Cha danh 36 - Mậu Thân lính “Babylac” (Phạm Ngọc Lân)

Lượt xem: 786

“…Babylac là một hiệu sữa bột thời đó, với hình một em bé bụ bẫm hai má phúng phính. Tự xem mình như là “lính sữa” cũng chẳng phải là quá đáng, so với người lính dày dạn sương gió vào sinh ra tử ngoài chiến trường…

Sáng ngày mùng 2 Tết Mậu Thân (31 tháng 1-1968 dương lịch), ông Quy cha dượng của Long mặc quân phục lên đường đến đơn vị của ông đóng ở thành Cổ Loa phía bắc Sài Gòn. Trong đêm đã nghe tiếng súng và sáng ra đài phát thanh Sài Gòn có loan tin là Việt Cộng đã vi phạm lệnh hưu chiến mà họ đã công bố để tấn công vào các thành phố của miền Nam, kể cả thủ đô Sài Gòn. Khu Nhà Thờ Ba Chuông nơi gia đình Long sinh sống không trực tiếp là bãi chiến trường nên dù biết tin là Sài Gòn đang “đánh nhau to”, ông Quy, lúc đó đeo lon đại úy, vẫn phải lên đường đến đơn vị thay thế cho những đồng đội khác phải ứng chiến ngày mùng 1 Tết. Vì có lệnh hưu chiến nên các đơn vị trong quân đội Việt Nam Cộng Hòa trong dịp Tết năm đó chỉ phải cấm trại 50% thay vì 100%. Ông Quy được nghỉ ngày mùng 1, nay phải đến đơn vị ứng chiến để những người cấm trại ngày mùng 1 được về nhà ăn Tết.

Bà Quy và các con nhỏ rất lo lắng khi ông Quy mặc quân phục ra đi như thế trong tình cảnh đang có giao tranh tại một vài khu phố ngay trong Sài Gòn. Nhưng chỉ ít lâu sau, gia đình lại thấy ông quay về: đường lên thành Cổ Loa không đi được, có đoạn đang giao tranh dữ dội. Người ta nói ông tạm về nhà, và phải nghe đài phát thanh để đợi lệnh mới.

Thật là một bất ngờ cho người dân thường, họ không thể tưởng tượng có chuyện quân cộng sản tấn công quy mô vào Sài Gòn và các thành phố lớn nhỏ của miền Nam vào đúng dịp Tết được xem như những ngày thiêng liêng nhất trong năm, phải kiêng làm chuyện xấu, huống gì là chuyện bắn giết nhau. Cũng bất ngờ vì năm 1967 đã là một năm tương đối ổn định so với những năm trước đó.

Quả vậy, sau những cuộc đấu tranh của Phật Giáo và đảo chánh lật đổ chế độ của Tổng Thống Ngô Đình Diệm năm 1963, sau những màn bi hài của đảo chánh và chỉnh lý kế tiếp nhau diễn ra trong năm 1964, sau những xáo trộn về kinh tế cũng như chính trị khi quân đội Mỹ ồ ạt đổ bộ vào miền Nam năm 1965, sau những cuộc đấu tranh có tính cách ly khai ở Huế và Đà Nẵng năm 1966, năm 1967 đã là một năm ít xáo trộn nhất. Về phương diện chính trị, một bản hiến pháp mới được ban hành ngày 1 tháng 4-1967(1), thiết lập nền Đệ Nhị Cộng Hòa, rồi một cuộc bầu Tổng Thống diễn ra sau đó, vào ngày 3 tháng 9-1967. Hai tướng Nguyễn Văn Thiệu và Nguyễn Cao Kỳ chính thức trở thành Tổng Thống và Phó Tổng Thống của Việt Nam Cộng Hòa. Vẫn có những chống đối, vẫn có biểu tình, vẫn có tự thiêu, nhưng không trên quy mô rộng lớn như các cuộc tranh đấu trong suốt bốn năm trước đó.

Riêng đối với Long, năm Đinh Mùi 1967 (năm tuổi của chàng) đã là một năm nhiều thành công, tuy là một năm rất vất vả trong việc học hành cũng như mưu sinh, dạy học liên tục tại tư gia để kiếm tiền phụ thêm chi tiêu trong gia đình. Và năm tuổi cũng lại là một năm “hên”. Ngay đầu năm, dịp Tết Đinh Mùi, chàng ngạc nhiên thích thú khi ông Quy cha dượng của chàng tặng một chiếc xe Vespa Super mới toanh! Hai em gái là Vy và Loan cũng được tặng chung một chiếc Velosolex, loại xe của Pháp nổi tiếng một thời, giống như một chiếc xe đạp có gắn thêm cái máy phía trước, nhưng cách dùng không dễ dàng chút nào, và khi trời mưa lại còn nguy hiểm nữa là đằng khác. Nhưng lúc đó rất là thời thượng, các cô mặc áo dài đi cái Velosolex trông lả lướt lắm! Long không hiểu ông Quy lấy tiền đâu ra để sắm một lúc hai chiếc xe cho con cái như thế, chắc chắn ông phải có bổng lộc gì đó (thời nay bên Mỹ gọi là “bonus”!) mà ông không nói ra. Trong đời sinh viên của Long, năm đầu đi chiếc xe đạp cũ, sau đó chàng dạy học kiếm được tiền mua chiếc xe gắn máy hiệu Puch, sau bốn năm lăn lộn với chiếc xe Puch đó, nay chàng lại được “nâng cấp” để đi Vespa là loại xe hai bánh được coi như “bảnh” nhất thời bấy giờ. Chiếc Vespa này, Long sẽ dùng nó trong 10 năm, và nó sẽ chứng kiến biết bao kỷ niệm vui buồn của chàng qua những thăng trầm, và nhất là chứng kiến mối tình rất đẹp của chàng với Mai và cuộc đổi đời bi thảm năm 1975.

Trở lại năm 1967, vào tháng 6 là cuối niên học Long thi đậu lên năm thứ 5 cũng là năm chót của Đại Học Dược Khoa. Sau đó chàng thi đậu cả hai chứng chỉ Điện và Quang bên Đại Học Khoa Học. Thừa thắng xông lên, đến tháng 9 tựu trường, chàng ghi danh tiếp 4 chứng chỉ còn lại bên Khoa Học (Vật Lý Lý Thuyết, Toán Thuật Trong Vật Lý, Cơ Nhiệt và Điện Tử) để lấy bằng Cử Nhân Giáo Khoa Vật Lý. Không biết có học nổi hết chừng đó thứ không, nhưng kinh nghiệm cho thấy nên ghi tên tối đa rồi khi học nếu cần sẽ có thể chọn những chứng chỉ có thời khóa biểu ăn khớp nhất. Khác với hai chứng chỉ Điện và Quang có tới mấy trăm sinh viên học, 4 chứng chỉ mới này chỉ dành riêng cho Cử Nhân Vật Lý nên chỉ có vài chục sinh viên. Đặc biệt chứng chỉ Cơ Nhiệt, phần Cơ không có thầy cơ hữu của trường, phải nhờ đến một giáo sư người Pháp là bà Marchand, còn phần Nhiệt trao cho ông Nguyễn Tư Bân, lúc đó là Thượng Nghị Sĩ. Bà Marchand dạy bằng tiếng Pháp, thật là một trở ngại lớn cho đa số sinh viên, nên chứng chỉ này chỉ có khoảng hai chục sinh viên theo học. Tự nhiên Long nổi tiếng trong lớp vì chàng rành tiếng Pháp, nên các bạn học thường nhờ đến chàng để hiểu rõ bài vở hơn. Và chàng cũng trở thành học trò cưng của bà Marchand cũng chỉ vì chàng là sinh viên duy nhất đối thoại lưu loát với bà giáo bằng tiếng Pháp.

Thời đó con trai học hành gian truân hơn con gái nhiều vì đang lúc chiến tranh, các nam sinh viên chỉ được “hoãn dịch vì lý do học vấn” với điều kiện phải đậu các kỳ thi lên lớp, nếu thi rớt là nhận ngay giấy gọi nhập ngũ theo lệnh động viên, phải lên trình diện Trung Tâm 3 Nhập Ngũ. Hồi đó ở miền Nam, ai có tú tài 1 trở lên có thể theo học các trường đào tạo sĩ quan, nếu không muốn thi tuyển vào các trường sĩ quan hiện dịch như Võ Bị Đà Lạt, hay Không Quân, Hải Quân, v.v... thì có thể theo học trường sĩ quan trừ bị Thủ Đức, ra trường đeo lon chuẩn úy. Năm 1967 số quân nhân trong quân đội Việt Nam Cộng Hòa đã lên rất cao, đồng thời với con số lính Mỹ có mặt tại Việt Nam đã lên đến con số gần nửa triệu người vào cuối năm. Và tướng Westmoreland Tổng Tư Lệnh quân đội Mỹ tại Việt Nam rất lạc quan về tình hình chiến sự. Trong tình hình như thế, có ai nghĩ là ngày Tết sẽ có tiếng súng nổ ngay trong các thành phố, ngay tại thủ đô miền Nam, và chính tòa Đại Sứ Mỹ ở Sài Gòn cũng bị tấn công?

Thật ra sau này người ta được biết các nguồn tin tình báo đều nhất loạt báo động là quân đội cộng sản đang chuẩn bị một cuộc tổng tấn công vào các thành phố, nhưng các nhà lãnh đạo Việt - Mỹ không tin là quân cộng sản có đủ lực lượng để làm chuyện này, mà nếu có cũng sẽ là một hành động tự sát mà thôi. Phía Mỹ thì tin rằng đây là kế hoạch “điệu hổ ly sơn” của Hà Nội, mục đích chính của họ là Khe Sanh trong tỉnh Quảng Trị chứ không phải các thành phố. Khe Sanh gần biên giới Lào và đường ranh vĩ tuyến 17 là một nút chặn của Mỹ ngăn cản quân đội cộng sản từ miền Bắc xâm nhập vào miền Nam qua đường mòn Hồ Chí Minh. Khe Sanh được so sánh với Điện Biên Phủ trước kia: cũng là một tiền đồn giữa đồng không mông quạnh chỉ dùng làm nút chặn, cũng là một cái chốt phòng thủ kiên cố dùng để thu hút địch quân đến vây đánh để diệt địch, với cái rủi là có thể sẽ bị đánh thua như Pháp ngày xưa ở Điện Biên Phủ. Nhưng cuối cùng thì Mỹ đã không thua như ở Điện Biên Phủ. Sau nhiều tháng giao tranh ác liệt với mấy sư đoàn thiện chiến của quân đội miền Bắc bao vây Khe Sanh (trong đó có sư đoàn 304 nổi tiếng ở Điện Biên Phủ ngày trước) trang bị khí giới tối tân của Liên Xô, phía Mỹ quyết định rút bỏ Khe Sanh. Dù sao phía Hà Nội cũng xem đấy như một chiến thắng lớn của họ vì đã cắm được lá cờ trên căn cứ này sau khi Mỹ rút. Và cũng như bao nhiêu cái vô lý khác của chiến tranh, hai bên đến đây để bắn giết nhau, không biết bao nhiêu xương máu đã đổ ra, sau đó mọi người lại rút đi, trả lại Khe Sanh cho thiên nhiên, cây cỏ(2)...

Trận chiến Khe Sanh khởi sự ác liệt từ ngày 21 tháng 1-1968, cuộc tổng tấn công vào các đô thị bắt đầu 10 ngày sau đó, đêm mùng 1 rạng ngày mùng 2 Tết Mậu Thân(3). Vì vậy nên các nhà phân tích thời cuộc lúc đó mới nói đến kế hoạch “điệu hổ ly sơn” của Hà Nội. Nhưng mục tiêu chính là Khe Sanh hay là các thành phố?

Tin tức chiến sự ở Khe Sanh dồn dập trong những ngày áp Tết, nhưng từ mấy năm qua, dân chúng bắt đầu quá quen với tin tức hằng ngày về chiến tranh, nên cũng chẳng chú ý lắm. Đài phát thanh Giải Phóng tuyên bố hưu chiến 7 ngày vào dịp Tết, còn chính phủ Việt Nam Cộng Hòa tuyên bố hưu chiến 48 giờ đồng hồ.

Người dân Sài Gòn lo chuẩn bị cho ngày Tết sắp đến, dù có phải thắt lưng buộc bụng đến đâu cũng phải mua sắm chút ít cho có không khí Tết trong gia đình. Theo truyền thống lâu đời vẫn tiếp tục cho đến ngày nay, chợ búa vào dịp Tết rất tấp nập so với ngày thường, lượng hàng hóa từ quê lên tỉnh, từ tỉnh về quê tăng lên gấp bội. Dịp Tết đúng là lúc có thể xâm nhập vũ khí đạn dược và cả quân đặc công vào thành phố dễ dàng hơn lúc bình thường. Xe đò chuyển hàng hóa và người dân về quê hoặc lên tỉnh quá nhiều, cảnh sát không thể nào kiểm soát được vũ khí đạn dược cất giấu trong những giỏ cần xé chở hàng Tết, hay kiểm soát giấy tờ của từng hành khách được. Nhờ vậy mà cuộc tổng tấn công vào các thành phố được chuẩn bị tương đối dễ dàng.

Trong cuộc tấn công vào Sài Gòn, đài phát thanh đương nhiên là một mục tiêu hàng đầu vì sẽ được dùng để dấy động cuộc “tổng nổi dậy”. Sau này người ta được biết là ngay trong những giờ đầu, quân cộng sản đã chiếm được đài phát thanh, và đã chuẩn bị sẵn cuốn băng kêu gọi dân chúng nổi dậy cướp chính quyền. Nhưng cơ quan phát sóng nằm ngoài Sài Gòn vẫn còn trong tay của chính phủ, nên đài phát thanh không loan được một lời nào của phe cộng sản cả.

Trong mấy ngày giao tranh, có những khu phố đánh nhau ác liệt, nhưng Sài Gòn - Gia Định rộng lớn lắm, khu nào đánh nhau vẫn đánh, những khu khác vẫn tiếp tục sinh hoạt. Có nhiều người rủ nhau đi xemđánh nhau như đi xem xi-nê, chỉ khác là khi bị đạn lạc thì chết thật chứ không chết giả như trong phim. Còn bên Mỹ, người ta không cần ra đường, chỉ ngồi trong nhà cũng được xem trực tiếp trên truyền hình các hình ảnh đánh nhau do phóng viên của họ lúc đó đang rất đông ở Sài Gòn gửi về. Có thể nói, chưa khi nào phương tiện truyền thông lại hữu hiệu như thế trong việc dấy động người Mỹ chống chiến tranh, và chống lại việc chính phủ Mỹ can thiệp vào Việt Nam.

Đặc biệt một đoạn phim nổi tiếng đã đi vòng quanh thế giới, và mãi đến sau này khi nhắc đến chiến tranh Việt Nam các hãng thông tấn quốc tế vẫn còn đưa đoạn phim này ra. Đó là hình ảnh Đại Tá Nguyễn Ngọc Loan Tư Lệnh Cảnh Sát bắn vào đầu một người mặc thường phục tay bị trói quặt sau lưng. Đây là một cách hành xử không thể chấp nhận trong thế giới phương Tây, nhất là đối với người Mỹ. Con em của họ qua Việt Nam chịu gian khổ, bị thương vong chết chóc để bảo vệ một chế độ có những con người công khai bắn vào đầu một tù nhân hay sao? Người ta giải thích là người bị bắn đó là một đặc công Việt Cộng vừa bị bắt sau khi giết chết cả gia đình của một cảnh sát viên, nhưng trên truyền hình, không ai thấy cảnh đó, mà chỉ thấy cảnh ông Loan cầm súng lục dí sát thái dương người đó và bấm cò.

Sau vài ngày Sài Gòn và vùng phụ cận trở lại yên tĩnh, các quân nhân được nghỉ ngày mùng 1 Tết và kẹt lại nhà được lệnh đến đơn vị trình diện. Khi ông Quy lên đến thành Cổ Loa mới biết là số mạng ông còn lớn lắm, vì thành Cổ Loa đã là một bãi chiến trường quan trọng, bị tràn ngập sau mấy giờ giao tranh và tất cả 50% sĩ quan trực trại đêm mùng 1 Tết đều tử trận...

Trận chiến Tết Mậu Thân đã làm cho người dân miền Nam thấy rõ hơn những tàn ác của chiến tranh vì nó xảy ra trong các đô thị đông đúc người sinh sống. Và nói đến Tết Mậu Thân không thể không nhắc đến các cuộc thảm sát tập thể xảy ra tại Huế, là nơi mà quân đội miền Bắc đã chiếm đóng trong vòng 25 ngày. Tại Huế, quân đội Hoa Kỳ đã tiếp tay với quân đội Việt Nam Cộng Hòa đánh chiếm lại thành phố, khác với Sài Gòn và nhiều đô thị khác chỉ có quân của Việt Nam Cộng Hòa đánh nhau với quân cộng sản xâm nhập mà thôi.

Sau khi quân cộng sản rút lui khỏi Huế, người ta khám phá ra các mồ chôn tập thể thường dân bị thảm sát tại đây trong thời gian 25 ngày chiếm đóng. Các hố chôn tập thể trong thành phố bên tả ngạn sông Hương cũng có, bên ngoài thành phố cách Huế hàng chục cây số cũng có. Có nơi khám phá ra nhanh chóng, có nơi mấy tháng sau, hoặc cả năm sau mới khám phá ra. Xác người bị trói quặt sau lưng, bị bắn, bị đập vào đầu, hay không có thương tích gì cả, tức là bị chôn sống. Sau này qua các tin tức từ người sống sót, kể cả người ngoại quốc, kể cả từ bộ đội chiêu hồi, người ta biết được là trong khi Huế lọt vào tay cộng sản, đã có những quân nhân, công chức, cảnh sát, nhân viên sở Mỹ, các thành phần đảng phái, v.v. bị xem như “thành phần ác ôn”, bị bắt và bị giết ngay trong thời gian này. Danh sách những người này được lập sẵn trong chiến khu nhờ các thành phần tham gia tranh đấu ly khai năm 1966 theo cộng sản ra bưng. Số còn lại bị bắt là những thân nhân trong gia đình các “thành phần ác ôn” này, trong đó có nhiều người sống ở xa về Huế ăn Tết với gia đình. Họ không bị giết ngay mà bị đem theo làm tù binh khi quân cộng sản rút khỏi Huế. Cuối cùng, không thể đem theo tù nhân trên đường rút vào bưng, họ bị giết tập thể một cách dã man và vùi nông trong những hố đào vội vã.

Những con số về cuộc thảm sát ở Huế không chính xác, chính quyền miền Nam đưa ra con số hơn 4000 xác tìm thấy trong các mồ tập thể, nhiều nguồn khác đưa ra những con số từ 2000 đến 6000 người bị giết trong cuộc tắm máu này. Riêng Long cũng biết rõ hai trường hợp là nạn nhân của cuộc thảm sát tại Huế. Đó là hai thanh niên mất tích khi từ Sài Gòn về Huế ăn Tết với gia đình. Một người là sinh viên Dược Khoa, em trai một người bạn, người thứ hai là một sinh viên sống trong cư xá Đắc Lộ sau Long vài năm. Gia đình mong mỏi tin tức trong mấy tháng liền, cuối cùng xác của hai bạn này tìm thấy trong mồ chôn tập thể trên đường rút lui của quân cộng sản từ Huế về căn cứ quân sự của họ trong rừng.

Chính quyền cộng sản Hà Nội không khi nào xác nhận những cuộc thảm sát này, ngay cả sau khi chiến tranh chấm dứt. Về phía chính quyền Việt Nam Cộng Hòa, đã có rất nhiều cố gắng để tố cáo trước dư luận quốc tế những vụ giết thường dân hàng loạt không gớm tay tại Huế trong Tết Mậu Thân, nhưng thế giới còn nhiều chuyện khác để lo âu hơn là chú ý đến chuyện người Việt tàn sát lẫn nhau trên đất nước của họ(4).

Trở lại cuộc sống ở Sài Gòn, sau khi tình hình lắng dịu trở lại, các trường học mở cửa tiếp tục sinh hoạt bình thường. Đến tháng 3-1968, chính phủ quyết định tất cả nam sinh viên ở Sài Gòn sẽ phải qua một thời gian hai tuần huấn luyện quân sự để có thể tham gia vào việc bảo vệ thành phố nếu một cuộc tấn công tương tự như hồi Tết Mậu Thân tái diễn. Những đô thị khác không biết ra sao, riêng tại Đà Lạt Long được biết là nam sinh viên cũng học quân sự và nữ sinh viên được đưa sang trường Chiến Tranh Chính Trị học cứu thương. 

Thế là sinh viên Sài Gòn lại được dịp nghỉ học để đi tập quân sự từ ngày 17 đến ngày 31 tháng 3-1968. Long cũng như các bạn được phát một bộ quần áo bằng vải kaki vàng, thêm một cái mũ “ca-lô” có lẽ từ thời Pháp để lại trong kho. Giầy thì tự túc. Sau những ngày tập trung tại sân vận động Hoa Lư đường Đinh Tiên Hoàng để học sơ qua về những cơ bản của quân sự, đến ngày 29, xe GMC (xe vận tải của quân đội) chở sinh viên lên Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung phía bắc Sài Gòn để tập bắn.

Lần đầu tiên trong đời Long cầm một khẩu súng “carbin” có lẽ từ thời Pháp để lại, nặng ơi là nặng, chỉ có súng thôi, không có đạn. Lên đến Quang Trung, cũng như đa số các bạn khác, chàng cũng chẳng bắn phát nào, vì chỉ có mấy người tình nguyện được bắn thử mà thôi. Lý do là phải tiết kiệm đạn. Sau đó là lễ mãn khóa đồng thời cũng là trình diện “trung đoàn sinh viên bảo vệ Đô thành” tại một sân lớn trong vườn Tao Đàn. Long còn nhớ 17 năm về trước khi chàng được bà ngoại dắt tay đi qua cũng vườn Tao Đàn này (hồi đó là năm 1951, còn gọi là vườn Bờ Rô) trên đường đến trường học. Nghĩ lại thời gian đi nhanh quá, thằng bé nhút nhát nắm tay bà mới đó nay đã là một thanh niên trưởng thành. Với vóc dáng khá cao lớn, chàng còn bị chỉ định làm một nhiệm vụ nặng nề là cầm cờ của đơn vị Dược Khoa. Nặng nề cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng.

phamngoclan28
Đại Học Dược Khoa ngày 29-03-1968. Sinh viên theo học khóa quân sự học đường (lính Babylac) chuẩn bị lên xe GMC đi lên Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung. Tác giả chụp với mấy bạn cùng lớp.

sinhvien_quansu
Sân Tao Đàn ngày 31-03-1968. Lễ mãn khóa sinh viên theo học khóa quân sự học đường 

phamngoclan29
Sân Tao Đàn, 31-03-1968. Tác giả cầm cờ đứng giữa hai bạn
cùng lớp Dược Khoa là Trần Khả Lập và Lê Hồng Thanh

Với cách ăn mặc chẳng giống lính nào (thời đó quân nhân tùy binh chủng mặc đồ trận khác nhau, nhưng không ai mặc đồ màu kaki vàng cả), với cách huấn luyện quân sự sơ sài như thế, sinh viên tự gọi mình là “lính Babylac” với ý nghĩa tự trào. Babylac là một hiệu sữa bột thời đó, với hình một em bé bụ bẫm hai má phúng phính. Tự xem mình như là “lính sữa” cũng chẳng phải là quá đáng, so với người lính dày dạn sương gió vào sinh ra tử ngoài chiến trường.

Và rồi cơ hội đến để lính “Babylac” được trổ tài bảo vệ đô thành. Tháng 5-1968, quân cộng sản mở ra vụ tấn công đợt 2 vào Sài Gòn. Lần này không còn yếu tố bất ngờ nữa, họ tấn công vào Sài Gòn theo nhiều hướng, một mũi dùi quan trọng đến từ phía tây, tấn công vào khu Chợ Lớn. Sinh viên lại phải nghỉ học, lại đóng bộ quần áo lính Babylac, buổi sáng lại lãnh khẩu carbin cũ rích không có đạn. Trao đạn cho lính sữa nguy hiểm quá, không ai dám nhận trách nhiệm lỡ có chuyện lạc đạn xảy ra!

Tiểu đội của Long 10 người được đưa đến bến Lê Quang Liêm trong khu Chợ Lớn, toàn người gốc Hoa sinh sống. Tiểu đội đóng chốt trên sân thượng một căn nhà 3 tầng của một thương gia, tầng trệt là kho hàng hóa, gia đình họ sống trên hai tầng lầu, sinh viên lên sân thượng canh gác. Cũng may là có mấy chậu cây khá lớn nên có chút bóng mát, nếu không tháng 5 trời Sài Gòn đã nóng lắm rồi. Suốt ngày làm gì? Long không nhớ, nhưng riêng chàng mang theo bài vở để học ôn, vì chỉ còn hơn tháng nữa là chàng phải thi cả bên Dược Khoa lẫn bên Khoa Học nên không thể để mất thời giờ được. Có lẽ một phần nhờ canh gác như thế mà trong các kỳ thi cuối năm chàng lại đậu cao!

Sau ba ngày canh gác như thế, lúc đầu xa xa nghe vọng tiếng súng chứng tỏ đang có giao tranh nhưng còn khá xa, về sau càng ngày càng gần. Khi đã rõ ràng là chiến trận sẽ lan đến nơi tiểu đội của Long canh gác, có lệnh di chuyển về gác tại trường Đại Học Y Khoa, gần trung tâm thành phố hơn. Nhiệm vụ mới là bảo vệ trường Đại Học này nếu bị tấn công. Bảo vệ bằng súng không có đạn, dĩ nhiên!

Mục đích của chiến dịch “lính Babylac” cốt để sinh viên là những thành phần ưu tú và được ưu đãi chạm trán với thực tế của đất nước trong thời chiến, cọ xát với những gian khổ của người lính chiến đấu để ngăn chặn việc phe cộng sản muốn nhuộm đỏ cả miền Nam. Không biết mục đích này đạt được đến mức nào, nhưng ít ra sinh viên cũng có một chút ý niệm về cuộc sống gian lao của người lính ngoài chiến trường.

Tết Mậu Thân đã là một khúc quanh quan trọng khác trong chiến tranh Việt Nam.

Đúng như dự đoán, về mặt quân sự, đây là một cuộc tự sát của quân đội cộng sản. Họ được học tập là chỉ cần quân chính quy từ Bắc vào nổ súng là các cơ sở nằm vùng địa phương sẽ hô hào dân chúng nổi dậy cướp chính quyền. Nhưng sau đợt tấn công đầu tiên trong đêm có sự bất ngờ là lợi thế cho phe cộng sản, các lực lượng của Việt Nam Cộng Hòa phản ứng lại mạnh mẽ. Quân từ miền Bắc vào không rành địa thế, lạc trong những con hẻm ngoằn ngoèo của Sài Gòn, các cơ sở nằm vùng của Mặt Trận Giải Phóng trước đây hoạt động bí mật nay ra mặt hô hào dân chúng nổi dậy, nhưng chẳng thấy ai nổi dậy theo họ cả.

Sau nhiều ngày giao tranh trong thành phố, quân đội miền Bắc phải rút tàn quân ra chiến khu, còn các cơ sở bí mật nằm vùng đã tốn bao nhiêu thời gian và công sức mới xây dựng được nay bị lộ, bị phá vỡ gần hết.

Nhưng về mặt tuyên truyền, đây là một thành công lớn của Hà Nội, một bước ngoặt trong cuộc chiến dai dẳng từ nhiều năm. Thành công vì dư luận Mỹ không còn tin vào chính quyền Mỹ nữa. Cho tới lúc đó, họ vẫn nghĩ rằng Mỹ đang làm chủ tình hình, chiến tranh sắp đến giai đoạn kết thúc, tin tức mà họ xem hằng ngày trên truyền hình do các phóng viên chiến trường gửi về cũng nói lên phần nào sự ác liệt của chiến tranh. Nhưng trong những ngày Tết Mậu Thân này, họ được trực tiếp xem những cuộc giao tranh ngay trên đường phố Sài Gòn. Không những trên đường phố của thủ đô miền Nam, mà còn ngay tại tòa Đại Sứ của nước họ, cho đến nay vẫn được xem như rất mực an toàn. Như vậy là thế nào? Họ vẫn nghe chính quyền của họ loan tin phe cộng sản đã hoàn toàn trong tình thế “bị động” cơ mà! Sao “bị động” mà nay lại có thể tấn công vào thủ đô miền Nam và hơn 40 thành phố khác, và có thể đến tận Tòa Đại Sứ Mỹ tấn công? Vậy là chính quyền Mỹ lừa dối dư luận chăng?

Và cứ thế, các phong trào chống chiến tranh càng ngày càng lên cao buộc chính phủ Mỹ phải xét lại chiến lược của họ ở Việt Nam. Tình hình trầm trọng đến độ Tổng Thống Mỹ Johnson tuyên bố không ra ứng cử nhiệm kỳ 2, và tạm ngưng dội bom miền Bắc để đề nghị Hà Nội đến bàn hội nghị ở Paris, thương thuyết việc chấm dứt chiến tranh. Cuối năm 1968, Tổng Thống Nixon đắc cử với lời hứa là sẽ làm mọi cách để rút quân Mỹ về. Cuộc thương thuyết sẽ kéo dài hơn 4 năm trong khi quân Mỹ từ từ rút chân ra khỏi chiến trường Việt Nam để mặc cho hai bên Nam Bắc, cùng người Việt với nhau, tiếp tục chém giết nhau với vũ khí của Mỹ và của Liên Xô.

(còn tiếp)

Phạm Ngọc Lân 
Cha vô danh – Chuyện kể cuộc đời một người Việt lai Pháp

Ghi chú:

(1) Hiến pháp 1967 được Tướng Nguyễn Văn Thiệu (lúc đó còn là Chủ Tịch Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia) công bố ngày 1 tháng 4 trong khuôn viên của dinh Độc Lập. Sau đó là những cuộc bầu Tổng Thống, Thượng Viện và Hạ Viện, làm rường cột cho nền Đệ Nhị Cộng Hòa của miền Nam cho đến năm 1975. Trong số rất đông đại diện các đoàn thể hiện diện trong buổi lễ, có nhiều đoàn thể Công Giáo, mặc dù phía Công Giáo đã không đồng ý với bản hiến pháp mới vì trong phần mở đầu không nhắc đến « Đấng Tối Cao ». Ngược lại, phía Phật Giáo chỉ có đại diện của Thượng Tọa Thích Tâm Châu, Viện Trưởng Viện Hóa Đạo của phái « Quốc Tự ».

(2)  Từ khi Việt Nam có chính sách « đổi mới » cuối thập niên 1980, mở cửa phát triển về du lịch, Khe Sanh trở thành một điểm thu hút du khách, phần đông là cựu chiến binh Hoa Kỳ đã từng chiến đấu tại đây.

(3) Háng chục năm sau, các tài liệu của Đảng Cộng Sản Việt Nam tiết lộ là cuộc « Tổng công kích - Tổng khởi nghĩa » được quyết định tại Hà Nội qua Nghị quyết 14 của Trung ương Đảng ngày 25-10-1967. Trong vùng Sài Gòn – Gia Định, « chiến dịch Xuân Mậu Thân » kéo dài gần 5 tháng gồm hai đợt, đợt đầu từ ngày 31-1-1968 (mùng 2 Tết Mậu Thân) đến 28-2-1968, đợt hai từ ngày 5-5-1968 đến 18-6-1968.

Thời điểm khởi sự chiến dịch được định vào ngày mùng 2 Tết, từ 0 giờ đến 2 giờ sáng. Nhưng trước đó vài tháng, có một thay đổi trong âm lịch của Hà Nội, ngày mùng 1 Tết được định vào ngày 29 tháng 1-1968 thay vì ngày 30 như đã tính trước đó. Sự thay đổi này đã gây xáo trộn về thời điểm khởi sự tấn công. Tại các tỉnh miền Trung, quân cộng sản đã theo lịch ngoài Bắc nên súng bắt đầu nổ vào rạng sáng ngày 30-1-1968 là ngày mùng 2 Tết theo lịch ngoài Bắc, nhưng mới là mùng 1 Tết theo lịch trong Nam. Ngược lại các tỉnh miền Nam chỉ khởi sự 24 giờ sau, tức là mùng 2 Tết theo lịch trong Nam. Mặc dù vậy, phía chính quyền Việt Nam Cộng Hòa vẫn không tăng cường phòng thủ các tỉnh thành phía Nam khi đã có tin là các tỉnh miền Trung đã bị tấn công, vì vẫn không tin lực lượng cộng sản có khả năng đánh cùng một lúc vào Sài Gòn và các thành phố khác.

Vẫn theo tài liệu của cộng sản, kế hoạch đề ra là lực lượng đặc công xâm nhập từ trước sẽ bất ngờ tiến chiếm những mục tiêu quan yếu, và phải cố thủ trong vòng một giờ rồi sẽ được thay thế bởi quân chủ lực tiến vào và các du kích địa phương lập ra do dân chúng đồng loạt nổi dậy. Nhưng đó là sai lầm lớn của kế hoạch, vì khi tiếng súng bắt đầu nổ, dân chúng chỉ bỏ chạy khỏi khu đánh nhau để thoát thân, không thấy ai nổi dậy chống chính quyền cả. Và dần dần, quân đội Việt Nam Cộng Hòa đánh trả mãnh liệt. Phe cộng sản bị tổn thất nặng nề, hàng chục ngàn quân bị loại khỏi vòng chiến (tử trận, bị thương, bị bắt, đầu hàng, hồi chánh), trong khi các cơ sở nằm vùng cộng sản bị lộ gần hết vì theo chỉ thị của trung ương, họ phải ra mặt để kêu gọi dân chúng nổi dậy.

Về mặt quân sự, đây là một thất bại nặng nề của cộng sản, nhưng về mặt tuyên truyền, đây là một thắng lợi lớn, họ cho người dân Mỹ thấy là chính phủ Mỹ đã lừa dối dư luận khi cho rằng người Mỹ đã làm chủ tình hình ở Việt Nam. Phong trào phản chiến lên cao, buộc chính phủ Mỹ phải xét lại chính sách của mình và từ từ rút khỏi Việt Nam, bỏ mặc miền Nam rơi vào tay cộng sản.

(4) Khác với Hoa Kỳ luôn có những con số chính xác để làm thống kê, Việt Nam chỉ có những con số ước lượng, đôi khi còn bị thổi phồng hoặc bị ép nhỏ lại tùy nhu cầu tuyên truyền. Những con số có thể khác nhau, nhưng sự thật là có cuộc thảm sát tại Huế trong lúc quân cộng sản chiếm đóng thì không thể chối cãi được. Những bài viết tuyên truyền của phe cộng sản cho rằng xác người trong các mồ chôn tập thể chỉ là nạn nhân của cuộc truy kích của quân đội Mỹ và Việt Nam Cộng Hòa khi quân cộng sản rút lui, không có chuyện họ bị giết vì bị liệt kê là « thành phần ác ôn » hay bị giết để phi tang vì không đem theo làm tù binh được.

Nhưng năm 1988, bài viết của một sĩ quan cao cấp cộng sản là Đại Tá Lê Minh đăng trên báo ở Huế kỷ niệm 20 năm chiến dịch Xuân Mậu Thân gián tiếp xác nhận có những vụ giết người dã man này, dù chỉ một cách mập mờ, nhưng cho rằng đó không phải là chủ trương của trung ương, mà là những hành động của cấp dưới mà ông không kiểm soát hết được. Năm 1968, Đại Tá Lê Minh là phụ tá của Tướng Trần Văn Quang, Tư Lệnh quân khu Trị Thiên - Huế, đồng thời là Trưởng Ban An Ninh quân khu.