Con đường tri thức của tôi (1) (Isaiah Berlin)

Lượt xem: 296

“…Tôi chưa hề bao giờ chấp nhận ý niệm về những siêu ngã này. Nhưng tôi phải công nhận tầm quan trọng của ý niệm này trong tư duy và hành động hiện đai…”

isaiah_berlin03

Lời người dịch: (Bài được đang trên Thông Luận giấy ISSN 1145-9557 Số 174 - Năm thứ 16, tháng 10-2003) Sau đây là bài thứ hai của ông Isaiah Berlin trong quyển "The First and The Last" của nhà xuất bản Granta Books. Công trình của ông được tóm gọn trong bài tham luận này.

Đa nguyên chiếm một vị trí quan trọng ở cuối phần luận lý của ông. Xin mượn lời giới thiệu sau đây của ông Henry Hardy để giải thích:

"Tháng 2 năm 1996, khi 87 tuổi, Isaiah Berlin đã nhận một lá thư của Ouyang Kang (Âu Dương Khang), giáo sư Triết tại Đại Học Wuhan, Trung Quốc, mời ông viết một bài tóm lược về những tư tưởng của ông để chuyển ngữ sang tiếng Trung Hoa và lưu trữ trong một bộ sách nhằm mục đích giới thiệu môn triết học Anh-Mỹ cận đại cho các triết gia và sinh viên nghiên cứu triết của Trung Quốc. "Ông Berlin không còn viết một bài nào có chất lượng kể từ năm 1988, khi tuyên ngôn tri thức của ông, "On the Pursuit of the Ideal" ("Theo đuổi một lý tưởng") được đăng trên The New York Review (một bài viết cảm ơn phần thưởng giải nhất Agnelli Prize cho những đóng góp của ông về vấn đề đạo lý nhân luân). Mặc dù trí tuệ của ông không hề giảm sút, và ông vẫn tiếp tục viết một số những sáng tác ngắn, nhưng quả thật ông đã gác bút sáng tác. Đó có lẽ là một điều hiển nhiên - bởi vì xét cho cùng đã quá đủ cho số tuổi tám mươi của ông. "Tuy nhiên dự án của giới trí thức Trung Quốc đã kích động óc sáng tác của ông : ông ghi nhận khối độc giả này là quan trọng, và cảm thấy có bổn phận phải trình bày cho họ. Ông nói với người giáo sư đó rằng ông sẽ cố gắng viết một ít dòng. Với duy nhất một trang giấy có ghi chú trước mặt, ông đọc một đoạn đầu vào máy ghi âm nhỏ. Khi chấp thuận bản in ghi chép lại của tôi, ông thêm vào đó một vài điểm và một vài sửa đổi cuối cùng. Với tính chán ghét cố hữu của mình khi duyệt lại bài vở, ông nói rằng ông không muốn nhìn lại bài của ông. Đây là bài tham luận cuối cùng mà ông viết. "Những người cộng tác để thành lập tập biên khảo này được Isaiah Berlin yêu cầu nên hướng dẫn những độc giả muốn nghiên cứu thêm về các công trình của ông tìm đọc hai bài tham khảo: bài được giải Agnelli Prize và "Thời cực thịnh của ý lực lãng mạn" (The Apotheosis of the Romantic Will), 1975. Cả hai bài này có thể tìm thấy trong bộ sưu tập 1990 của ông, The Crooked Timber of Humanity (Bản mộc tồi tệ của Nhân loại), do Princeton University Press tái bản năm 1998".

1. Khuynh hướng triết tại Oxford trước đệ nhị thế chiến

Tôi bắt đầu chú tâm đến những lãnh vực triết học khi tôi còn là sinh viên tại Oxford vào cuối thập niên 1920 và đầu thập niên 1930, vì môn triết học là một xu hướng của rất đông sinh viên vào thời đó. Nhờ chuyên cần liên tục bộ môn này, năm 1932 tôi được bổ nhiệm giảng dạy môn triết học. Và quan điểm của tôi vào thời đó đương nhiên là bị ảnh hưởng của những cuộc tranh luận mà các bạn đồng môn nghiên cứu triết cùng thời đưa ra. Có rất nhiều lãnh vực khác trong bộ môn triết học. Nhưng những tiêu đề, mà các bạn đồng nghiệp và tôi tập trung vào, liên quan đến những hệ lụy của sự trở lại của thực nghiệm luận, đã bắt đầu ngự trị trên khuynh hướng triết của Anh Quốc trước Đệ Nhất Thế Chiến, phần lớn do ảnh hưởng của hai triết gia nổi danh tại Cambridge, G.E. Moore và Bertrand Russell.

Kiểm chứng luận

Đề mục đầu tiên mà chúng tôi chú tâm đến vào giữa và cuối những thập niên 1930 là bản chất của ý nghĩa – mối liên hệ của nó với sự thật và sai lạc, hiểu biết và định kiến, và đặc biệt là việc chứng nghiệm ý nghĩa trong phạm vi kiểm nghiệm những mệnh đề đã được diễn giải. Động lực khiến mọi người chú ý đề mục này phát xuất từ các môn sinh của Học phái Vienna, đồng thời là đệ tử của Russell và cũng chịu ảnh hưởng nặng nề của các nhà tư tưởng như Carnap, Wittgenstein và Schlick. Quan điểm thời thượng lúc đó cho rằng ý nghĩa của một mệnh đề tùy thuộc vào mệnh đề đó có được kiểm chứng hay không - nghĩa là nếu không có phương cách để kiểm chứng những gì đã được phát biểu thì đó không phải là mệnh đề hàm chứa sự thật hay sự sai lạc, không hiện thực, và vì vậy nó không có nghĩa lý gì. Cũng có một vài cách sử dụng khác của ngôn ngữ, chẳng hạn trong trường hợp ra lệnh hoặc diễn tả ý muốn, hoặc trong văn chương tượng hình, hoặc trong những hình thức diễn tả khác, mà không nhất thiết tùy thuộc vào sự thật đã được kiểm nghiệm.

Tôi bị ảnh hưởng của học phái này vì những vấn đề và những lý thuyết phát xuất từ phái này thu hút tôi. Nhưng chưa bao giờ tôi trở nên một môn đệ đích thực của phái này. Tôi luôn tâm niệm rằng những mệnh đề có thể đúng, có thể sai hoặc khả tín hoặc đáng nghi hoặc đáng chú ý. Đồng thời trên thực tế những mệnh đề này có tương quan đến thế giới mà chúng ta nhận thức qua phương pháp thực nghiệm (và từ đó cho đến ngày hôm nay, tôi chưa bao giờ nhận thức thế giới qua một phương pháp nào khác). Tuy nhiên những mệnh đề này không nhất thiết cần phải được kiểm chứng bởi một số tiêu chuẩn cố định đơn thuần, như Học phái Vienna và những môn sinh thuần lý chuyên cần đã từng xác quyết. Ngay từ ban đầu tôi cảm nhận rằng những mệnh đề tổng quát không thể nào kiểm chứng được theo phương pháp này. Những mệnh đề, được phát biểu trong môi trường bình thường hoặc trong môi trường khoa học vạn vật (đây là môi trường lý tưởng của Học phái Vienna), có thể mang ý nghĩa một cách toàn vẹn mà không cần phải được triệt để kiểm chứng. Ví dụ tôi nói "Tất cả những con thiên nga đều trắng". Tôi sẽ không bao giờ biết hết tất cả những con thiên nga hiện hữu dù tôi xác quyết điều này. Vả lại dù con số những con thiên nga không thể vô tận - một con thiên nga đen lẽ đương nhiên phản bác lối tổng quát hóa này - nhưng việc kiểm chứng đích thực theo luận lý toàn bộ đối với tôi không thể nào thực hiện được. Vì vậy sẽ vô lý khi nói rằng điều này không có ý nghĩa gì cả. Sự kiện tương tự cũng được chứng nghiệm với những mệnh đề giả định, và còn cao hơn một bậc là mệnh đề giả định chưa hoàn tất. Thật là mâu thuẫn khi nhất quyết cho rằng chúng có thể được chứng minh là đúng hay sai. Tôi nghĩ đến một số lượng to lớn những mệnh đề khác cũng vào loại này. Chúng có ý nghĩa hẳn hòi theo như ý nghĩa trọn vẹn của từ ngữ. Nhưng ý nghĩa này vượt ra khỏi tiêu chuẩn hẹp hòi đã được ấn định, tiêu chuẩn của việc quan sát trực tiếp thực nghiệm - thế giới của giác quan. Do đó, mặc dù tôi đóng góp khá tích cực trong những cuộc thảo luận này nhưng dù sao đi nữa tôi vẫn là môt người dị phái, mặc dù là một người dị phái thân thiện. (Nói cho đúng, nhóm mà tôi tích cực tham gia thảo luận này được gọi là Khuynh huớng Triết Oxford. Nhóm này khởi sự từ những nhóm thảo luận của tôi vào buổi tối. Trong những cuộc nhóm họp này có sự hiện diện của những triết gia nổi tiếng sau này như A.J. Ayer, J.L. Austin và Stuart Hampshire.

Tất cả đều chịu ảnh hưởng của học phái thực nghiệm Oxford (Oxford empiricism), và trong một chừng mực nào đó cả của học phái thực tế luận Oxford (Oxford realism) - nghĩa là họ tin rằng thế giới bên ngoài độc lập với những con người quan sát. Tôi chưa bao giờ rời bỏ những quan điểm mà tôi vẫn giữ vào thời đó, và cho đến nay tôi vẫn tin rằng cho dù kinh nghiệm thực tiễn là tất cả những gì từ ngữ có thể diễn tả - và không thể có một thực tế nào khác - thì việc kiểm chứng không phải là tiêu chuẩn duy nhất, hay là thích đáng nhất để hiểu biết hoặc để tin tưởng hoặc để đặt giả thuyết. Điều này đã được định vị trong tâm trí của tôi cho đến mãn cuộc đời của tôi, và đã tô nhuộm tất cả những gì tôi đã tư duy.

Một tiêu đề khác mà tôi muốn các đồng nghiệp trẻ của tôi chú ý là vị thế của những mệnh đề như là "Màu hồng (ánh hồng) này gần giống màu đỏ son này hơn là giống với màu đen này". Chúng ta có thể tổng quát hóa - vì rõ ràng đây là một sự thật mà không một sự kiểm nghiệm nào có thể từ khước - mối tương quan giữa những màu sắc mà mắt người cảm nhận được đã được xác định. Nhưng đồng thời mệnh đề tổng quát này không thể được coi như là tiền nghiệm vì nó không phát xuất một cách chính thức từ bất cứ một định nghĩa nào. Và vì vậy nó không nằm trong phạm vi những bộ môn khoa học thuần lý chính thức nào hoặc môn toán học nào, trong đó chỉ hàm chứa những mệnh đề tiền nghiệm mà vào lúc đó được xem là những mệnh đề tự nó đã là thật. Như vậy chúng ta đã tìm thấy một sự thật có tính cách hoàn vũ trong phạm vi của thế giới thực nghiệm. Định nghĩa của "hồng", của "đỏ son", của những màu khác là gì ?  Chúng không có định nghĩa. Màu sắc chỉ có thể nhận biết bằng nhãn quan. Như vậy những câu định nghĩa chúng được xếp vào loại phô diễn. Và từ những định nghĩa như vậy không có một tiếp diễn thuần lý nào cả. Điều này đưa chúng ta đến gần vấn đề xưa kia của Kant, vấn đề những mệnh đề tiền nghiệm giả định. Và chúng tôi thảo luận vấn đề này và những vấn đề tương tự trong rất nhiều tháng. Tôi đoan quyết rằng mệnh đề của tôi - nếu không là một mệnh đề triệt để tiền nghiệm – tự nó đã là thật vì điều trái nghịch lại nó không thể hiểu được. Các bạn đồng nghiệp của tôi có khơi dậy lại vấn đề này nữa hay không tôi không được biết. Nhưng tiêu đề này được chính thức đưa ra trong những cuộc thảo luận của chúng tôi vào thời đó. Nó phù hợp với quan điểm của Russell được ghi trong một tác phẩm tựa là The Limits of Empiricism (Những Giới Hạn của Thực Nghiệm Luận).

Hiện tượng luận

Một tiêu đề quan trọng khác mà các vị đồng nghiệp cùng thời với tôi đem ra thảo luận là hiện tượng luận - nghĩa là xem xét kinh nghiệm của con người có bị thu vén vào ngũ giác quan, như các triết gia Anh Berkeley và Hume đã dạy bảo (và trong một vài bút tích của họ được Mill và Russell ghi lại), hay là có một thực tế độc lập với kinh nghiệm của giác quan. Đối với một số triết gia, như Locke và các môn sinh, thực tế này hiện hữu - mặc dù chúng ta không trực tiếp cảm nhận điều này - một thực tế có tác động đến kinh nghiệm của giác quan. Và giác quan là điều duy nhất mà chúng ta trực tiếp hiểu biết. Các triết gia khác cho rằng thế giới bên ngoài là một thực tế vật chất mà chúng ta có thể trực tiếp cảm nhận hoặc cảm nhận một cách sai lạc tùy theo trường hơp: quan điểm này được gọi là thực tế luận. Nó đối nghịch với quan điểm cho rằng thế giới của chúng ta được tạo dựng hoàn toàn do năng khiếu của con người - lý trí, óc tưởng tượng và những điều tương tự. Phương pháp luận này được gọi là lý tưởng luận, một điều mà tôi không bao giờ tin vào. Tôi chưa bao giờ tin vào bất cứ chân lý siêu hình nào, dù là những chân lý có tính cách thuần lý, như đã được Descartes, Spinoza, Leibniz khai triển, và đã được Kant khai triển trong một kiểu mẫu đặc biệt hoàn toàn khác, hoặc là những chân lý của lý tưởng luận (khách quan) mà cha đẻ là Fichte, Friedrich Schelling và Hegel, mà cho đến nay họ vẫn còn đệ tử. Như vậy ý nghĩa, chân lý, và bản chất của thế giới bên ngoài là những tiêu đề mà tôi hằng liên tưởng tới và trong một chừng mực nào đó tôi viết ra và một vài quan điểm của tôi về những tiêu đề này đã được ấn hành (1).

Một trong những hiện tương tri thức đã gây một ấn tượng sâu đậm nơi tôi là việc nghiên cứu tính phổ cập hoàn vũ để tìm ra xác quyết tuyệt đối, tìm ra những câu trả lời bất khả nghi vấn, để tìm một sư an toàn tuyệt đối cho tâm trí. Ngay từ ban đầu, điều này đối với tôi là một việc tầm cứu hão huyền. Cho dù một kết luận hoặc một bằng cứ trực tiếp có căn bản vững chắc, đươc phổ cập, vô phương tránh thoát, và có "hiển nhiên" đi nữa, ta luôn có thể nhận thức có một điều gì đó có thể làm thay đổi hoặc cố nhiên làm đảo lộn kết luận đó, mặc dù ngay lúc ấy ta không thể mường tượng ra đó là điều gì. Và tinh thần hoài nghi này - cho rằng một phần lớn bộ môn triết học được định hướng trên một con đường ảo tưởng - sau này đã chế ngự những cơ sở tư tưởng của tôi trên một bịnh diện khá mới và khác biệt.

Giữa lúc tôi đang lo giảng day và thảo luận loại triết học mà tôi đã phác họa, tôi được ủy nhiệm để viết về tiểu sử của Karl Marx. Những quan điểm triết của Marx đối với tôi chưa bao giờ là đặc biệt nổi bật hoặc đáng chú ý. Nhưng việc nghiên cứu quan điểm của ông dẫn đưa tôi tới việc tra cứu những triết gia tiên phong đi trước Marx, đặc biệt là những triết gia (nguyên văn: philosophes) Pháp của thế kỷ thứ 18 - những đối thủ đầu tiên có tổ chức chống lại tinh thần giáo điều, tinh thần truyền thống, tôn giáo, lòng mê tín dị đoan, sự ngu muội, sự đàn áp. Tôi thán phục trách vụ to lớn mà các nhà tư tưởng của học giới Bách Khoa (nguyên văn : Encyclopédie) đã tư ý thi hành, và công trình to lớn mà mà họ đã làm để giải thoát con người ra khỏi tăm tối - của giáo quyền, của siêu hình học, của chính trị và những lãnh vực đại loại như vậy. Mặc dù kết cuộc tôi không đồng ý với một vài cốt loi tư tưởng căn bản của họ nhưng tôi không bao giờ đánh mất lòng kính phục và tinh thần liên đới của tôi đối với Thời Bừng Sáng đó. Ngoài quan điểm thiển cận trong thực nghiệm luận của họ – điều mà tôi bình phẩm là một vài he quả của nó, cả về phương pháp luận lý và xã hội - tôi còn khám phá ra rằng học thuyết của Marx, và của những đệ tử của ông một phần phát xuất từ những xác quyết của Thời Bừng Sáng của thế kỷ thứ 18.

2. Lịch sử các tư tưởng và lý thuyết chính trị

Trong thời kỳ chiến tranh tôi làm việc với tư cách một công chức của Anh quốc. Khi tôi trở về lại Oxford để giảng dạy môn triết, tôi ưu tư đến hai vấn đề trọng tâm. Điều thứ nhất là nhất nguyên luận - luận án trọng điểm của triết học Tây Phương từ Plato cho đến ngày nay - và điều thứ hai là ý nghĩa và việc áp dụng của ý niệm tự do. Tôi cống hiến rất nhiều thời gian cho mỗi đề luận. Và chúng đã uốn nắn tư tưởng của tôi trong nhiều năm dài sau này.

Nhất nguyên luận

Say mê vì những thành công ngoạn mục của ngành khoa học vạn vật ngay trong thế kỷ của họ và của những vị tiên phong, những người như Helvetius, Holbach, d’Alembert, Condillac, và những nhà truyền thông đại chúng thiên tài như Voltaire và Rousseau, tin rằng nếu khám phá ra một phương pháp thích hợp thì có thể phát hiện được căn bản chân lý trong lãnh vực xã hội, chính trị, đạo đức, và đời sống cá nhân - loại chân lý đã đạt được nhiều thành quả vẻ vang trong những công trình tra cứu thế giới bên ngoài. Nhóm Bách Khoa tin tưởng chỉ có phương pháp khoa học là chìa khóa duy nhất để đạt đến sự hiểu biết trên. Rousseau và một số người khác tin tưởng vào những chân lý vĩnh cửu được măc khải do những quan sát nội tâm. Nhưng cho dù họ khác nhau, họ thuộc vào một thế hệ có tinh thần đoan quyết rằng họ đang trên con đường tìm kiếm ra giải đáp cho những vấn đề đã làm phiền toái nhân loại ngay từ thuở sơ khai.

Có một luận đề phổ cập hơn. Đó là nguyên do của xác tín này : để giải đáp cho tất cả những câu hỏi chân thực thì luôn có một câu trả lời chân thực và chỉ có một mà thôi, tất cả những câu trả lời khác đều sai bằng không thì những câu hỏi này không thể nào là những câu hỏi chân thực.

Phải có một con đường dẫn hướng chỉ lối cho những nhà tư tưởng sáng suốt tìm ra những câu trả lời thích ứng trong môi trường đạo đức, xã hội và chính trị cũng như trong phạm vi khoa học vạn vật, cho dù sử dụng cùng một phương pháp hay không. Và khi tất cả những câu trả lời đích xác cho những câu hỏi có chiều sâu nhất về đạo đức, về xã hội và chính trị chi phối (hoặc sẽ chi phối) nhân loại được gom góp lại, sẽ có kết quả đại biểu cho lời giải đáp rốt ráo cho tất cả những vấn nạn của cuộc sống. Lẽ cố nhiên, chúng ta có lẽ sẽ chẳng bao giờ đạt đến những lời giải đáp đó. Bởi vì nhân thế có lẽ quá bối rối vì những cảm tính của mình, hoặc quá ngu xuẩn, hoặc thiếu may mắn để có thể tìm ra những giải đáp hoặc những câu hỏi có lẽ quá khó, phương tiện có lẽ thiếu thốn, kỹ thuật quá phức tạp để tìm ra. Nhưng dù thế nào đi nữa, nếu các câu hỏi chân thực được đặt ra, những lời giải đap chắc chắn phải có. Nếu chúng ta không biết, có lẽ con cháu chúng ta sẽ biết. Hoặc có thể những vị tiên hiền thời thượng cổ biết. Và nếu họ không biết, có thể ông Adam (A-dong) ở trên Thiên Đàng biết. Hoặc nếu ông không biết thì các thiên thần phải biết. Và nếu các thiên thần không biết, Thượng Đế phải biết những lời giải đáp phải nằm nơi đó.

Một khi khám phá được những giải đáp cho những vấn đề xã hội, đạo đức và chính trị thì, do bản chất của con người - chân lý, con người không thể nào không theo, vì họ không có chiều hướng làm khác đi. Và như vậy một cuộc sống toàn hảo có thể được mường tượng. Thế giới này có thể không đạt đến được, nhưng trên nguyên tắc ý niệm này có thể tạo dựng được. Khả năng khám phá những lời giải đáp duy nhất chân thực cho những câu hỏi cao xa, trên nguyên tắc, đáng được tin cậy.

Lòng tin cậy này chắc chắn không giới hạn nơi các nhà tư tưởng của Thời Bừng Sáng, mà còn ở nơi những nhà tư tưởng khác mặc dù phương pháp đề nghị của họ có phần khác biệt. Plato tin tưởng khoa toán học là con đường đi đến chân lý. Aristote có thể cho là sinh vật hoc. Người Do Thái và tín đồ Ki-tô-giáo tìm lời giải đáp trong những sách thánh, chiếu theo những lời giảng dạy của các bậc thầy được ơn trên soi sáng và dựa theo viễn kiến của các huyền sư. Những người khác tin rằng những phương pháp trong phòng thí nghiệm và phương pháp toán học có thể giải đáp một số điều. Và cũng có người khác tin, giống như Rousseau, rằng chỉ có tâm hồn vô tư của con người, đứa bé không nhiễm tội lỗi, người nông dân đơn sơ mới đạt được chân lý - hơn là những nhóm dân đồi trụy của những xã hội tàn phá bởi nền văn minh. Nhưng có một điều mà mọi người đồng ý, cũng như các người kế vị của họ sau Cách Mạng Pháp - nhưng có lẽ họ nghĩ rằng chân lý khó đạt được hơn là các vị tiền bối (2) đã ngây thơ và lạc quan nghĩ trước đây là các định luật phát triển lịch sử có thể được / cho đến nay đã được khám phá. Và tat cả các lời giải đáp cho những câu hỏi làm thế nào để song và làm cái gì - vấn đề đạo đức, đời sống xã hội, tổ chưc chính trị, những mối liên hệ cá nhân - thì cho dù nó có thế nào đi nữa cũng có thể được sắp đặt tổ chức theo sự soi sáng của các chân lý được khám phá do những phương pháp đúng đắn.

Đây là một lưu truyền triết học (philosophia perennis)- những gì con người, các nhà tư tưởng, đã tin nhận kể từ thời tiền Socrate cho đến tất cả những nhà cải cách và nhà cách mạng vào thời đại của chúng ta. Đó là một xác tín trọng tâm mà tư tưởng con người đã trụ lại từ hai thiên niên kỷ nay. Vì nếu không có những giải đáp chân thực cho những câu hỏi, làm sao sự hiểu biết có thể truyền đến các tỉnh lỵ được? Đây là trọng điểm của luận lý và tâm linh Âu Châu đã được tư duy từ nhiều thế hệ. Cho dù con người có khác biệt nhau bao nhiêu đi nữa - dù văn hóa có khác biệt, dù quan điểm đạo đức và chính trị có khác biệt – và cho dù có một số khác biệt to lớn về tín điều, về tôn giáo, về quan điểm đạo đức, về tư tưởng thì chung quy phải có ở đâu đó một giải đáp chân thực cho những câu hỏi thâm sâu nhất đã làm nhân loại ưu tư.

Tôi không hiểu tại sao tôi luôn hoài nghi lòng xác tin hầu như phổ cập hoàn vũ này, nhưng đó là sự thực. Có thể là một vấn đề thuộc về tính khí, nhưng tính tôi là như vậy.

Giambattista Vico

Điều làm cho tôi ngạc nhiên trước tiên là việc tôi khám phá ra những tác phẩm của một nhà tư tưởng Ý-đại-lợi trong thế kỷ 18 : ông Giambattista Vico. Ông là triết gia đầu tiên, theo nhận xét của tôi, đã nhận thức được ý niệm của những nền văn hóa. Ông Vico muốn tìm hiểu bản chất của kiến thức lịch sử, của chính lịch sử : quả thật quá là tiện lợi khi ta trông cậy vào khoa học vạn vật để giải thích thế giới bên ngoài. Nhưng tất cả những gì khoa này cung cấp cho chúng ta chỉ là một bản tường trình về thể cách của cục đá hoặc của cái bàn hoặc thể cách của những vì sao hoặc của những phân tử. Chúng ta mong hiểu biết con người sống như thế nào, và điều này có nghĩa là chúng ta mong hiểu biết những động lực, những nỗi ưu tư và niềm hy vọng, những khát vọng, lòng yêu thương và lòng thù ghét của họ - họ nguyện cầu ai, họ phô diễn như thế nào qua thi văn, qua nghệ thuật, qua tôn giáo. Chúng ta có khả năng làm được điều này vì chính chúng ta là người, và thâm hiểu cuộc sống nội tâm của chính ban thân ta trong những trạng huống đó. Chúng ta biết cục đa hoặc cái bàn phản ứng ra sao vì chúng ta biết quan sát nó và chúng ta đặt ra những ức đoán và chúng ta kiểm chứng. Nhưng chúng ta không thể biết tại sao cục đá mong được hiện hữu như nó đang hiện hữu - thực ra chúng ta nghĩ rằng nó không có khả năng để mong ước, để ý thức bất cứ điều gì. Chúng ta biết rõ tại sao chúng ta hiện hữu, những gì chúng ta tìm, những gì làm cho chúng ta ấm ức, những gì diễn tả những cảm xúc và lòng tin thầm kín nhất của chúng ta. Chúng ta hiểu biết rõ bản thân của chúng ta hơn là hiểu biết về những cục đá hoặc những giòng nước.

Kiến thức chân chính là kiến thức hiểu biết lý do tại sao vật thể hiện hữu như đang hiện hữu, không chỉ đơn thuần chúng là cái gì. Và càng đào sâu chúng ta càng ý thức được rằng những câu hỏi do những người Hy-lạp thời Homer đặt ra khác biệt với những câu hỏi của người La-mã. Và những câu hỏi do người La-mã đặt ra khác biệt với những câu hỏi vào thời Trung Cổ Thiên Chúa Giáo hoặc vào thời kỳ văn hoá khoa học của thế kỷ thứ mười bảy hoặc vào chính thế ký thứ mười tám của ông Vico. Những câu hỏi khác biệt. Những lời giải đáp khác biệt. Những khát vọng khác biệt.

Việc sử dụng ngôn ngữ, biểu tượng khác biệt. Và những lời giải đáp cho một loạt những câu hỏi không thể giải đáp và không thích ứng với những câu hỏi của những nền văn hoá khác. Lẽ cố nhiên ông Vico là một tín đồ Công Giáo La-mã ngoan đạo, và ông tin rằng chỉ có Giáo Hội (Công Giáo) mới có thể đưa ra những lời giải đáp. Nhưng cho dù thế nào đi nữa, việc này không cấm cản ông phát biểu ý tưởng độc đáo là những nền văn hóa khác biệt nhau.

Những gì quan hệ đối với người Hy-lạp của thế kỷ thứ năm rất khác với những gì quan he với người Da Đỏ hoặc với người Trung Hoa hoặc với một nhà khoa học gia trong phòng thí nghiệm của thế kỷ thứ mười tám. Và do đó viễn kiến của họ khác biệt, và không thể có những giải đáp phổ cập hoàn vũ cho tất cả những cau hỏi của họ. Lẽ dĩ nhiên con người có một bản chất chung. Nếu không thì người của một thời đại này không thể nào hiểu được văn chương hay nghệ thuật của người thời đại khác hoặc, nhất là, những luật lệ của họ, mà ông Vico hieu biết hơn hết vì chính ông là luật gia. Nhưng điều này không ngăn cấm tính cách đa dạng của nghiệm lý văn hóa. Nhờ vậy một loại sinh hoạt nào đó thích hợp với một loại sinh hoạt nào khác trong cùng một nền văn hóa, nhưng không thể nào chia sẻ những mối liên kết chặt chẽ với sinh hoạt song song của một nền văn hoá khác.

J.G. Herder

Sau đó tôi được đọc một nhà tư tưởng xác đáng hơn nữa, đó là triết gia và thi sĩ Đức Johann Gottfried Herder. Herder không phải là người đầu tiên (bậc thầy của ông là ông Johann Georg Hamann được vinh dự đó) phản bác học thuyết của các triết gia Pháp cùng thời cho rằng có những chân lý phổ cập hoàn vũ, vượt thời gian, bất khả nghi vấn, có giá trị cho tất cả mọi người, mọi nơi và mọi thời gian.

Và những khác biệt xuất hiện chỉ tại vì sai lầm và ao tưởng, bởi vì chân lý chỉ có một và phổ cập hoàn vũ - "quod ubique, quod semper, quod ab omnibus creditum est" (3).

Herder tin rằng văn hóa khác cung cấp lời giải đáp khác cho những câu hỏi quan trong của họ. Ông ta chú tâm để ý đến nhân phẩm, đến đời sống tâm linh nhiều hơn là đến thế giới bên ngoài. Và ong xác quyết rằng những gì là chân lý đối với người Bồ-đào-nha (Portugal) không hẳn là chân lý đối với người Ba-tư (Perse). Ông Montesquieu đã khởi sự đề cập đến điều nay. Nhưng rồi chính ông, mặc dù tin rằng con người được nhao nặn bởi môi trường, bởi cái mà ông gọi là "khí hậu", cuối cùng cũng trở thành một nhà chủ trương phổ cập hoàn vũ tính (universalist) bởi vì ông tin rằng những chân lý đích thực luôn vĩnh cửu, cho dù những lời giải đáp cho những câu hỏi cục bộ và phù phiếm có thể khác nhau. Ông Herder minh xác rằng tất cả mọi nền văn hóa đều có "trung tâm trọng lực" của nó (4). Mỗi một nền văn hoá đều có những điểm quy chiếu của nó.

Không có lý do gì mà những văn hóa này lại tìm cách đánh phá lẫn nhau. Lòng bao dung phổ cập có thể khả dĩ thể hiện. Và việc thống nhất lại la một sự tàn phá. Không gì tệ hại hơn là chủ nghĩa đế quốc. La-mã, vì đã đè bẹp các nền văn hóa bản xứ tại Tiểu Á nhằm mục đích tạo dựng một nền văn hoá La-mã đồng nhất, đã phạm một tội ác.

Thế giới là một vườn hoa rộng lớn trong đó đủ thứ hoa và cây cỏ tăng trưởng, mỗi một thứ theo đường hướng của nó, mỗi một thứ có khát vọng và quyền của nó, có quá khứ và tương lai của nó. Từ đó chúng ta có thể kết luận được rằng cho dù con người có những điểm chung - và lẽ dĩ nhiên, thêm một lần nữa, có cùng một bản chất ở một mức độ nào đó - không thể có những câu giải đáp xác thực mang tính phổ cập hoàn vũ.

Ông Herder là cha đẻ của chủ nghĩa văn hóa quốc gia. Ông không phải là người theo chủ nghĩa chính trị quốc gia (loại chủ nghĩa quốc gia này không được khai triển vào thời của ông). Nhưng ông tin vào sự độc lập của những nền văn hóa và nhu cầu bảo tồn từng nền văn hóa vì tính cách duy nhất của nó. Ông tin rằng khát vọng thể nhập vào một nền văn hóa, điều tạo nên sự đoàn kết của một nhóm, của một tỉnh lỵ hoặc của một quốc gia, là một nhu cầu căn bản của con người. Nó sâu đậm như khát vọng muốn ăn, muốn uống, muốn tự do. Và nhu cầu này - nhu cầu thể nhập vào một cộng đồng trong đó quý vị hiểu người khác nói gì, nơi đó quý vị có thể đi lại tự do, nơi đó quý vị có những mối liên kết tình cảm cũng như liên ket kinh tế, xã hội và chính trị - là căn bản của cuộc sống phát triển và trưởng thành của con người. Ông Herder không phải là người theo học thuyết tương đối, mặc dù ông thường bị mô tả như vậy. Ong tin rằng có những mục tiêu căn bản của con người và những nguyên tắc hành xử. Nhưng chung có những hình thái hoàn toàn khác biệt cho mỗi nền văn hóa. Và vì vậy, có thể có nhiều suy loại, nhiều đồng dạng, khiến cho một văn hóa nọ thông hiểu văn hóa kia. Nhưng những nền văn hóa không thể nào hòa nhập với nhau được. Nhân loại không phải là nhất diện mà là đa diện. Và những lời giải đáp cho những câu hỏi cũng đa dạng mặc dù có thể có một cốt lõi trọng tâm cho tất cả những giải đáp đó và chỉ là một mà thôi.

Trường phái Lãng Mạn và những hậu duệ

Ý niệm này được các vị theo học phái Lãng Mạn khai triển thêm. Họ phát kiến một điều hoàn toàn mới lạ và trái khoáy. Họ cho rằng lý tưởng không phải là những chân lý đã được ghi sẵn trên thiên đình và con người cần phải hiểu biết và sao chép, thực hiện. Nhưng những chân lý đó do con người tạo dựng. Giá trị không phải tự nhiên tìm thấy được, nhưng được xây dựng. Không phải được khám phá ra, nhưng được cấu tạo. Đây là nhưng điều mà một vài vị theo học phái Lãng Mạn Đức tin tưởng vững chắc. Nó trái ngược với khuynh hướng khách quan chủ nghĩa, khuynh hướng phổ cập hoàn vũ luận của học phái hời hợt Pháp.

Duy nhất tính là quan trọng. Mot thi sĩ Đức trước tác một thi văn bằng tiếng Đức. Trong môi trường ngôn ngữ này, khi biên soạn, đương sự sáng tạo ở một mức độ nào : đương sự không chỉ đơn thuần là một người viết thi văn. Người nghệ sĩ Đức là người sáng tac những bức họa, những thi văn, những vũ điệu Đức. Và trong các nền văn hóa khác cũng tương tự như vậy. Một nhà tư tưởng Nga, ông Alexander Herzen, có một lần kia tự hỏi : "Bài hát ở đâu trước khi nó được hát ?" (5). Ở đâu vậy ? "Không ở đâu cả" là câu trả lời - một cá nhân sáng tạo bài hát khi hát nó, khi biên soạn ra nó. Và cũng như vậy đời sống được sáng tạo bởi những ai sống nó, từng giai đoạn một. Đây là một lối diễn giải mỹ thuật của vấn đế đạo đức và cuộc sống.

Đây không phải là một viec áp dụng những khuôn mẫu muôn thuở. Sáng tạo là tất cả.

Từ nhận thức này đã nẩy sinh ra đủ loại phong trào - chủ nghĩa vô cơ cấu, chủ nghĩa Lãng mạn, chủ nghĩa quốc gia, chủ nghĩa phát-xít, chủ nghĩa tôn thờ anh hùng. Tôi tự tạo cho tôi những giá trị, có thể một cách vô ý. Và mặt khác, ai là "Tôi ?". Đối với trường phái Lãng mạn của Byron, "Tôi" là một cá nhân, một kẻ ngoại biên, một kẻ phiêu lưu, một kẻ sống ngoai vòng pháp luật, kẻ muốn thách thức xã hội, chấp nhận giá trị và theo những giá trị riêng của mình - có thể đưa y đến sự hủy diệt, nhưng còn hơn là sự tòng thuận, nô lệ cho sự tồi dở. Nhưng đối với những nhà tư tưởng khác, "Tôi" trở nên một thực thể vượt qua cả siêu hình tính. Đó là một tập thể - một quốc gia, một giáo hội, một đảng, một giai cấp, một cấu trúc trong đó tôi chỉ là một viên đá, một cơ chế mà tôi chỉ là một phần tử nhỏ sinh động. Đó là đấng sáng tạo. Bản thân tôi chỉ có giá trị trong chừng mực tôi thể nhập vào phong trào, vào chủng tộc, vào quốc gia, vào giai cấp, vào giáo hội. Cá nhân đích thực của tôi không có nghĩa lý gì trong phạm vi siêu cá thể đó mà mạng sống của tôi gắn liên với nó một cách hữu cơ.

Từ đó phát sinh ra chủ nghĩa quốc gia Đức : tôi thực hiện điều này không phải vì nó đúng hay nó sai hoặc là vì tôi thích nó - tôi làm điều này vì toi là người Đức và đây là cách sống của người Đức. Và chu thuyết hiện sinh tân thời cũng y như vậy - tôi làm như vậy vì, tự bản thân tôi, tôi chấp nhận lối sống như vậy. Khong có gì ép buộc tôi. Tôi không làm điều đó vì điều đó là một mệnh lệnh khách quan mà tôi phải tuân theo, hoặc đó là những nguyên tắc phổ cập hoàn vũ mà tôi phải tùng phục. Tôi làm điều đó vì tôi tự tạo cuộc sống của tôi. Hiện hữu như tôi hiện hữu, tôi điều khiển cuộc sống của tôi và tôi đảm nhiệm cuộc sống đó. Việc khước từ những giá trị phổ cập, tinh thần thái quá tự nhận, đứng trên hết mọi yếu tố, mình là một thành tố của một siêu bản ngã và trung thành với một siêu bản ngã này, là một giai đoạn nguy hiểm trong lịch sử Au Châu. Và nó đã dẫn đến một sự cố quan trọng đã đem lại điêu tàn và rùng rợn cho thời buổi hiện đại. Đây là đầu giây mối nhợ của những nghien ngẫm và chủ thuyết chính trị của thời kỳ sơ khai học phái Lãng Mạn Đức và những môn đệ tại Pháp và những nơi khác (6).

Tôi chưa hề bao giờ chấp nhận ý niệm về những siêu ngã này. Nhưng tôi phải công nhận tầm quan trọng của ý niệm này trong tư duy và hành động hiện đai. Những khẩu hiệu như "Không vì tôi nhưng vì Đảng", "Không vì tôi nhưng vì Giáo Hội", "Nước tôi dù phải hay trái vẫn là nước tôi" đã gây tổn thương cho lòng thâm tín của tư tưởng con người như tôi đã phác thảo những đường nét chính ở trên - lòng tin rằng chân lý có tính cách phổ cập hoàn vũ, có tính cách hằng cửu cho mọi người và ở mọi nơi. Thể nhân không phải là một món vật nhưng là một chủ thể, một thần khí luôn chuyển động, tự tạo, một vở bi kịch tự diễn qua nhiều màn. Và theo Marx, thể nhân này rốt cùng đạt đến một sự toàn hảo nào đó. Tất cả những luận điểm này đều phát xuất từ cách mạng Lãng Mạn. Cùng lúc tôi phủ nhận hoàn toàn lý giải siêu hình vĩ đài này về cuộc sống con người. Tôi vẫn là con người của thực nghiệm. Và tôi chỉ hiểu biết những gì tôi có thể cảm nhận qua kinh nghiêm, hay là tôi nghĩ rằng tôi cảm nhận. Và tôi không thể nào tin sự hiện hữu của những bản thể siêu ngã. Tuy nhiên tôi phải ghi nhận rằng vấn đề này đã tạo nên một ấn tượng nào đó trong tâm não của tôi, theo diễn cảnh sau đây.

(Còn tiếp một kỳ)

Isaiah Berlin

Nguyễn Gia Thưởng chuyển ngữ (Brussels)

© 1998, The Isaiah Berlin Literary Trust and Henry Hardy

- http://berlin.wolf.ox.ac.uk/lists/translations/index.html

‘Con Duong Tri Thue Cua Toi’, trans. Nguyen Gia Thuong, in Thong Luan 16 no. 174, October 2003, 21–6 [part 1] and Thong Luan 16 no. 175, November 2003, 22–7 [part 2]

Ghi chú của tác giả :

(1) Tham khảo sách Concepts and Categories: Philosophical Essays (Ý niem và Phân loại : Tham luậnTriết học), Viking, 1979.

(2) Fourier, một người tiên phong chủ trương chủ nghĩa xã hội, và Saint- Simon đều tin tưởng vào một xã hội có mô hình tổ chức khoa học. Đối với Saint-Simon, xã hội này được lãnh đạo bởi các chuyên viên ngân hàng và các nhà khoa học, và được thôi thúc bởi các nghệ sĩ và các nhà thơ. Những người kế vị của họ là đảng viên xã hội Pháp, như là Cabet, Pecqueur, Louis Blanc, và tên khủng bố Blanqui và cuối cùng là Marx và Engels cùng những môn sinh.

(3) "Những điều được mọi người luôn tin ở mọi nơi", (Vincent of Lérins, Commonitorium 2.3.).

(4) Herders, Sammliche Werke, do Bernhard Suphanxuất bản, Berlin, 1877-1913, Vol. 5, tr. 509.

(5) Xem A .I. Gersten, Sobranie sochinenii v tridsatitomakh, Moscov, 1954-1966, Vol. 6, tr. 33 và 335.

(6) Học phái Lãng Mạn nhận định rằng ý niệm về những trung tâm tự vận hành của sinh hoạt lịch sử, tiến hành theo nhịp độ vận chuyển của chính nó. Ý niệm này hoàn toàn khách quan. Đây là những bản thể tự quyết – dù đó là những biểu tượng kiểu Byron, có tính quỷ quái khai chiến với xã hội, hay là những anh hùng quy tụ xung quanh mình những nhóm môn đệ (bọn trộm cướp, trong vở kịch của Schiller) hoặc là cả nước (Lycurgus, Môi-se, những vị khai lập quốc mà Machiavelli ngưỡng mộ vô cùng và đối với ông chắc chắn có những tương ứng với thế giới hiện đại) - được tự tạo để thích hơp với những khuôn mẫu tạo dựng một cách tự do. Quan điểm này hoàn toàn trái ngược với quan điểm của các nhà tư tưởng như Hegel và Marx.

Vì những vị này dạy rằng - mỗi người theo kiểu của mình - tiến bộ phải phù hợp với những nguyên tắc sắt thép của phát triển lịch sử - cho dù là phát triển về vật chất đối với Marx, hay là phát triển về tinh thần đối với Hegel. Chỉ với điểu kiện này, việc khai phóng những năng lực của con người để thoát khỏi những khuynh hướng vô luận lý tính mới được thực hiện. Và một thể chế được xây dựng trên sự công bằng toàn diện, trên tự do, trên đạo đức, trên hạnh phúc và trên sự tự phát hài hoà. Ý niệm về bước tiến không thể suy xuyển này thừa hưởng của truyền thống Do-thái và Ky-tô-giáo nhưng đã vứt bỏ đi những ý niệm về ý lực của đấng linh thiêng đã được ghi khắc hoặc là Ngày Phán Xét Cuối Cùng của nhân loại, việc phân loại giữa những con chiên ngoan và những con dê ghẻ - đuợc thực hiện sau khi chết.