Cha danh 38 - 300 cây số bằng Vespa (Phạm Ngọc Lân)

Lượt xem: 335

“…Hai người cùng lứa tuổi, cùng hoàn cảnh gia đình, cùng được học hành, sao một người chạy Vespa phom phom trên đường đi thăm người yêu, người kia phải nằm bờ nằm bụi với cây súng hộ thân, không biết sống chết lúc nào?...” 

Phần đông những người may mắn chưa khi nào phải nếm mùi bom đạn thường tự hỏi làm cách nào người dân Việt Nam có thể sống được trong thập niên 60 với tình trạng chiến tranh liên tục như thế. Có thể trả lời là họ không « sống » bình  thường, mà chỉ « sống còn »,  nghĩa  là  cố gắng làm thế nào để « không chết » thôi ! Một cách trả lời khác, có thể mượn một câu tiếng Pháp trong một bài hát nổi tiếng năm 1961, « On s’habitue, c’est tout...! », « Người ta phải quen dần, thế thôi...!»(1)

Đó cũng là câu trả lời của Long khi được phỏng vấn năm 1985 tại Paris trong một cuốn phim tài liệu về chiến tranh của Yves Montand, một trong những ca sĩ và tài tử điện ảnh hàng đầu của Pháp. Mục đích cuốn phim này là đánh động dư luận Pháp về hiểm họa một cuộc chiến có thể xảy ra tại Âu Châu lúc đó giữa hai khối đối nghịch nhau, một bên là các nước tây phương sống trong cảnh tự do có khuynh hướng quên đi là ngay cạnh mình có khối cộng sản do Liên Xô cầm đầu đang tăng cường trang bị vũ khí, lúc nào cũng sẵn sàng để áp đặt chủ nghĩa cộng sản lên toàn thế giới bằng bạo lực nếu cần.

Và mở đầu cho cuốn phim dài hơn một tiếng đồng hồ này là một cuộc phỏng vấn hai nhân chứng 40 tuổi, một người sống 40 năm trong hòa bình (một người Pháp) và một người sống 40 năm trong chiến tranh (một người Việt Nam)(2).

Thật là cay đắng khi phải nói là người ta có thể làm quen với cảnh chiến tranh lửa đạn chết chóc hằng ngày, nhưng đó là sự thật phũ phàng. Nếu không « quen » thì làm sao « sống » ? Con người muốn sống không phải chỉ có nhu cầu vật chất như ăn, như uống, như ngủ... mà phải quên đi chiến tranh vì cũng có vui, có buồn, có ghét, có yêu... Và Long đã yêu.

Năm Mậu Thân 1968 là năm chiến tranh tràn về thành phố, kể cả Sài Gòn là thủ đô miền Nam, nhưng người Sài Gòn vẫn có khả năng hàn gắn vết thương, rồi vẫn tiếp tục « phải sống ». Long vẫn tiếp tục học hành dù là có nhiều xáo trộn vì trường ốc có lúc phải tạm đóng cửa, như lúc sinh viên phải qua một khóa huấn luyện quân sự vào tháng 3, và lại đóng cửa vài tuần vào tháng 5 khi có cuộc tấn công đợt hai của quân cộng sản. Rồi sau đó Long gặp Mai cũng là do định mệnh an bài, một người ở Sài Gòn, một người ở Đà Lạt, « một người về đỉnh cao, một người về vực sâu » như lời một bài hát thịnh hành thời đó(3). Thư từ trao đổi qua lại, mối tình nảy nở một cách tự nhiên giữa hai tâm hồn đồng cảm. Thư càng ngày càng nhiều, dần dần mỗi ngày mỗi viết, đôi khi nhiều lần trong ngày, dồn lại mấy ngày hay một tuần gửi một lần. Sau này đọc lại, tập thư giống như một loại nhật ký, vì bên cạnh những tâm sự riêng tư, thư còn nói đến bạn bè, gia đình, cuộc sống... Và khi đi Pháp, chồng thư cũ được sắp xếp lại, lá thư lấy ra khỏi bao và đóng lại thành 6 tập theo thứ tự thời gian đem theo vừa là một kỷ niệm vô giá của hai vợ chồng, vừa là một tài liệu ghi lại nhiều sự kiện xảy ra trong một quá khứ nhiều gay go thử thách. Tháng 6-1968, Long thi ra trường Dược Khoa, thời đó còn theo lối thi cử của Pháp, thi vấn đáp hai đợt gọi nôm na là « Def. 1 » và « Def. 2 » (viết tắt của « Définitif » nghĩa là « tối hậu »), giám khảo xét lại tất cả kiến thức thu thập được trong 5 năm học. Và ngày 16 tháng 8, Long chính thức trở thành một dược sĩ khi kết quả được công bố, rồi đến ngày 31-8-1968 là lễ phát bằng. Tất cả những chi tiết về ngày tháng đều có trong tập thư trao đổi với Mai.

Tuy đã tốt nghiệp, Long cũng chưa được nghỉ ngơi vì còn các chứng chỉ bên Đại Học Khoa Học phải thi, nên mùa hè năm đó là lúc thời gian bù đầu với chuyện học hành thi cử. Trong suốt thời gian này Mai là chất xúc tác rất hiệu nghiệm của Long. Ba chứng chỉ Toán Thuật Trong Vật Lý, Vật Lý Lý Thuyết và Điện Tử, chàng đều đậu không khó khăn lắm, và qua thư Long cảm thấy Mai rất hãnh diện về người yêu! Riêng Cơ Nhiệt là chứng chỉ Long « chắc ăn » nhất, nên để qua kỳ 2 vào tháng 9 mới thi, vì không thể ôm đồm thi tất cả trong kỳ 1 tháng 6 được. Không ngờ bà Marchand dạy phần Cơ về nghỉ hè bên Pháp, tháng 9 không qua kịp để cho thi, ông thầy dạy Nhiệt cho đề thi, chắc là không liên lạc với bà thầy dạy Cơ nên cho cái đề chẳng ăn nhập gì đến những điều bà ấy dạy trong năm. Cuối cùng Long rớt, và không xong được cái Cử Nhân Giáo Khoa Vật Lý như mong đợi, dù đã đậu tất cả các chứng chỉ khác.

Đây là lần đầu trong đời Long bị một « cú đau » như thế, vì trong năm học chứng chỉ Cơ Nhiệt chàng là sinh viên xuất sắc nhất, bà thầy dạy tiếng Pháp nên chàng còn giúp các bạn khác khi họ có vấn đề không thông hiểu Pháp văn. Vậy mà vẫn rớt! « Học tài thi phận » chăng ? Cho đến lúc đó chàng không tin như thế, chỉ tin vào sức mình và công mình bỏ ra để chuẩn bị cho kỳ thi, nhưng lần này lòng tin bắt đầu chao đảo. Hơn nữa rớt kỳ này thì không biết chừng nào mới học và thi lại được, vì đã học xong bên Đại Học Dược Khoa là không còn được hoãn dịch nữa, qua năm sau đã phải nhập ngũ vì lệnh động viên có từ khi bắt đầu chiến tranh lan rộng. 

phamngoclan32
Lễ phát bằng Dược Sĩ 31-8-1968 –
 Thầy Nguyễn Văn Trang trao bằng

Không phải lần đầu Long thất bại trong việc học hành, nhưng những lần trước chàng biết rõ là do chính mình gây ra, và đã chuẩn bị tinh thần theo chiều hướng đó. Như khi thi tú tài 2, chàng chỉ đậu mà không có thứ hạng gì cả, làm cho nhà trường thất vọng vì vẫn tin tưởng vào chàng, nhưng suốt năm chàng trải qua một cơn khủng hoảng, chẳng còn thiết làm gì nữa, nên đối với chàng, đậu được là may rồi. Khi lên đại học, hai năm đầu còn hăng hái vì bước vào một cuộc sống mới hoàn toàn khác lạ với cuộc sống trong nội trú của một trường dòng, nhưng qua năm thứ ba, phần vì chàng phải học những môn mà chàng không ưa thích, nhưng quan trọng hơn là phần vì xáo trộn chính trị làm nản chí những ai muốn học hành tới nơi tới chốn, chàng đã buông xuôi định bỏ học luôn, may mà sau nghĩ lại thương mẹ cần chàng giúp gia đình nên mới học lại năm thứ ba cho tới khi ra trường.

Nhưng những cái không hay đến trong đời thường là những bài học quý giá nếu mình biết tỉnh táo để nhận diện ra nó. Bài học mà Long rút ra được khi lần đầu bị thi rớt một cách bất ngờ là trong đời không thể nào mãi mãi thành công. Với tuổi tác thì chuyện này xem như đương nhiên, nhưng khi còn trẻ thì phải bị « đau » mới « ngộ » ra được điều này!

Tất cả những vui buồn này, Long đều tâm sự với Mai trong những lá thư lên Đà Lạt xuống Sài Gòn. Từ đó tình yêu nảy nở một cách tự nhiên, nhưng khi hai người thực sự nghĩ đến chuyện xây dựng một tương lai chung thì không còn « tự nhiên» được nữa, vì cái « tương lai chung » đó chẳng phải dễ dàng mà xây dựng, vì còn liên hệ đến bao nhiêu người khác. Đầu tiên là mẹ Long, bà vẫn mong con trai lớn của mình học thành tài rồi đi làm có tiền giúp đỡ gia đình, một gia đình nghèo vì quá đông con. Nên Long cũng hiểu là bà buồn khi Long cho biết đã yêu một người và có ý định lấy người đó làm vợ. Bà biết là Long theo tây học, thấm nhuần quan niệm tây phương về gia đình là khi đã khôn lớn phải tự tạo cuộc sống riêng với vợ con, không còn lệ thuộc vào cha mẹ, không để vợ mình phải làm dâu như trong tập tục Việt Nam. Bà biết là con bà rất cứng cỏi trong chuyện này, dù có thương mẹ đến đâu cũng sẽ làm theo ý mình mà thôi.

Trước nỗi buồn của mẹ, Long chỉ biết nói là sẽ cố gắng chờ thêm vài năm nữa trước khi lập gia đình. Nhưng nói là một chuyện. Khi tình yêu đến có phải do mình quyết định không? Mà khi hai người đã thực sự yêu nhau thì có thể nào kéo dài thời gian trước khi lấy nhau không? Trong trường hợp của Mai, chuyện này lại càng khó hơn nữa. Nàng là con gái lớn trong gia đình, cha mẹ mong sớm gả chồng để cho các em theo gương chị, Long có thể nào bắt Mai chờ nhiều năm nữa không? 

Thật là khó để Long lấy một quyết định.

Về phía gia đình của Mai, trở ngại mang một sắc thái đặc biệt hơn, và cũng khó vượt qua hơn. Gia đình cả hai bên nội ngoại của Mai phần đông đã đi kháng chiến chống Pháp, dù sau này nhiều người trở về thành phố vì khám phá ra là đảng cộng sản Việt Nam càng ngày càng chịu thêm sự chi phối nặng nề của đảng cộng sản Trung Quốc để áp đặt chế độ cộng sản lên đất nước Việt Nam, song song với việc kháng chiến chống Pháp. Bằng cớ là các cố vấn Tàu đã có mặt để chỉ đạo cuộc Cải Cách Ruộng Đất đẫm máu bắt đầu từ năm 1953 tại các vùng do Việt Minh kiểm soát, nghĩa là trước khi chiến tranh chấm dứt và đất nước bị chia cắt năm 1954.

Theo tuyên truyền của Việt Minh thời đó, tụi con trai lai Pháp là những thành phần nguy hiểm nhất, vì thường hoạt động trong ngành mật thám Pháp, nếu không thì cũng là những tai mắt chỉ điểm của Pháp chống lại kháng chiến. Vẫn theo tuyên truyền này thì càng phải tránh xa bọn Tây lai vì chúng nó chuyên đi dụ dỗ con gái nhà lành để cuối cùng chỉ muốn phá hoại đời người ta mà thôi. Tuyên truyền này dựa vào những chuyện có thật, nhưng từ đó tổng quát hóa ra tất cả thành phần con lai Pháp đều như thế thì thật là vô căn cứ, rất oan uổng vì đa số những người con lai như Long chỉ muốn tìm một cuộc sống bình thường, nhưng không phải dễ mà được sống bình thường trong một xã hội đầy kỳ thị.

Dĩ nhiên chuyện Việt Minh tuyên truyền là trong thập niên 40 và 50 cho tới năm 1954 là lúc không còn người Pháp cai trị nữa, nên thế hệ của Long cũng đã bớt phải chịu ảnh hưởng của tuyên truyền đó. Nhưng những người như ông cụ thân sinh của Mai đã từng tham gia kháng chiến thì vẫn còn trong đáy lòng một ấn tượng không tốt đẹp về con lai Pháp. Ông không hiểu được tại sao ở Đà Lạt có nhiều người đàng hoàng tử tế thương con mình, những người này có gia đình sống ở ngay Đà Lạt mình biết rõ, mà con mình lại đi thương một tên Tây lai ở tận Sài Gòn, chẳng biết gia đình ra sao! Làm sao biết nó có thực tâm không, hay chỉ muốn dụ dỗ con mình? Làm sao biết nó không có bồ bịch ở Sài Gòn hay con rơi con rớt đâu đó?

Long nhớ lại những người con gái chàng đã gặp trong suốt thời gian học đại học, bạn học cũng có, bạn văn nghệ cũng có. Nhiều người thuộc gia đình danh giá, phần đông gia đình cũng « thường thường bậc trung », nhưng tất cả đều là « con nhà lành ». Đã nhiều lần chàng nghe con tim rạo rực khi tiếp xúc với một người nào đó, và đôi khi chàng cũng cảm thấy có sự đáp ứng, nhưng vẫn chỉ là tình cảm thầm kín của chàng mà thôi. Chàng tự hỏi nếu chàng tỏ tình và ngỏ ý đi đến hôn nhân thì kết quả sẽ ra sao? Chắc chắn sẽ thất bại ê chề vì gia đình những người con gái đó sẽ không chấp nhận một tên Tây lai, hơn nữa lại là « cha vô danh » như chàng. Ký ức chàng còn in sâu câu chuyện đau lòng của mẹ chàng không lấy được người mình yêu, dù hai người yêu nhau tha thiết, chỉ vì gia đình bên kia chê gia đình của mẹ chàng. Việc cưới hỏi trong thế hệ của Long vẫn còn mang nặng yếu tố gia đình, nên chàng không khi nào mơ tưởng viển vông, dù biết mình cũng có những đức tính để gây dựng một cuộc sống hạnh phúc với vợ con.

Và bây giờ với gia đình của Mai, chàng nghiệm lại được là những dè dặt của chàng trước đây là đúng. Chỉ có điều là trong trường hợp cụ thể này, chàng có « quý nhân phù trợ » - và có lẽ vì duyên số đã đến – nên dần dần vượt qua được các rào cản của thành kiến. Đầu tiên mẹ của Mai lúc đó làm thư ký của trường Adran là nơi chàng học ngày xưa, nên có dịp để « điều tra » về quá khứ thời học sinh của chàng. Hồ sơ giấy tờ bà tìm lại được để thấy là một học trò chuyên cần, và những thầy cũ của Long bà còn gặp được đều khen hạnh kiểm của chàng. Đặc biệt lời khuyên của một người thầy cũ đã có « sức nặng ngàn cân », đó là Sư Huynh Pierre Trần Văn Nghiêm trước kia là Hiệu Trưởng trường Adran, sau đó là Khoa Trưởng Sư Phạm của Đại Học Đà Lạt. Ông là thầy của Long trước kia và của Mai bây giờ, vì Mai là sinh viên Sư Phạm. Ông hết lời khen ngợi hạnh kiểm của Long.Nhưng có lẽ yếu tố quyết định làm cho cha mẹ của Mai phải chấp nhận là câu tuyên bố « xanh rờn » của nàng : không cho lấy người nàng yêu thì nàng sẽ không lấy ai nữa. Sau hai lần đính hôn không thành vì cá tính mạnh của Mai, cha mẹ nàng không nghĩ là nàng chỉ dọa suông mà thôi...

Tất cả những giằng co này đều có trong các lá thư trao đổi giữa Long và Mai. Nhưng dĩ nhiên nội dung chính của các lá thư là những tâm tình sâu kín khi yêu nhau mà không được gần nhau. Trích một lá thư của Mai:

Mùng 3 Tết (thứ tư 19 tháng 2-1969) Hôm nào em cũng viết cho anh, chả biết anh có như thế không hay Tết vui quá quên em mất rồi? Vừa đọc lại 5 cái thư gần nhất của anh, cái sau cùng từ ngày 12 mà nay đã 19 chưa có thư mới. Mai mốt có ai lên nhớ gửi cho em thật nhiều đấy nhé!

Năm nay chả biết ra sao chứ từ hôm mùng 1 đến nay em hay buồn lắm, chung quy cũng chỉ tại anh, anh không lên được làm em chẳng thiết chuyện gì hết. Lúc nào đông vui cả nhà thì thôi chứ hễ có một mình là em khóc, tủi thân ghê anh ạ. Em thấy như tất cả mọi người đều sung sướng chỉ hai đứa mình là khổ thôi. [...]

Thư cũng ghi lại những câu chuyện vụn vặt liên quan đến mối tình của hai người. Trích thư của Long:

Thứ ba 4-3-69

Em của anh,

Bờ ao lộng gió trong khu đất của cha Trọng (4), với ghế đá, với bóng dừa, với mặt trời đã gần sát ngọn cây, với một người rất yêu đời vì đang ngồi viết cho người yêu, nghĩ đến ngày mai người yêu sẽ vui khi nhận được những tâm tư của mình gửi vào trang giấy, gửi vào tiếng đàn vụng về, gửi vào tiếng hát cũng vụng về không kém... Vụng về nhưng có còn hơn không phải không em! Anh nghĩ vậy nên mới quyết định thu vào băng và gửi cho em nghe. Tự nhiên anh có ý định đó ngày hôm qua, đắn đo suy nghĩ mãi vì từ trước đến giờ chưa khi nào anh thu tiếng hát của mình cả. Vì thu vào sẽ vỡ mộng khi nghe lại tất cả những cái dở của mình, ngược lại khi mình hát ở ngoài thì chỉ thoảng nghe thôi và trong đầu chỉ giữ lại những cái hay mà quên đi những cái dở. Nhưng thôi kệ, anh làm cho em mà...

Thế là sáng nay khi đi dạy học, anh ghé mua cuốn băng cassette, rồi cả buổi chiều hì hục mãi mới thu xong một mặt. Cái máy thu anh mượn của anh L. trong cư xá Đắc Lộ, hẹn đến nhà người bà con anh ấy để thu. Và chiều nay anh vác cây guitare mượn của anh H., đi cùng anh L. đến căn nhà trong hẻm, lên cái gác xép trên lầu đóng hết cửa lại – thế mà vẫn còn nghe tiếng ồn ở dưới, lâu lâu lại có cả tiếng máy bay xa xa – thành ra nóng kinh khủng, phải cởi hết quần áo chỉ mặc quần xà lỏn mà vẫn mồ hôi ướt đẫm! Thu đi thu lại vì cứ bị hỏng, hát khản cả tiếng, hết hơi luôn! Xong chạy đến cha Trọng, cha sắp đi lại bắt cha đợi để anh viết thêm mấy chữ này (5).

[...]

Các bức thư chỉ gửi bằng bưu điện khi không làm khác được, vì thời gian chuyển thư của bưu điện lúc đó đôi khi tùy hứng của nhân viên. Thường thì Long và Mai đều tìm cách gửi tay cho người quen đi từ Sài Gòn lên Đà Lạt hay ngược lại, điển hình là cha Trọng là một giáo sư dạy ở Đại Học Đà Lạt nhưng sống ở Sài Gòn, chỉ lên Đà Lạt định kỳ khi có giờ dạy. Mai là sinh viên của cha nên rất tiện cho việc đưa thư. Ngoài ra nhiều bạn của Long cũng như của Mai đều đã đóng vai “con én đưa thư” vào lúc đó.

Viết hằng ngày như thế nên có khi thư cũng ghi lại những biến cố hãi hùng do chiến tranh gây ra. Trích thư của Mai:

Tối mùng 6 tháng 3-1969, 10 giờ 15

Vừa pháo kích xong, chỉ cách nhà mình có một nhà, có một gia đình bị đạn trúng vào nhà, hình như có bà cụ chết và một đứa bé không biết chết hay bị thương, một người đàn ông gẫy chân. Người ta kêu khóc ầm ĩ thương quá anh ạ. Lúc đó hãy còn sớm, nhà vừa ăn cơm xong, vừa lên đến nhà trên thì nghe tiếng nổ thật khủng khiếp, rồi bao nhiêu đất đá mảnh vụn rơi trên mái nhà nghe rào rào. Tự nhiên em khóc thương cho số phận của con người...

[...] Long rất muốn lên Đà Lạt thăm Mai, nhưng thật là khó khăn chỉ vì vấn đề tài chánh. Gia đình Long thiếu thốn, Long đi dạy kèm cũng kiếm được chút ít nhưng phải phụ giúp cho việc chi tiêu cho cả nhà. Đi Đà Lạt bằng máy bay thì đắt quá, đi xe đò rẻ hơn nhưng lúc đó quốc lộ 20 hay có giao tranh nguy hiểm. Vậy mà có một lúc Long đã dám mạo hiểm. Trích thư của Long:

Cây số 103, 11 giờ kém 15 ngày thứ năm 27-3-1969

Em của anh,
Viết cho em trong một khung cảnh thật đặc biệt. Hông của một nhà thờ, phía trước mặt là một nông trại, bên trái là cây cầu Là Ngà với một dãy xe dài vô tận bên kia cầu, bên phải là... mặt trận.

Anh sang cầu lúc hơn 10 giờ, lúc đó tất cả xe cộ đều bị chặn. Vì anh đi xe Vespa nên len lỏi được đến sát cầu và năn nỉ người lính gác cho đi qua. Họ cho anh qua vì anh là người duy nhất đi xe hai bánh, và họ tưởng là anh ở gần đâu đây. Qua rồi chạy phom phom một mình thật sung sướng, đường không có một xe nào cả.

Nhưng chạy được gần một cây số thì gặp một toán lính chặn lại, một người quát: “Anh điên à, anh có nghe gì không?” Lúc đó mới thấy mấy người lính đang nạp đạn vào một khẩu súng cối nhỏ đặt giữa đường rồi nghe tiếng đạn bắn ra, hòa với nhiều tiếng súng khác xa gần... Sao đang đánh nhau tiếng súng nổ như thế mà anh không đếm xỉa gì đến, vẫn cứ chạy phom phom? Thế mới biết khi trong đầu mình đã có một mục tiêu nhất định rồi thì mọi chuyện khác đều có thể bỏ ngoài tai!

Chắc em cũng tưởng tượng ra cảnh anh vội vã quay xe lại và phóng nhanh như thế nào để tránh cảnh lửa đạn. Trở lại đến gần cầu Là Ngà, thấy ngôi nhà thờ mới, mừng quá! Anh chạy vào dựng xe dưới bóng mát một cây to (trời nóng kinh khủng, em ạ) rồi đi tìm nước rửa mặt. Vào một căn nhà ở gần đấy, gặp một bà nói là bà bếp của cha xứ cho nước rửa mặt và mời anh ly nước trà nóng. Thật chưa khi nào ly trà lại quý như thế! Bà bếp nói cha xứ đi Sài Gòn, chẳng còn ai cả, nhà thờ đóng cửa. Đường bị cắt từ hôm qua vì đánh nhau. Trong lúc nói chuyện, anh thấy trực thăng bắn rocket về phía Định Quán (còn 10 cây số nữa thì đến Định Quán). Rốt cuộc mình vẫn còn hên, vì bên kia cầu cả ngàn người phải ngồi chờ giữa đường nắng chang chang...

Tiếng trực thăng đã dứt, chỉ còn lại tiếng đại bác xa xa vọng về. Hy vọng sắp sửa mở đường cho mình đi, nếu không phải ngủ lại đây thì phiền lắm. Anh kể em nghe đầu đuôi về cuộc hành trình này nhé. Tối chủ nhật trước anh xuống gặp D. vì hôm thứ bảy nó tìm anh hai lần, rủ anh lên Đà Lạt bằng Vespa. Anh nói để anh về suy nghĩ kỹ có thể sắp xếp công việc được không, sẽ trả lời sau. Trong ngày thứ hai anh phải chạy lung tung để thứ nhất là dồn các giờ dạy vào ba ngày thứ hai, ba, tư, thứ nhì là lo xoay tiền, thứ ba là lo tìm cách nói dối mợ anh, vì nếu nói đi từ Sài Gòn lên Đà Lạt bằng Vespa, 300 cây số đường xấu mà nghe nói thường xuyên có đánh nhau thì mợ anh sẽ quá lo lắng trong suốt mấy ngày anh vắng nhà. Cuối cùng anh phải bịa ra là đi Vũng Tàu bốn ngày với mấy người bạn (thật tình anh chưa khi nào đi Vũng Tàu lâu như vậy cả!). Gặp lại D., đồng ý thứ năm đi, chủ nhật về.

Qua ngày thứ ba, D. đến gửi thư cho vợ (để anh nhờ cha Trọng mang lên Đà Lạt như mọi khi), lúc đó anh không có nhà. D. nhắn lại là không đi Đà Lạt nữa vì vợ viết thư nói là sắp xuống Sài Gòn rồi. Được tin, anh chạy tới gặp D. và quả quyết là anh nhất định đi vì đã chuẩn bị mọi việc, một mình anh cũng đi. Anh chàng dùng kế hoãn binh, hẹn tối thứ tư (tối hôm qua) sẽ trả lời. Rốt cuộc anh đi một mình, D. có vẻ... ngán!

Ngày hôm qua anh dạy học 4 tiếng đồng hồ, lại phải chạy bao nhiêu chuyện nữa, tối 12 giờ khuya mới ngủ mà sáng nay 4 giờ rưỡi đã thức giấc, nằm trằn trọc mãi đến 6 giờ dậy. Mệt kinh khủng vì đêm hôm trước ngủ có 3 tiếng (viết đến đây lại nghe tiếng đại bác vang rền, cả tiếng máy bay nữa). 7 giờ ở nhà chở Y.  đi,  ghé  anh  H.  mượn  mũ  và  găng  tay, qua chợ Tân  Định mua bánh mì thịt, củ đậu và thuốc Ascorban, rồi đưa Y. đến trường. Ra đến cầu xa lộ là 8 giờ kém 20, chạy thật ngon lành đến ngã ba Dầu Dây rẽ qua quốc lộ 20 là bắt đầu vào biển bụi. Đang quãng đường xấu thì gặp một người chạy Honda từ Sài Gòn lên Gia Kiệm (cách Sài Gòn 85 cây số) dạy học ở đấy. Đến nơi anh ta mời anh vào nhà rửa mặt uống nước nghỉ ngơi, 5 phút sau anh lại lên đường, đường từ Gia Kiệm đến Là Ngà rất xấu. Một điều ngạc nhiên là anh gặp nhiều xe Minh Trung ở Đà Lạt về, ngạc nhiên vì dù có đi từ sáng sớm cũng không thể tới đoạn đường này sớm như vậy. Đến cầu Là Ngà hỏi thăm tài xế xe đò mới biết là những xe đó đêm qua phải ngủ lại ở Định Quán vì hôm qua cũng đánh nhau ở đây, đến sáng sớm yên tĩnh mới qua cầu về Sài Gòn, nhưng rồi lại đánh nhau tiếp nên cầu lại bị chặn...

Thật là khổ!

[...]

Sau 4 ngày thăm Mai ở Đà Lạt, lúc về nghỉ ăn trưa ở Định Quán, Long lại tiếp tục viết thư:

Định Quán, 1 giờ 15 chủ nhật 30-3-69

Em của anh,

Đọc xong thư em, cảm động hết sức, anh quên cả mệt. Anh định chạy về đến ngã ba Dầu Dây mới nghỉ ăn  (nghĩa là qua hết đoạn đường xấu) nhưng sợ bị say nắng vì nóng quá mà đường xấu không chạy nhanh được. Nên phải nghỉ lại ở Định Quán, rửa mặt, gọi ly nước đá chanh và ngồi đọc thư em (nói thật là đọc thư anh cảm động muốn khóc luôn đó!). Sáng nay khi đến gần Di Linh thì gặp một dãy dài xe, cũng như hôm lên ở cầu Là Ngà. Nhưng khác ở chỗ là anh vừa đến nơi thì dãy xe bắt đầu chuyển bánh. Hỏi ra mới biết đường bị đắp mô vào ban đêm, sáng nay phải chờ lính đến gỡ mô mới đi được. Chẳng biết mô có chôn mìn ở trong không, nhiều khi gỡ mô ra chẳng có gì. Nghe nói sáng nay lính Mỹ đến gỡ mô, không phải lính mình.

[...]

Sài Gòn, 31-3-69

Em của anh,

Hôm nay là ngày chót của anh ở tình trạng dân sự, vì sáng sớm mai anh phải đi trình diện để vào quân đội rồi. [...]

Chiều qua viết thư cho em ở Định Quán rồi đi được một khúc thì có anh thiếu úy xin quá giang đến Ngã Ba Dầu Dây. Trong lúc đi đường anh ta kể nghe vừa sợ, vừa thương những người lính ngày đêm phải ngủ ở ven đường để gác cho mình đi. Anh ta bảo hôm thứ sáu lúc 4 giờ chiều, nguyên một chi đoàn thiết giáp bị một tiểu đoàn Việt Cộng đánh ngay ở chỗ anh đi qua, anh ta chỉ xác một xe thiết giáp cháy vẫn còn nằm đó. Trong lúc đó trung đội của anh ta nằm gần đó mà không bị tấn công, “chắc tụi họ chê tụi này là tép riu nên không thèm đánh, dồn lực lượng đánh úp chi đoàn thiết giáp...” Anh ta nói khúc đường đó ngày nào cũng có đụng độ, đến chiều thì họ ra đường một cách công khai.

Còn lúc anh mới đi đến đèo Prenn cũng có một ông quá giang, ông này nói sáng thứ bảy cầu Prenn bị pháo kích, thành ra xe bị chặn đến hơn 8 giờ mới cho đi.

Đến Dầu Dây lúc 3 giờ, ghé vào một quán nước rửa mặt mũi sạch sẽ rồi ăn uống và nói chuyện với anh thiếu úy. Anh ta trẻ hơn anh, nhập ngũ từ hai năm nay vì bị động viên vào trường sĩ quan trừ bị Thủ Đức.

Càng biết thêm về anh ta, anh càng cảm thấy sự bất công trong số phận của con người... Hai người cùng lứa tuổi, cùng hoàn cảnh gia đình, cùng được học hành, sao một người chạy Vespa phom phom trên đường đi thăm người yêu, người kia phải nằm bờ nằm bụi với cây súng hộ thân, không biết sống chết lúc nào? 

Còn tiếp

Phạm Ngọc Lân

Cha vô danh – Chuyện kể cuộc đời một người Việt lai Pháp

(1)Câu hát lặp đi lặp lại trong ca khúc “On n’oublie rien” (« Không quên gì cả ») của Jacques Brel, một ca nhạc sĩ rất nổi tiếng người Bỉ hát tiếng Pháp.

(2) Ngày 18 tháng 4 năm 1985, phim tài liệu « La guerre en face » (« Đối diện với chiến tranh »)  được chiếu lần đầu trên đài truyền hình FR3 (một trong mấy đài chính thức của chính phủ Pháp) vào buổi tối, giờ được đông người xem nhất. Người chủ trương cuốn phim là ca sĩ và tài tử nổi tiếng của Pháp Yves Montand, muốn đánh động dư luận Pháp về một cuộc tấn công của khối cộng sản tại Âu Châu bằng võ khí thông thường (không phải võ khí nguyên tử). Cuốn phim rất thành công về số lượng người xem, và là đề tài cho một cuộc tranh cãi chính trị giữa hai bên tả và hữu, vì cuốn phim ủng hộ việc tăng cường vũ khí trên thế giới. Đó là lúc mà Tổng Thống Mỹ Ronald Reagan tung ra chương trình bảo vệ nước Mỹ chống hỏa tiễn bằng hỏa tiễn, gọi nôm na là « star war, guerre des étoiles ». Yves Montand thời trẻ là một cảm tình viên nhiệt tình của Đảng Cộng Sản Pháp, nhưng sau một chuyến lưu diễn ở Liên Xô, ông trở thành một người chống cộng năng động, và cuốn phim của ông tố cáo mưu đồ của khối cộng sản do Liên Xô cầm đầu muốn thôn tính thế giới Tây phương bằng bạo lực.

Mở đầu cuốn phim là cuộc phỏng vấn hai nhân chứng đã sống 40 năm trong hòa bình (một người Pháp sinh ra sau đệ nhị thế chiến) và trong chiến tranh (một người Việt Nam). Tác giả lúc đó đã qua Pháp sống 5 năm, được một hội đoàn giới thiệu cho đạo diễn phim để trả lời phỏng vấn như một nhân chứng đã sống suốt gần 40 năm đời mình trong chiến tranh.

(3) Tình Nhớ của Trịnh Công Sơn:

(4) Cha Trọng là thầy dạy Mai môn Tâm Lý trong Khoa Sư Phạm, cũng là người Mai đưa tất cả thư của Long để hỏi ý kiến xem có nên yêu hay không! Năm 1993, tác giả về Sài Gòn lần đầu có đến thăm cha vẫn khỏe mạnh dù tuổi đã rất cao. Năm 2010, hai vợ chồng về đến thăm nhưng cha đã mất.

(5) Cuốn băng cassette ghi lại tiếng đàn và tiếng hát của tác giả vẫn còn giữ được gần nửa thế kỷ sau, nghe lại thì quả là vụng về, nhưng là một kỷ niệm vô giá.