nhất thiết tìm nhắm một mục đích để thực hiện một hành động đặc biệt nào đó, một khi người này được tự do. Trong một phạm vi ý nghĩa rộng lớn hơn, đương nhiên, tự do có nghĩa là tự do thoát khỏi những lề luật của một xã hội hoặc những định chế của nó, thoát khỏi sự kềm tỏa của mãnh lực đạo đức hoặc vũ lực thể chất thái quá, hoặc thoát khỏi tất cả những gì ngăn trở những khả năng hành động, lý ra không bị ngăn trở. Điều này tôi gọi là "tự do thoát khỏi".

Đề tài thứ hai của ý nghĩa tự do là tự do để. Đề tài tự do tiêu cực của tôi được minh định qua câu trả lời của câu hỏi "Tôi bị kiểm soát ở mức độ nào?". Câu hỏi cho ý nghĩa thứ hai của tự do là "Ai kiểm soát tôi?". Khi chúng ta bàn đến những chướng ngại do con người tạo nên, tôi có thể tự đặt những câu hỏi "Ai quyết định hành động của tôi, cuộc sống của tôi? Tôi hành động như vậy, một cách tự do, bất kể phuơng hướng tôi chọn? Hay là tôi nhận lệnh từ một trung tâm kiểm soát khác? Có phải những hoạt động của tôi được quyết định bởi các bậc cha mẹ, các thầy cô giáo, các vị linh mục, các cảnh sát viên? Có phải tôi chịu sự điều khiển của một hệ thống lề luật, của một trật tự tư bản, của một chủ nô, của một chính quyền (quân chủ, thiểu số cai trị, dân chủ?). Trong phạm vi nào tôi là chủ của vận mạng tôi? Những khả năng hành động của tôi có thể bị giới hạn, nhưng bị giới hạn ra sao? Ai ngăn cản con đường tôi đi, bao nhiêu quyền lực họ có thể phô trương?".

Đây là hai ý nghĩa trọng tâm của "tự do" mà tôi chú tâm tầm cứu. Tôi nhận thức được rằng hai điều này khác nhau, rằng có những giải đáp cho hai câu hỏi khác biệt này. Tuy nhiên, vì chúng cùng một gốc, theo quan điểm của tôi chúng không xung phá lẫn nhau - lời giải đáp cho câu hỏi này không nhất thiết quy định lời giải đáp cho câu hỏi kia. Cả hai thứ tự do đều là mục tiêu tối hậu của loài người. Và cả hai cần được giới hạn vì cả hai ý niệm đã bị lệch hướng trong quá trình lịch sử của nhân loại. Tự do tiêu cực có thể được diễn giải qua việc thả lỏng kinh tế. Dựa vào đó, nhân danh tự do, các chủ nhân được phép tiêu hủy mạng sống của những thiếu niên trong hầm mỏ. Hoặc chủ nhân xí nghiệp phá hủy sức khỏe và tâm tính của những công nhân trong công xưởng. Nhưng theo quan điểm của tôi đó là một sự thoái hoá và đó không phải là những gì mà ý niệm cơ bản tự do yêu cầu nơi con người. Cũng có người nói rằng, thật là mỉa mai khi ta thông báo cho một người nghèo rằng anh ta hoàn toàn tự do thuê một căn phòng trong một khách sạn đắt tiền, mặc dù anh ta không đủ khả năng để trả số tiền đó. Nhưng đây cũng là một sự lầm lẫn. Anh ta có tự do để thuê một căn phòng tại đó.

Nhưng anh ta không có đủ phương tiện để sử dụng tự do của mình. Anh ta không có đủ phương tiện có lẽ vì anh ta bị ngăn cản không thể kiếm ra nhiều hơn vì một hệ thống kinh tế do con người tạo dựng. Nhưng đó là việc thu hồi tự do để kiếm tiền, chứ không phải là thu hồi tự do thuê phòng.

Điều này có vẻ như là một sự phân biệt có tính cách trí giả, nhưng đây là trọng tâm của những cuộc thảo luận về tự do kinh tế và tự do chính trị.

Ý niệm về tự do tích cực đã dẫn đến trong lịch sử những lệch lạc vô cùng kinh hãi. Ai chỉ huy đời tôi? Tôi chỉ huy. Cá nhân tôi? Ngu muội, lầm lẫn, thúc đẩy lúc này lúc nọ bởi những đam mê và những động lực bột phát không được kìm hãm - như vậy phải chăng phạm vi cá nhân tôi chỉ có bấy nhiêu đó thôi? Có thể nào trong phạm vi cá nhân của tôi hiện diện một bản thể cao hơn, duy lý hơn, tự do hơn, có khả năng hiểu biết và khống chế những đam mê, sự ngu muội và những khuyết điểm khác, mà tôi chỉ có thể đạt đến qua tiến trình giáo dục và hiểu biết, một tiến trình chỉ được quản lý bởi những ai khôn ngoan hơn cá nhân tôi, bởi những ai dạy bảo cho tôi hiểu biết được bản ngã đích xác, "đích thực", thâm sâu nhất của tôi, và con người của tôi ra sao khi tôi đạt đến được mức toàn hảo của tôi? Đây là một quan điểm siêu hình khá nổi tiếng, theo đó tôi chỉ thực sự được tự do và được tự quyết khi tôi thực sự có tinh thần thuần lý - một xác tín thuộc về thời Plato. Và vì có thể chính bản thân tôi không có đủ tinh thần thuần lý nên tôi phải tuân theo những ai có óc thuần lý. Và nhờ óc thuần lý đó những người này biết rõ điều gì tốt nhất không những cho chính bản thân họ mà cho cả bản thân tôi nữa. Và họ có thể hướng dẫn tôi theo con đường đi đến khai thức bản ngã chân thực của tôi và giao trọng trách cho nó, nơi mà nó thực sự thuộc nhập. Tôi có thể cảm thấy bị vây hãm - thực sự bị đè bẹp - bởi những quyền thế này. Nhưng đây chỉ là ảo giác mà thôi. Khi tôi lớn lên và đạt được mức độ trưởng thành đầy đủ, đạt đến "bản ngã" chân thực của tôi, tôi sẽ hiểu rằng tôi sẽ hành động cho bản thân tôi đúng như những gì họ đã làm cho tôi, nếu như tôi khôn ngoan như họ bây giờ mà bản thân tôi vẫn còn trong trạng thái thấp hèn.

isaiah_berlin01

Nói tóm lại, họ hành động thay mặt cho tôi, vì quyền lợi của bản ngã cao thượng của tôi, bằng cách kiểm soát bản ngã thấp hèn của tôi. Nhờ vậy tự do đích thực của bản ngã thấp kém được thể hiện qua việc tuân phục hoàn toàn những bậc hiền giả, những vị hiểu biết chân lý, những thành phần ưu tú của các đấng tiên hiền. Hoặc là tôi phải tuân phục những ai hiểu biết định mệnh của nhân loại ra sao - và nếu Marx lý luận đúng - thì đó là Đảng (chỉ có Đảng mới nắm vững những nhu cầu của những mục tiêu thuần lý của lịch sử) mới có thể uốn nắn và hướng dẫn tôi, cho dù bản ngã thực nghiệm nghèo nàn của tôi mong ước đi con đường nào đi nữa. Và chính bản thể của Đảng cũng phải được hướng dẫn bởi những cấp lãnh đạo sáng suốt. Và sau cùng bởi một người lãnh đạo vĩ đại nhất và khôn ngoan nhất. Không có một lãnh tụ độc tài nào trên thế giới mà không áp dụng phương pháp luận lý này để biện minh cho việc đàn áp tồi bại nhất. Nhân danh một bản thể lý tưởng mà vị lãnh tụ này, để tìm cách thực hiện cho có hiệu quả, đã sử dụng những phương tiện có thể một phần nào tàn bạo và mới thoạt nhìn (prima facie) đã thấy ghê tởm về mặt đạo đức (prima facie chỉ áp dụng cho bản ngã thực nghiệm thấp hèn). Người "kỹ sư của tâm hồn con người" - để sử dụng câu của Stalin (2) - hiểu biết rõ ràng nhất. Kỹ sư này thực hiện những điều anh muốn thực hiện không chỉ đơn thuần nhằm mục đích tận dụng hết khả năng của mình cho nước nhà mà còn hành động nhân danh cả quốc gia, nhân danh những gì mà quốc gia sẽ hành động cho chính bản thể quốc gia nếu quốc gia đạt đến trình độ hiểu biết lịch sử này.

Đây là một biến thái lệch lạc to lớn mà ý niệm tự do tích cực đã dẫn đưa đến. Dù phát xuất từ một lãnh tụ Mác-xít, từ một vị vua, từ một tên độc tài phát-xít, từ các bậc thầy của một Giáo Hội chuyên quyền hoặc của một giai cấp hoặc của một quốc gia độc đoán, chế độ chuyên chế này tìm kiếm nơi con người cái bản ngã "chân thực" bị giam hãm để "giải phóng" nó, nhờ đó bản ngã này có thể đạt đến trình độ của những vị ban phát lệnh.

Điều này đưa chúng ta trở ngược lại ý niệm ngây ngô cho rằng chỉ có một lời giải đáp chân thực duy nhất cho mọi câu hỏi. Nếu tôi biết câu giải đáp chân thực và anh không biết, không đồng ý với tôi, chỉ vì anh ngu muội. Nếu anh biết được chân lý, anh nhất thiết phải tin những gì tôi tin.

Nếu anh tìm cách không tuân lệnh của tôi, điều này chứng tỏ là anh sai lầm, tại vì chân lý đã không được mặc khải cho anh như đã được mặc khải cho tôi. Điều này biện minh cho một số những hình thái đàn áp và nô lệ hoá hãi hùng nhất của lịch sử nhân loại. Và quả thật đây là một lối diễn giải ý niệm tự do tích cực nguy hiểm nhất và, đặc biệt ở thế kỷ chúng ta, thô bạo nhất.

Tất yếu luận

Một bài tham luận khác của tôi về tự do tựa đề là "Tính bất khả đào thoát của lịch sử". Trong bài này tôi minh định rằng tất yếu học thuyết là một chủ thuyết đã được các triết gia chấp nhận một cách vô cùng phổ cập trong hàng mấy trăm năm. Tất yếu học thuyết xác định rằng mọi biến cố đều có nguyên do. Do đó biến cố không thể tránh thoát được và thế nào cũng xảy ra. Đây là nền tảng của khoa học vạn vật. Định luật của thiên nhiên và những ứng dụng của nó - toàn bộ khoa học thiên nhiên - đặt nền tảng trên ý niệm một trật tự hằng cửu mà khoa học đang tìm tòi.

Nhưng nếu như tất cả những phần còn lại của thiên nhiên bị chi phối bởi những định luật này, con người đơn phương có thể nào thoát khỏi? Khi một người, như mọi người bình thường (nhưng không hẳn như phần đông các khoa học gia và triết gia), cho rằng khi y đứng dậy từ chiếc ghế, y không tự động làm như vậy. Y làm như vậy vì y đã lựa chọn làm như vậy. Nhưng thực ra y không cần phải lựa chọn. Khi y nói lên điều này, y được cho biết đó là một ảo tưởng. Và mặc dù công trình cần thiết của các nhà phân tâm học chưa được hoàn tất nhưng một ngày nào đó sẽ được hoàn tất (hoặc giả trên nguyên tắc bằng mọi giá có thể được hoàn tất). Và nhờ đó y sẽ biết những gì biểu hiện nên con người y và những gì y làm. Tất cả tất yếu đều phải là như vậy, và không thể khác được. Tôi nghĩ học thuyết này sai, nhưng trong bài tham luận này tôi không tìm cách chứng minh điều này hoặc phủ định tất yếu luận. Thật ra, tôi không chắc điều này có thể chứng minh hay phủ định được. Mối ưu tư của tôi là việc tự đặt hai câu hỏi. Tại sao các triết gia và một số người khác nghĩ rằng con người hoàn toàn tuân theo định luật? Và, nếu họ tuân theo, điều này có tương hợp với cảm tính luân lý và phong cách bình thường như mọi người thường hiểu?

Luận đề của tôi có hai lý do chính hỗ trợ cho chủ thuyết tất yếu luận áp dụng cho con người. Lý do đầu tiên là, từ khi khoa học vạn vật - có lẽ là một thành quả lớn nhất trong lịch sử của nhân loại - có vẻ phi lý khi cho rằng chỉ có con người không lệ thuộc những định luật của thiên nhiên đã được các khoa học gia khám phá. (Điều mà các triết gia thế kỷ thứ 18 thực sự xác quyết). Lẽ cố nhiên câu hỏi đặt ra ở đây không phải là con người có hoàn toàn vượt ra khỏi những định luật này hay không. Không một ai ngoại trừ người điên minh xác là con người không lệ thuộc vào cơ cấu sinh lý và tâm lý, vào môi trường hay những định luật của thiên nhiên. Câu hỏi độc nhất là : Có phải vì lý do đó mà tự do con người hoàn toàn tiêu tan? Có một góc cạnh nào đó cho phép con người có thể hành động theo sở thích của mình và không bị ép buộc lựa chọn bởi những nguyên do trước đó? Đây có thể là một góc cạnh rất nhỏ bé trong quang cảnh bao trùm của thiên nhiên. Nhưng trừ phi góc cạnh đó hiện hữu, ý thức của con người về tự do của mình, lẽ đương nhiên phổ cập hoàn vũ - sự kiện đa số con người tin rằng có một số hành động tuân theo ý chí tự do của họ mặc dù một vài hành động của họ có tính cách máy móc - là một ảo giác to lớn, kể từ thuở nhân loại hiện diện trên mặt đất, từ khi ông A-dong ăn trái táo, mặc dù là được dặn không được làm như vậy và không trả lời rằng "Tôi không thể cưỡng được, tôi không làm điều đó một cách tự do vì Eva đã ép buộc tôi phải làm điều đó".

Lý do thứ hai hỗ trợ cho tinh thần xác tín về tất yếu luận là việc cho rằng một số lớn hành vi con người làm là do những nguyên cớ không tùy thuộc cá nhân con người, và vì vậy khiến cho họ có cảm tưởng họ không đáng khiển trách trong công việc họ làm. Khi tôi phạm một lỗi lầm, hoặc phạm một điều sai trái hay một tội ác, hoặc tôi làm bất cứ điều gì mà tôi nhìn nhận và những người khác nhìn nhận là sai quấy hay bất hạnh, tôi có thể nói: "Làm sao tôi có thể tránh được điều ấy? Vì tôi đã được nuôi nấng dạy bảo theo con đường đó" hoặc "Đó là bản chất của tôi, điều mà định luật thiên nhiên có trách nhiệm" hoặc "Tôi tùy thuộc vào một xã hội, vào một giai cấp, vào một Giáo Hội, vào một quốc gia, trong đó mọi người đều làm như vậy và chẳng có ai lên án điều này cả" hoặc "Tâm lý của tôi đã được nhào nắn theo chiều hướng hành xử của cha mẹ tôi đối với nhau và đối với tôi và được đào luyện theo những trạng huống kinh tế và xã hội nơi mà tôi bị đặt vào hay bị ép vào, và tôi không có khả năng lựa chọn để hành động một cách khác" hoặc, cuối cùng, "Tôi theo lệnh".

Đối nghịch với điều này, một số đông cho rằng mọi cá nhân đều có ít nhất hai lựa chọn mà đương sự có thể làm. Khi Eichmann nói "Tôi giết dân Do-thái vì tôi nhận lệnh giết. Nếu tôi không làm điều này, chính bản thân tôi sẽ bị giết", người ta có thể đáp lại rằng "Tôi hiểu là việc lựa chọn để bị giết rất khó với ông, nhưng trên nguyên tắc ông có thể lựa chọn điều này nếu ông quyết định chọn nó.

Không có một cưỡng bách rõ rệt nào, theo như thiên nhiên vốn có, khiến ông phải hành động như ông đã hành động". Quý vị có thể nói rằng thật là vô lý khi mong chờ thiên hạ phải hành xử theo cách chọn những hiểm nguy to lớn cho mình. Như vậy, mặc dù trường hợp họ quyết định hành động như thế khó có thể xảy ra, nhưng trên bình diện thuần túy ngôn từ, họ có thể lựa chọn hành động như vậy. Việc hy sinh tử đạo không có ai trông chờ - nhưng nó có thể được chấp nhận - và không có ai mong đợi nên chính vì vậy, ai cũng khâm phục hành động này.

Quả là có nhiều lý do để con người lựa chọn và tiếp nhận tất yếu luận trong lịch sử. Nhưng nếu con người tiếp nhận ý niệm này, thì một hệ quả luận lý nan giải sẽ tiếp diễn, để chỉ đưa đến một mẫu cuối cùng không thể nào khác hơn. Điều này có nghĩa là chúng ta không thể nói với bất cứ một ai - dựa trên lý đoán là đương sự có thể tự chế, hoặc là làm một điều gì khác - câu : "Anh có bị ép buộc phải làm điều đó không? Tại sao anh phải làm như vậy? Toàn bộ luân lý thường thức của chúng ta, nơi chúng ta nói về nhiệm vụ và bổn phận, điều phải và điều quấy, lời tán dương hay lời khiển trách về mặt đạo đức – phương cách mà con người được tán dương hay bị lên án, được tưởng thưởng hay bị trừng phạt, vì đã hành xử theo đường hướng mà họ không bị ép buộc hành xử như vậy, trong khi họ có thể hành xử một cách khác - tất cả hệ thống xác tín và ứng dụng này mà trên đó, theo thiển nghĩ của tôi, tất cả luân lý thường thức được đặt căn bản, hàm chứa ý niệm trách nhiệm. Và trách nhiệm dẫn đến khả năng lựa chọn giữa đen và trắng, đúng và sai, thú vui và bổn phận. Cũng như, trên một phạm vi rộng rãi hơn, sự lựa chọn giữa những hình thức sinh sống, những hình thức chính quyền, và hằng hà sa số những giá trị đạo đức mà đại đa số con người, cho dù cho họ có ý thức hay không ý thức điều này, đều áp dụng như vậy trong cuộc sống thực tại.

Nếu tất yếu luận đuợc chấp nhận, ngữ vựng của chúng ta cần phải thay đổi một cách toàn diện. Tôi không nói rằng điều này không thể xẩy ra trên nguyên tắc, nhưng nó vượt xa những gì mà đại đa số có thể đối đầu. Ở mức độ tối hảo, những tiêu chuẩn thẩm mỹ sẽ thay thế cho giá trị luân lý. Quý vị có thể nhìn ngắm hay ca tụng một nhóm người vì họ đẹp trai hay rộng lượng hay có khiếu âm nhạc.

Nhưng đây không phải là một vấn đề lựa chọn mà là "họ được cấu tạo như vậy". Việc tán tụng có tính cách luân lý cũng phải theo một hình thức như vậy. Nếu tôi khen ngợi anh vì anh đã cứu mạng sống của tôi bất chấp tính mạng của anh, tôi ngụ ý: thật là tuyệt vời vì anh được cấu tạo nên như vậy để không thể tránh được việc anh đã làm. Và tôi vui mừng vì đã gặp gỡ được một người có quyết tâm cứu mạng tôi, chứ không gặp người khác có quyết tâm nhìn sang hướng khác. Phong cách đáng kính hay đáng khinh, ý tìm thú vui và tinh thần tử đạo anh dũng, lòng can đảm hay hèn nhát, tính dối trá hay lòng chân thật, có những phản ứng thích đáng trước sự cám dỗ thử thách - tất cả những điều này sẽ giống như vẻ đẹp trai hay xấu trai, cao hay lùn, già hay trẻ, trắng hay đen, cha mẹ gốc Anh hay gốc Ý : một điều mà chúng ta không thể cải đổi, vì mọi sự đã được ấn định. Chúng ta có thể hy vọng sự vật tiến triển như chúng ta mong muốn. Nhưng chúng ta không thể làm bất cứ điều gì để ảnh hưởng đến nó vì bản thể chúng ta đã được cấu tạo khiến chúng ta không thể cưỡng lại mà bắt buộc phải hành động theo một kiểu cách nào đó. Lẽ dĩ nhiên, chính ý niệm hành động nói lên sự chọn lựa. Nhưng nếu sự chọn lựa đã được định sẵn, như vậy sự khác biệt giữa hành động và tác phong là gì?

Đối với tôi thật là mâu thuẫn khi một vài phong trào (chính trị) đòi hỏi hy sinh và đồng thời họ tin vào tất yếu luận. Lấy thí dụ, chủ nghĩa Mác-xít, được đặt trên nền tảng của tất yếu luận lịch sử - những giai đoạn quá độ mà xã hội phải trải qua trước khi đạt đến trình độ toàn hảo – ra lệnh thi hành những hành động gây đau đớn và nguy hiểm, cưỡng ép và tàn sát, đôi lúc cũng đau đớn không kém cho cả đôi bên sát thủ lẫn nạn nhân. Nhưng nếu lịch sử tất yếu sẽ đi đến một xã hội toàn hảo, tại sao con người phải hy sinh mạng sống cho một tiến trình mà tiến trình này không cần đến sự hỗ trợ của con người cũng sẽ đạt tới mục tiêu một cách mỹ mãn và tốt đẹp? Quả nhiên con người có một cảm giác thật lạ lùng là, cho dù tất cả các vị tinh tú trong tiến trình di động hỗ trợ cho quý vị, nhờ vậy mà mục tiêu của quý vị toàn thắng, thì quý vị cũng phải hy sinh bản thân để rút ngắn tiến trình, để đưa những đau đớn sinh nở của một trật tự mới đến gần hơn, như Mác đã nói. Nhưng sẽ có thể thực sự thuyết phục được bao nhiêu người sẵn sàng trực diện với những hiểm nguy đó chỉ với mục đích là rút ngắn lại một tiến trình, mà cuối cùng cũng sẽ đạt đến, dù họ thành công hay thất bại đi nữa? Điều này luôn làm cho tôi bàng hoàng và cũng làm cho người khác bàng hoàng.

Tất cả những điều này tôi đã thảo luận trong một bài thuyết trình của tôi về vấn đề này mà cho đến nay vẫn còn gây tranh luận. Nó đã được bàn thảo và tranh cãi rất nhiều và hiện nay vẫn tiếp tục.

Theo đuổi một lý tưởng

Có một đề mục mà tôi đã có lần viết, và đó là ý niệm một xã hội toàn hảo, giải đáp cho tất cả bệnh tật của loài người. Có một vài philosophes (nguyên văn của tác giả) Pháp của thế kỷ thứ 18 nghĩ rằng xã hội lý tưởng mà họ mong đợi tất yếu thế nào cũng đến. Những người khác lại bi quan hơn cho rằng những khuyết điểm của con người không thể nào đem lại một xã hội như vậy. Có người nghĩ rằng tiến trình đi đến xã hội này là tất yếu. Lại có người nghĩ rằng chỉ với cố gắng phi thường của con người mới đạt đến điều này, nhưng lại không thể làm được như vậy. Dù sao đi nữa, chính ý niệm một xã hội toàn hảo hàm chứa ý niệm một thế giới toàn hảo. Trong thế giới đó tất cả những giá trị lớn, mà dựa trên đó con người đã từng sống khá lâu, có thể được áp dụng chung với nhau, tối thiểu là trên đối với những ai nghĩ rằng một thế giới như vậy không thể nào đạt đến được vì những trở ngại vật chất và tâm lý - hoặc là sự ngu muội vô phương cứu chữa, sự yếu đuối, hoặc sự thiếu vắng thuần lý tính của con người - còn có một phản kháng mãnh liệt vô cùng đối với ý niệm này.

Tôi không rõ có ai đã nghĩ ra điều này chưa. Nhưng theo suy luận của tôi, có một vài giá trị căn bản có thể tương hợp với nhau và có một số không tương hợp. Tự do, trên mọi bình diện, là một lý tưởng hằng cửu của con người, cho dù là của cá nhân hay của xã hội. Nhưng tự do tuyệt đối (phải được thể hiện trong một thế giới toàn hảo) không tương hợp với bình đẳng tuyệt đối. Nếu con người được tự do làm những điều gì mình ưa thích, như vậy kẻ mạnh sẽ đè bẹp kẻ yếu, chó sói sẽ ăn thịt cừu con, và bình đẳng không còn nữa. Nếu bình đẳng tuyệt đối muốn đạt đến, thì phải ngăn ngừa con người không cho phép trội hơn nhau, về mặt vật chất cũng như về mặt trí tuệ hay về mặt tinh thần, nếu không bất bình đẳng sẽ xuất hiện. Người chủ trương chủ nghĩa vô cơ cấu là Bakunin. Ông tin tưởng bình đẳng là trên hết và nghĩ rằng phải đóng cửa các viện đại học vì các viện này nuôi dưỡng những con người có học khiến những người này có phong cách trưởng thượng đối với người không có học. Và điều này gây ra bất bình đẳng xã hội. Cũng tương tự như vậy, một thế giới hoàn toàn công bằng - và ai giám chối cãi đây không phải là một trong những giá trị cao thượng nhất của con người - không tương hợp với lòng khoan dung tuyệt đối. Tôi không cần biện luận nhiều về quan điểm này : hoặc là luật pháp cứng rắn, hoặc là con người khoan dung. Nhưng cả hai giá trị không thể nào thực hiện cùng lúc được.

Một lần nữa, sự hiểu biết và hạnh phúc có thể tương hợp hay không tương hợp với nhau. Các nhà tư tưởng thuần lý cho rằng hiểu biết luôn luôn giải phóng con người, khiến con người không trở nên nạn nhân của những thế lực mà con người không hiểu đến. Trong một chừng mực nào đó điều này chắc chắn là đúng. Nhưng nếu tôi biết tôi bị bệnh ung thư điều này không khiến tôi hạnh phúc hơn hay tự do hơn. Tôi phải lựa chọn giữa luôn luôn hiểu biết càng nhiều càng tốt và chấp nhận có những trường hợp sự ngu muội có thể là một chân hạnh phúc. Không gì hấp dẫn hơn là sự sáng tạo tự phát, sức sinh động tự nhiên, trăm hoa ý kiến đua nở tự do, những tác phẩm nghệ thuật. Nhưng những điều này ít khi tương hợp với khả năng tổ chức chu đáo và hữu hiệu. Thiếu vắng khả năng này ngay cả một xã hội tương đối ổn định cũng không thể tạo dựng được.

Tự do và bình đẳng, tính hồn nhiên bột phát và trật tự ổn định, hạnh phúc và hiểu biết, lòng khoan dung và luật pháp công minh - tất cả là những giá trị tối thượng của con người và tự chúng đã là giá trị. Tuy nhiên khi những giá trị này không tương hợp với nhau, không thể thực hiện cùng một lúc thì cần thiết phải lựa chọn. Đôi khi phải chấp nhận những sự mất mát to lớn để theo đuổi một mục tiêu thuận lợi tối hậu nào đó. Nhưng, theo thiển nghĩ của tôi, nếu điều này không những đúng về mặt thực nghiệm mà còn đúng về mặt khái niệm - có nghĩa là bắt nguồn từ chính ý niệm của những giá trị đó - thì ý tưởng về một thế giới toàn hảo trong đó tất cả mọi điều thiện đều được thực hiện là một sự kiện không thể hiểu được. Ý tưởng này trên thực tế bất túc về mặt tư tưởng. Và nếu nó bất túc, và tôi thấy không thể nào khác được, thì ngay ý niệm về một thế giới toàn hảo, vì nó mà không có hy sinh nào quá to lớn, cũng phải tan biến trong trí óc.

Trở về lại với các Nhà Bách Khoa và những đồ đệ của Mác và tất cả những phong trào khác mà mục tiêu là đạt đến một cuộc sống toàn hảo. Dường như chủ thuyết này cho rằng phải chấp nhận tất cả những sự tàn ác kinh hồn.

Vì nếu không có những sự thể này thì lý tưởng không thể nào đạt được. Tất cả những biện minh để đập vỡ trứng ngõ hầu làm nên chả trứng tối hậu, tất cả những hung bạo, những mạng sống hy sinh, những cảnh tẩy não, tất cả những cuộc cách mạng, tất cả những gì có lẽ đã khiến thế kỷ này trở nên hãi hùng hơn mọi thế kỷ khác từ trước đến nay, đã xảy ra ở Tây Phương, đều chỉ là con số không. Vì một vũ trụ toàn hảo không những không đạt đuợc mà còn không thể chấp nhận được về mặt tư tưởng. Và tất cả những gì đã được thực hiện để xây dựng nó được đặt trên nền tảng một ngụy luận trí thức vô cùng to lớn.

Isaiah Berlin

Nguyễn Gia Thưởng chuyển ngư

(© 1998, The Isaiah Berlin Literary Trust and Henry Hardy)

Xem bài trước : https://ethongluan.org/index.php/doc-bai-luu-tru/5225

Ghi chú của tác giả :

(1) Phát hành năm 1958, được ghi trong hai bộ tham luận của tác giả : Four Essays on Liberty (Oxford University Press 1969) và The Proper Study of Mankind : An Anthology of Essays (Farrar, Straus and Giroux, 1998).

(2) Ghi chú của Henry Hardy : Stalin dùng câu "những kỹ sư của tâm hồn con người" trong một bài diễn văn về vai trò của các văn sĩ Xô-viết, đọc tại nhà của Maxim Gorky, ngày 26-10-1932. Thủ bút được ghi trên một bản văn không in ấn lưu trữ tại văn khố Gorky - K.L.Zelinsky, Vstrecha pisatelei s I.V.Stalinym (Một cuộc gặp gỡ của các văn sĩ với I.V.Stalinym) - và lần đầu tiên được phát hành, bằng tiếng Anh, tại A. Kemp-Welch, Stalin and the Literary Intelligentsia (Stalin và giới trí thức văn nghệ sĩ), 1928-1939 (Mac Millan UK 1991), trang 128-131 ; để tìm câu này xem trang 131 (và nguyên bản tiếng Nga, Inzhenery chelovecheskikhdush, I.V.Stalin, Sochineniya (Moscova, 1946-1967), tập 13, trang 410.