Cha danh 35 Vẫn tiếp tục xáo trộn… (Phạm Ngọc Lân)

Lượt xem: 284

“…Năm thứ ba Dược Khoa Long gần như bỏ học, không còn thiết gì đến bài vở nữa. Sau này nghĩ lại, quả là một thái độ vô ý thức, vì bỏ học tức là sẽ phải nhập ngũ, vì sinh viên chỉ được hoãn dịch với điều kiện là mỗi năm phải lên lớp…

Và cứ thế, xáo trộn nối tiếp xáo trộn trong những năm kế tiếp cuộc đảo chánh 1963.

Chiến tranh tiếp tục leo thang, sinh viên tiếp tục xuống đường. Nhất là sinh viên Đại Học Huế. Năm 1963 xuống đường chống chính quyền của Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Năm 1965-66, xuống đường để chống nội các chiến tranh của Tướng Nguyễn Cao Kỳ, đồng thời chống việc Mỹ mang quân ồ ạt vào miền Nam trực tiếp lãnh đạo cuộc chiến chống cộng sản.

Trước kia dưới thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm, Hoa Kỳ đã viện trợ kinh tế tái thiết miền Nam trở thành trù phú và viện trợ quân sự để miền Nam ngăn chặn mộng bành trướng của khối cộng sản do Liên Xô lãnh đạo. Quân nhân Mỹ đã có mặt tại miền Nam, nhưng với tính cách cố vấn quân sự, càng ngày càng đông đảo, từ 900 thời Tổng Thống Eisenhower lên đến 16.000 thời Tổng Thống Kennedy vào cuối năm 1963, lúc xảy ra cuộc đảo chánh Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Thời gian này, chính quyền Hà Nội đã ra rả tuyên truyền « Mỹ áp dụng chiến tranh xâm lược thực dân kiểu mới » và đang tiến hành « chiến tranh đặc biệt.(1)

Cách tuyên truyền này nhắm vào người dân miền Bắc là chính, và tương đối có hiệu quả vì trong xã hội toàn trị người ta không có nguồn thông tin nào khác để so sánh. Đối với thế giới thì kiểu tuyên truyền này không có tác dụng gì nhiều, vì ai cũng biết Việt Nam lúc đó là một lằn ranh trong chiến tranh lạnh giữa hai khối đối đầu nhau trên thế giới, nên sự hiện diện của quân nhân Mỹ với tính cách cố vấn tại miền Nam cũng là điều bình thường.

Nhưng giờ đây, không chỉ có cố vấn Mỹ nữa mà cả quân đội Mỹ đã ồ ạt đổ vào miền Nam và trực tiếp đánh nhau với quân đội cộng sản. Hà Nội gọi giai đoạn này là « chiến tranh cục bộ ». Rồi miền Bắc bị máy bay Mỹ dội bom ác liệt nhằm ngăn chặn sự xâm nhập của quân miền Bắc vào trong Nam, kể cả người lẫn quân trang quân dụng. Hậu quả là chính quyền Hà Nội chẳng cần tuyên truyền gì thêm nữa, người dân miền Bắc cũng đã tin rằng Mỹ đang xâm lược Việt Nam, và khẩu hiệu « chống Mỹ cứu nước » dễ dàng trở thành quốc sách. Và rồi trên thế giới, qua sự tuyên truyền hữu hiệu của Hà Nội và khối cộng sản, hành động can thiệp quân sự của Mỹ vào Việt Nam bị lên án. Ngay trong nước Mỹ, các phong trào phản chiến càng ngày càng lớn mạnh. Điều này cũng dễ hiểu, vì cho dù mục đích sự can thiệp của Hoa Kỳ là để ngăn chặn làn sóng đỏ, nhưng trước mắt người ta không biết có ngăn được hay không, chỉ thấy chết chóc thảm khốc vì bom đạn và môi trường bị hủy hoại vì thuốc khai quang.

Long cũng như các bạn sinh viên, và người dân nói chung sống ở Sài Gòn những năm đó chịu ảnh hưởng nặng nề của những biến chuyển chính trị và của sự gia tăng đột ngột số lính Mỹ tại đây. Đối với Long, ảnh hưởng về mặt tâm lý sâu đậm đến độ chàng sao lãng việc học hành. Chàng đã chán đến trường khi mà khuôn viên đại học thường xuyên dùng làm nơi hội họp bãi khóa và xuất phát các cuộc xuống đường. Thêm vào đó, phản ứng của chính quyền là đóng cửa các trường « cho đến khi có lệnh mới » khi các phong trào chống đối lên cao. Năm thứ ba Dược Khoa Long gần như bỏ học, không còn thiết gì đến bài vở nữa. Sau này nghĩ lại, quả là một thái độ vô ý thức, vì bỏ học tức là sẽ phải nhập ngũ, vì sinh viên chỉ được hoãn dịch với điều kiện là mỗi năm phải lên lớp. Nhưng lúc đó có lẽ Long đang trải qua một cuộc khủng hoảng của thanh niên mới lớn nên mới có thái độ buông xuôi như thế. Cũng may năm đó Long còn học sớm được một năm, nên chưa bị chi phối bởi lệnh động viên.

Hè 1965, ông Quy cha dượng của Long được đổi từ Kontum về Củ Chi, rồi sau đó là Thành Cổ Loa gần Sài Gòn. Sau 4 năm sống ở Kontum, gia đình dọn về sống ở Sài Gòn, mua một căn nhà trong khu gọi là « Cư Xá Kiến Thiết » trên đường Trương Minh Ký gần nhà thờ Ba Chuông. Căn nhà bề ngang 3 thước, bề sâu hơn 10 thước, làm thêm một gác xép lát ván trên lầu để có chỗ ngủ cho một gia đình lúc đó là 16 người! Long rời cư xá Đắc Lộ về nhà sống với gia đình. Mẹ của Long khóc hết nước mắt khi biết con mình đã buông xuôi không muốn học Dược nữa, vì bà cũng biết là sẽ phải đi lính, tương lai không biết sẽ ra sao. Lúc đó Long cũng biết nghĩ lại, thôi thì không thích cũng phải ráng tiếp tục học để ra trường, nên tháng 9 năm 1965 ghi tên học lại năm thứ ba Dược Khoa.

Nhưng xáo trộn ở các trường đại học ở Sài Gòn chỉ là chuyện nhỏ so với những gì xảy ra ở Huế năm 1966. Trong vòng 3 tháng, có thể nói Huế và Đà Nẵng đã « ly khai » với chính quyền của Tướng Nguyễn Cao Kỳ ở Sài Gòn. Chủ xướng cuộc ly khai này là Phật Giáo và sinh viên, nhưng được chính quyền địa phương hỗ trợ, kể cả một phần của quân đội và cảnh sát. Mẫu số chung của các xáo trộn này là chống việc Mỹ mang quân ồ ạt vào Việt Nam, và chống « nội các chiến tranh » của ông Kỳ.

Cuộc khủng hoảng trầm trọng này bắt  đầu từ tháng 3 khi  Tướng Nguyễn Chánh Thi bị Hội  Đồng Tướng Lãnh loại khỏi chức vụ Tư Lệnh Quân Đoàn 1 và Vùng 1 Chiến Thuật gồm 5 tỉnh phía bắc, sát với lằn ranh vĩ tuyến 17. Ông Thi và ông Kỳ vốn không ưa gì nhau, nay ông Kỳ làm thủ tướng, viện cớ ông  Thi muốn trở thành lãnh chúa cát cứ Vùng 1, không thi hành lệnh của trung ương, nên vận động Hội Đồng Tướng Lãnh (cả hai ông đều là thành viên của hội đồng này) để loại bỏ ông Thi khỏi chính trường trong một cuộc họp ở Sài Gòn.

Khi Tướng Nguyễn Chánh Thi trở về Đà Nẵng và Huế, các phe chống đối chính phủ của ông Kỳ chụp lấy cơ hội bằng vàng này để đón tiếp ông Thi như một người hùng và tổ chức các cuộc biểu tình khổng lồ phản đối quyết định cách chức Tướng Thi. (2)

Nhưng đó chỉ là cái cớ để làm bùng lên một cuộc khủng hoảng kéo dài 3 tháng. Chỉ ít lâu sau Tướng Thi không còn được nhắc đến nữa. Đài phát thanh bị các lực lượng tranh đấu chiếm cứ(3). Một phần lớn quân nhân Vùng 1 hưởng ứng phong trào.  (4) Sinh viên cũng có phong trào tranh đấu mạnh mẽ cùng sát cánh với phong trào của Phật Giáo, và tổ chức ở Huế « Đoàn Sinh Viên Quyết Tử » đi vận động các tỉnh khác của miền Trung (sau này khi em gái của Long lấy chồng, chàng mới biết em rể của mình là một thành viên trong ban lãnh đạo Đoàn Sinh Viên Quyết Tử này).

Phong trào càng ngày càng lên cao, lan ra các tỉnh khác và xuống đến cả Sài Gòn. Các trường đại học lại bị tạm đóng cửa. Đặc biệt phong trào chống sự can thiệp quân sự của Mỹ lên cao(5).

Phe cộng sản lợi dụng những xáo trộn nội bộ của chính quyền để gia tăng các cuộc tấn công chung quanh các đô thị lên đến một cường độ chưa từng thấy(6).

Những xáo trộn nội bộ đó làm dư luận ít chú ý đến một bước ngoặt quan trọng về phía Hà Nội. Nhật báo Le Monde phát hành ngày 1 tháng 4-1966 ở Paris loan tin về đại hội lần thứ 23 của Đảng Cộng Sản Liên Xô, có đoạn ghi lại phát biểu của Tổng Bí Thư Lê Duẩn cám ơn không ngớt các nhà lãnh đạo Liên Xô, và tuyên bố là từ đây ông có hai tổ quốc là Việt Nam và Liên Xô. Đây là bước ngoặt quan trọng trong chiến tranh Việt Nam, Hà Nội ngả hẳn về phía Liên Xô trong cuộc tranh chấp giữa Liên Xô và Trung Quốc. Kể từ đây, Việt Nam sẽ là điểm nóng cho một cuộc đối đầu trực tiếp giữa Hoa Kỳ và Liên Xô. Hà Nội sẽ có được máy bay, hỏa tiễn, xe tăng, các loại cơ giới tối tân hàng đầu của Liên Xô và khối cộng sản quốc tế.

Trong bối cảnh chiến tranh leo thang như thế, chính quyền của ông Nguyễn Cao Kỳ quyết định dùng biện pháp mạnh để vãn hồi trật tự trong cuộc khủng hoảng miền Trung. Giữa tháng 5, các đội quân tinh nhuệ Thủy Quân Lục Chiến và Nhảy Dù được chuyển ra Đà Nẵng và sau một tuần đụng độ căng thẳng, có cả xe thiết giáp và máy bay, phe tranh đấu bị dẹp và Đà Nẵng lấy lại sinh hoạt bình thường(7).

Nhưng phe tranh đấu cũng trả đũa bằng những hoạt động mạnh bạo hơn. Các cuộc tự thiêu nối tiếp nhau(8). Tại Huế, cơ quan USIS của Mỹ (United States Information Service, thường gọi là phòng thông tin Hoa Kỳ) bị đốt cháy. Rồi đến tòa Lãnh Sự Mỹ ở Huế cũng bị đốt luôn(9).

Khi các tiểu đoàn từ Sài Gòn ra tiến vào Huế đầu tháng 6, Thượng Tọa Thích Trí Quang ra lệnh cho Phật Tử cản trở bước tiến của quân đội bằng cách đem bàn thờ Phật bày ra ngoài đường, sau này báo chí gọi cảnh này là « bàn thờ Phật xuống đường(10) ». Cách chống trả độc đáo này hữu hiệu trong vòng mấy tuần liền vì xe thiết giáp và xe chở binh lính không dám đụng đến các đồ vật thờ phượng này. Nhưng đến hạ tuần tháng 6-1966, quân Nhảy Dù và Lực  Lượng Cảnh  Sát  Đặc Biệt  dưới sự chỉ huy của Đại Tá Nguyễn Ngọc Loan được lệnh khiêng các bàn thờ vào lề đường, không đụng chạm gì đến các tượng Phật và đồ thờ phượng để ở trên, và quân đội đi qua. Sau những trận giao tranh ác liệt, phe tranh đấu hoàn toàn tan vỡ(11).

Thượng Tọa Thích Trí Quang bị bắt đưa về Sài Gòn. Các người cầm đầu cuộc nổi loạn bị bắt rất nhiều, trong đó có cả các lãnh tụ sinh viên. Dịp này, một vài sinh viên có khuynh hướng thân cộng được phe cộng sản đưa vào bưng, và hoạt động tuyên truyền cho họ. Phần đông sinh viên còn lại bị bắt, bị cầm tù một thời gian ngắn rồi được trả tự do nếu không phải là thành phần cộng sản. Trong số đó có Hoài, sau này là em rể của Long, bị mấy tháng tù, sau đó trở về tiếp tục học Đại Học Sư Phạm và qua năm 1967 tốt nghiệp và được đổi đi dạy học ở Ban Mê Thuột, nên đến Tết Mậu Thân 1968 không có mặt tại Huế khi quân đội cộng sản chiếm cứ Huế trong hơn một tháng, với những thảm họa sẽ nói đến sau này (vào dịp này, vài sinh viên trước đây được đưa vào bưng đã được cộng sản đưa trở về Huế làm việc cho họ trong thời gian ngắn họ làm chủ tình hình ở Huế).

Cuộc khủng hoảng trầm trọng ở miền Trung năm 1966 cho  thấy trong dân chúng có nhiều người không chấp nhận chuyện Mỹ đổ quân vào miền Nam, kể cả những thành phần chống cộng. Những người này muốn tự họ chiến đấu chống lại cộng sản với sự giúp đỡ của Hoa Kỳ, nhưng không muốn có sự hiện diện của quân đội Mỹ trên đất nước mình. Sự hiện diện này đã làm lợi cho phe cộng sản vì họ đã hun đúc được ý chí của quân đội của họ, và khẩu hiệu « chống Mỹ cứu nước » được tuyên truyền trở thành một lý tưởng để họ dấn thân. 

Trong hoàn cảnh đất nước đảo điên vì chiến tranh và xáo trộn về chính trị như thế, người Việt ở nước ngoài hay sau này các thế hệ con cháu đặt câu hỏi làm cách nào người dân sinh sống được? Nhưng phải có sống trong môi trường đó mới hiểu được một điều: con người có sức chịu đựng ghê gớm, cũng như có một khả năng thích nghi ngoại hạng. Nói về quá khứ lâu dài thì các khả năng đó đã giúp loài người tồn tại qua mấy trăm ngàn năm thích nghi và biến đổi để hình thành nhân loại hôm nay mà không bị thiên nhiên đôi khi rất khắc nghiệt quật ngã. Còn nói về lịch sử ngắn hạn thì ai cũng thấy là, mặc dù trải qua các cuộc chiến tranh tàn khốc với bao nhiêu chết chóc, cuối cùng con người vẫn ngoi lên để sống còn.

Những năm xáo trộn trong thập niên 60 đó, Long không có những suy nghĩ sâu xa về chuyện này, chỉ biết là khi cần sống thì phải phấn đấu mà sống, thế thôi. Chàng có may mắn còn được tiếp tục sống trong một thành phố tương đối an toàn, còn được đi học dù trong hoàn cảnh chật vật, và chàng cũng đã có được bài học mất một năm học chỉ vì chán nản, thiếu ý chí, thiếu quyết tâm vươn lên. Phản ứng lại thất bại đó, chàng cương quyết dùng hết khả năng của mình để tiến lên. Và kết quả trước mắt là đến cuối niên học 1965-66, chàng thi lên lớp dễ dàng và tháng 9 năm 1966, chàng ghi danh học năm thứ tư Dược Khoa.Và đang có đà tiến lên như thế nên chàng qua Đại Học Khoa Học ghi tên học thêm hai chứng chỉ Điện và Quang, mục đích để lấy bằng Cử Nhân Giáo Khoa Vật Lý, lúc đó cần 6 chứng chỉ (Điện, Quang, Cơ Nhiệt, Vật Lý Lý Thuyết, Toán Thuật Trong Vật Lý, và một chứng chỉ nhiệm ý chọn trong vài chứng chỉ khác của ngành Vật  Lý,  như  Điện Tử). Trong thời kỳ này, giữa  Đại Học Khoa Học và các Đại Học Y, Nha, Dược có thỏa thuận là sinh viên bắt đầu từ năm thứ ba Y Nha Dược có thể qua học các chứng chỉ bên Khoa Học mà không cần phải qua chứng chỉ Dự Bị của năm thứ nhất Đại Học Khoa Học là một cửa ải rất khó khăn vì sinh viên năm thứ nhất quá đông. Các sinh viên Dược từ năm thứ ba phần đông học thêm bên Khoa Học các chứng chỉ về Hóa Học hoặc Thực Vật để bổ túc thêm cho kiến thức của ngành Dược, nhưng Long không làm như thế. Chàng vẫn thích Vật Lý từ khi còn học trung học, nên nhất định học những chứng chỉ về Vật Lý dù biết rằng học như thế sẽ mất rất nhiều công sức vì hai ngành Dược và Vật Lý gần như biệt lập với nhau. Chàng chỉ có thể thực hiện được việc học đồng thời cả hai bên bằng cách « cúp cua » khá nhiều bên trường Dược khi thời khóa biểu hai bên trùng nhau. Vì bên Dược Khoa, có thể học trên bản in ronéo do ban đại diện sinh viên tổ chức in ra, còn bên Khoa Học, nếu nghỉ một buổi học, qua buổi sau sẽ bị hụt hẫng vì bài học sau luôn cần đến những kiến thức được giảng trong bài học trước.

Ngoài ra chàng vẫn chơi thể thao, đặc biệt trong đội tuyển bóng rổ của Viện Đại Học Sài Gòn (bao gồm tất cả các phân khoa). Và chàng vẫn còn phải dạy học kèm tại tư gia để có tiền, thêm vào chi tiêu trong gia đình đang điêu đứng vì vật giá leo thang, mà không có ai biết buôn bán với Mỹ hoặc đi làm cho Mỹ cả. Lúc đó Long đã là anh lớn của 12 đứa em, tất cả đều còn đang đi học.

phamngoclan27
Đội bóng rổ sinh viên Đại học Sài Gòn, niên khóa 1967-68. Hình chụp ngày 19-10-1967, đấu với đội Phi Luật Tân. Tấn (đội trưởng) Đệ, Chí, Lân, (bạn không nhớ tên), huấn luyện viên (quân nhân Mỹ), Hùng, Đỉnh, Minh, Quang, Đức, Tâm.

Một kỷ niệm vui khi Long bắt đầu qua học bên Đại Học Khoa Học với hai chứng chỉ Điện và Quang.  Chứng chỉ Quang Học do Giáo Sư Nguyễn Chung Túi (sau này sẽ là Khoa Trưởng Đại Học Khoa Học) đảm trách, học tại đại giảng đường 1 gần cổng vào (đại giảng đường 2 lớn hơn, nằm sâu phía trong). Chứng chỉ này rất đông sinh viên, giảng đường khoảng 300 ghế vẫn không đủ chỗ, phải đứng hai bên tường hoặc ngồi bệt xuống đất ngay trước hàng ghế đầu. Qua vài tuần lễ đầu học với thầy Tú, Long mới bắt đầu làm quen với các thuật ngữ khoa học tiếng Việt (vì trước đây Long chỉ biết những từ này bằng tiếng Pháp, từ thời học trung học). Một hôm sau khi giảng bài, lúc còn nửa giờ sau, thầy Tú hỏi có ai tình nguyện lên bảng làm bài tập không. Chẳng thấy ai giơ tay tình nguyện – bản chất của sinh viên thời đó ít có chuyện « tình nguyện » lắm! – ông đảo mắt một vòng rồi chỉ vào một góc giảng đường nói « Anh kia, lên bảng đi ! ». Ông chỉ đúng vào chỗ Long ngồi, chàng sinh viên vốn nhút nhát này vẫn chưa hiểu, tại sao ông thầy lại gọi mình lên bảng, một tên sinh viên chỉ « học ké » bên Khoa Học, trong khi có mấy trăm tên khác là sinh viên « cơ hữu » của trường này, sao ông không gọi ? Long cố làm như không biết mình bị gọi, nhìn qua nhìn lại chung quanh xem có phải ai khác không, nhưng thầy Tú nhắc lại « Tôi gọi anh mặc áo sơ-mi xanh kia kìa ». Mọi người cười ồ làm Long, hôm đó mặc áo màu xanh lơ nhạt, đỏ mặt từ từ tiến lên bảng, cố nén không cho mọi người thấy mình run rẩy như thế nào!

Nhưng chẳng phải thầy Tú muốn « khảo bài » mà thật ra chỉ muốn đưa ra một bài tập và chỉ dẫn cách giải bài tập đó. Long đứng trên bảng theo hướng dẫn của thầy Tú cầm phấn viết chữ to và rõ ràng, vì dù sao chàng cũng đã từng quen lên bảng thời học trung học, và khi dạy kèm học trò tại tư gia cũng phải giảng bài trên bảng nên chuyện viết bảng là « nghề của chàng » rồi. Thế là từ hôm đó, mỗi khi cần một sinh viên lên bảng làm bài tập là thầy Tú lại gọi đến Long, vì vẫn không có ai tình nguyện cả. Cuối năm đó Long đậu cao chứng chỉ này, và nhiều năm sau gặp lại Giáo Sư Nguyễn Chung Tú, ông vẫn còn nhớ tên sinh viên được ông gọi lên bảng rất nhiều lần trong năm học, với những kỷ niệm êm đềm của thời sinh viên.

Sau này khi Long dạy môn Toán Thống Kê từ năm 1976 ở các trường Đại Học Dược, rồi Y và Nha, chàng cũng áp dụng cách gọi lên bảng làm bài tập của thầy Tú, nhưng khác ở chỗ là chàng có danh sách tên sinh viên, và chấm vào một tên nào đó trong danh sách để gọi đích danh lên bảng (chả biết sinh viên của chàng có run như chàng hồi đó ?), không như thầy Tú suốt năm cứ bắt chàng lên bảng đều đều!

Và rồi chàng sẽ còn biết ơn Giáo Sư Nguyễn Chung Tú nữa khi nhiều năm sau chàng được thầy giúp cho một việc thật quan trọng cho tương lai chàng sau này.

viendaihoc_saigon
Viện Đại Học Sài Gòn trong thập niên 1960, đường Duy Tân. Đây chỉ là nơi làm việc hành chánh của Viện, không phải là nơi giảng dạy. Viện gồm nhiều Khoa, như Dược Khoa, Văn Khoa, Khoa Học, v.v. Việc giảng dạy được tiến hành ở các khoa.

 

 

 

 

 (Còn tiếp)

Phạm Ngọc Lân

Cha vô danh – Chuyện kể cuộc đời một người Việt lai Pháp 

(i) Giáo sư Nguyễn Chung Tú (1922-2014) tốt nghiệp Cử Nhân Toán Lý Hóa tại Hà Nội rồi dạy học tại đây trước khi đi Pháp lấy bằng Tiến Sĩ Quốc Gia tại Đại Học Rennes. Về nước năm 1960, ông dạy tại Khoa Học Đại Học Đường Sài Gòn, và giữ chức vụ Khoa Trưởng từ 1966 đến 1973. Ông mất tại Sài Gòn năm 2014, thọ 92 tuổi. 

(1) Các tài liệu học tập của Hà Nội chia cuộc chiến tranh làm ba giai đoạn:

- Chiến tranh đặc biệt (trước 1965), lúc đó tại miền Nam chỉ có cố vấn Mỹ.

- Chiến tranh cục bộ (khi quân đội Mỹ đổ bộ vào miền Nam năm 1965)

- Việt Nam hóa chiến tranh (khi chính quyền Nixon quyết định từ từ rút quân về, kể từ 1970 cho đến hết cuộc chiến).  

(2) Ngày 10 tháng 3-1966, một thông báo chính thức cho biết Tướng Nguyễn Chánh Thi từ chức vì lý do sức khỏe, và được thay thế bởi Tướng Nguyễn Văn Chuân. Tướng Chuân đang là Tư Lệnh Sư Đoàn 1, trở thành Tư Lệnh Vùng 1 Chiến Thuật. Dĩ nhiên ai cũng biết Tướng Thi không có vấn đề sức khỏe, và cũng không từ chức.
Theo ông Tổng Lãnh Sự Pháp ở Sài Gòn Joseph Lambroschini, việc sa thải Tướng Thi có một phần áp lực của Đại Sứ Mỹ Cabot Lodge (trở lại Việt Nam năm 1965 làm Đại Sứ lần thứ hai, thay thế Đại Sứ Maxwell Taylor). Ông Habib, trách nhiệm các vấn đề chính trị bên cạnh Đại Sứ Lodge, trong một cuộc nói chuyện với một số nhà báo, không giấu giếm sự thỏa mãn về quyết định của Hội Đồng Tướng Lãnh, và khen ngợi sư cương quyết của Tướng Nguyễn Cao Kỳ trong việc này.
Ngày hôm sau 11-3-1966, tại Đà Nẵng, 5000 người biểu tình chống lại việc Tướng Thi bị cách chức. Đặc biệt trong số đó có một phần ba là quân nhân.
Ngày thứ bảy 12-3 lúc 10 giờ sáng, cũng ở Đà Nẵng, từ 3000 đến 5000 người biểu tình, vẫn đòi hỏi phải phục hồi chức vụ cho Tướng Thi. Một cuộc bãi khóa của học sinh được phát động, tất cả các trường đều hưởng ứng.
Cùng ngày, tại Huế, khoảng 300 học sinh trường Quốc Học đi một vòng các trường khác vận động xuống đường. Đến 11 giờ, tất cả các trường đều đóng cửa và học sinh xuống đường tuần hành, nhưng không có khẩu hiệu, cũng không có diễn văn.
Cùng thời điểm này, một cuộc họp quan trọng các nhà lãnh đạo Phật Giáo tại chùa Diệu Đế khai sinh ra hai tổ chức : « Lực lượng nhân dân tranh thủ cách mạng », chủ tịch là Bửu Tôn, một sinh viên Phật Tử của Đại Học Y Khoa Huế, và « Hội đồng sinh viên tranh thủ cách mạng », chủ tịch là Nguyễn Hữu Giao, sinh viên Luật Khoa.

(3) Ngày 23-3-1966, sinh viên Huế tổ chức đại hội và quyết định chiếm đài phát thanh. Kể từ hôm đó, đài phát thanh Huế nằm trong tay của sinh viên.
Cùng ngày tại Đà Nẵng, « Lực lượng nhân dân đấu tranh cách mạng » kêu gọi tổng đình công 48 giờ, được hưởng ứng một trăm phần trăm. Công nhân, học sinh (cả học sinh trường Pháp Blaise Pascal), công chức, tư chức, kể cả những người làm cho Mỹ đều hưởng ứng đình công. Không còn các chuyến bay của Hàng Không Việt Nam, Đà Nẵng hoàn toàn bị cô lập.
Đài phát thanh Đà Nẵng được cho sinh viên « mượn », với giấy phép của chính ông Thị trưởng Đà Nẵng, bác sĩ Nguyễn Văn Mẫn.
Trong các diễn văn, không còn thấy nhắc đến Tướng Nguyễn Chánh Thi nữa, việc cách chức ông chỉ được dùng làm cái cớ để khơi mào cuộc đấu tranh.
Tại Đà Lạt, phe tranh đấu chiếm đài phát thanh ngày 1-4-1966. Ba ngày sau, lực lượng cảnh sát đặc biệt bao vây đài và tấn công lúc 4 giờ sáng. Phe tranh đấu chống cự không được phải rút sau khi đốt cháy đài phát thanh. Cuộc hỏa hoạn kéo dài đến chiều ngày 5 tháng Tư.

(4) Chủ nhật 27 tháng 3-1966, một cuộc biểu tình khổng lồ với 20.000 người được phe tranh đấu Phật Giáo tổ chức tại Huế, dưới hình thức tuần hành ngoài đường phố để tưởng nhớ Quách Thị Trang, người nữ sinh ở Sài Gòn thiệt mạng trong lúc biểu tình năm 1963 chống ông Diệm. Tuần hành từ chùa Diệu Đế đến chùa Từ Đàm, có sự tham gia của 2000 quân nhân mặc quân phục. Cuộc biểu tình diễn ra rất trật tự, do các thanh niên Phật Tử đảm trách an ninh. Đặc biệt có các khẩu hiệu « Đả đảo Mỹ». Mỹ bị kết án ngăn cản việc bầu cử một quốc hội mới và việc thành lập một chính quyền dân sự.
Trong đêm mùng 4 rạng ngày mùng 5 tháng tư, ba tiểu đoàn Thủy Quân Lục Chiến với khoảng 1900 người được máy bay Mỹ chở từ Sài Gòn ra căn cứ không quân Đà Nẵng. Lập tức phe tranh đấu lập ra các chốt ngăn chặn trên đường phố và các đơn vị quân đội tại chỗ sẵn sàng ứng chiến ở các chốt này. Nhưng cuối cùng đã không có đụng độ giữa hai phe, dù sao cũng trong cùng một hàng ngũ quân đội quốc gia.

(5) Ngày 4 tháng tư, Tướng Nguyễn Văn Thiệu đọc diễn văn trên đài phát thanh về tính chất nguy kịch của tình hình, chỉ làm lợi cho cộng sản. Ông nhắc lại là tình trạng khẩn trương được công bố từ ngày 24 tháng 6-1965 vẫn còn hiệu lực.
Tại Sài Gòn, quân nhân Mỹ phải cấm trại, công chức Mỹ được khuyên không nên ra khỏi nhà. Đêm đến, một cuộc xuống đường đụng độ với cảnh sát dã chiến, một xe Jeep của Mỹ bị đốt. Giờ giới nghiêm tăng lên, từ 9 giờ tối đến 5 giờ sáng.
Ngày 5-4-1966, sinh viên Huế biểu tình tuần hành trước cơ quan quân sự MACV của Mỹ trên đường Duy Tân. Mỹ phải tháo bỏ các rào cản bảo vệ cơ quan để cho đoàn biểu tình đi qua. Ngày 12, Thượng Tọa Thích Trí Quang, người thực sự lãnh đạo phong trào tranh đấu, trả lời phỏng vấn tờ báo tiếng Anh Saigon Daily News. Ông nói ông chống đường lối của Hoa Kỳ ngăn cản việc thành lập một quốc hội do dân bầu lên. Trả lời một cuộc phỏng vấn khác của báo L’Expresss của Pháp, ông cho rằng người Mỹ đến đây để bảo vệ miền Nam Việt Nam, nhưng họ đang tiến hành một cuộc chiến trong thế chiến lược toàn cầu. Ông nói Việt Nam đang là nạn nhân của chiến lược đó.

(6) Ngày 13-4-1966 lúc 0 giờ 20, lần đầu tiên trong cuộc chiến, phi trường Tân Sơn Nhứt chỉ cách Sài Gòn mấy cây số bị đại bác tấn công trong vòng 20 phút. 75 viên đạn pháo kích làm 10 người thiệt mạng trong đó có 9 người Mỹ, làm bị thương 128 người trong đó có 109 người Mỹ, phá hủy 2 máy bay, làm hư hại 23 trực thăng, và đốt cháy một kho nhiên liệu một triệu rưỡi lít.

(7) Ngày thứ bảy 14-5-1966, Hội Đồng Tướng Lãnh họp mật, không cho phía Hoa Kỳ biết, và lấy quyết định dẹp loạn miền Trung bằng võ lực, gọi là chiến dịch Đinh Bộ Lĩnh.

Ngay đêm đó, một tiểu đoàn Thủy Quân Lục Chiến được máy bay C-47 của không quân Việt Nam chở từ Tân Sơn Nhứt ra phi trường Đà Nẵng, không dùng phi cơ quân sự của Mỹ như lần trước (hồi tháng tư).
Ngay 5 giờ sáng chủ nhật 15, đoàn quân này, với sự yểm trợ của 7 chiếc xe thiết giáp, bất ngờ tiến vào Đà Nẵng và chiếm đóng tổng hành dinh của Vùng 1 Chiến Thuật. Tướng Tôn Thất Đính tư lệnh vùng 1 phải vào căn cứ Mỹ tị nạn với Tướng Lewis Walt chỉ huy Thủy Quân Lục Chiến Mỹ tại đây (Tướng Đính mới lên làm tư lệnh thay Tướng Nguyễn Văn Chuân là người thay tướng Nguyễn Chánh Thi trước đây). Tòa Thị Trưởng cũng bị chiếm (ông Thị Trưởng Nguyễn Văn Mẫn kịp trốn thoát), cũng như khu Tư Lệnh Cảnh Sát. Đến 7 giờ 30, khu quân sự Đà Nẵng và các tòa nhà hành chánh đều lọt vào tay quân đội của Sài Gòn.
Phải đến 10 giờ sáng mới có lời kêu gọi kháng cự của phe tranh đấu được loan đi trên đài phát thanh. Một cuộc nổ súng diễn ra và kéo dài đến chiều tối.
Lúc 12 giờ 30 trưa, tiểu đoàn 5 Nhảy Dù (với 500 quân nhân) được máy bay dân sự của Hàng Không Việt Nam đưa đến tăng viện, sau đó là tiểu đoàn 1 Nhảy Dù.
Ngày 20, một trận chiến ác liệt diễn ra với đại bác, thiết giáp và phi cơ. Sáu tiểu đoàn quân chính quyền bao vây khu chùa ở Đà Nẵng, với từ 700 đến 1000 quân của phe tranh đấu cố thủ. Máy bay ném bom. Các cuộc hành quân được chỉ huy bởi Đại Tá Nguyễn Ngọc Loan, Tổng Tư Lệnh Cảnh Sát mới thay Đại Tá Phạm Văn Liễu.
Trong khi đó thì tại Huế, phe tranh đấu loan tin có 5000 tay súng sẵn sàng đến tiếp cứu các anh em Phật Tử Đà Nẵng chống lại « bè lũ Thiệu Kỳ ». Thượng Tọa Thích Trí Quang gửi một điện văn cho Tổng Thống Mỹ Johnson đòi hỏi quân đội Mỹ chống lại hành động đàn áp của quân đội trung ương.
Tại Sài Gòn, 15.000 người tụ tập tại Viện Hóa Đạo của Phật Giáo. Thượng Tọa Thích Thiện Minh tuyên bố « toàn dân sẽ nổi lên chống Mỹ nếu Mỹ tiếp tục cung cấp vũ khí cho ông Kỳ ». Sau đó nhiều thanh niên đã xuống đường hô khẩu hiệu chống Mỹ, ngoài tầm kiểm soát của tổ chức biểu tình.
Ngày 21, hai tòa lãnh sự Mỹ và Pháp ở Đà Nẵng tổ chức di tản kiều bào của họ.
Qua ngày 23, các lực lượng tranh đấu ở Đà Nẵng đầu hàng. Ông Thị Trưởng Đà Nẵng là Bác Sĩ Nguyễn Văn Mẫn bị bắt và giải về Sài Gòn.
Nhưng đồng thời tại Huế, hai Tướng Thi và Đính tuyên bố tiếp tục cuộc đấu tranh. Hai ông cùng khoảng ba chục viên chức hành chánh từ chối vào Sài Gòn tham dự Hội đồng dân quân vào ngày thứ ba 24-5-1966.

(8) Chủ nhật 29-5-1966, Huế và Sài Gòn chứng kiến hai vụ tự thiêu. Tại chùa Diệu Đế ở Huế, lúc 4 giờ 30 sáng, ni cô Thanh Quang tự thiêu, để lại một bức thư gửi Tổng Thống Johnson, nói lên mục đích tự thiêu là « hy vọng gióng lên một tiếng nói cho những đau khổ của dân tộc. »
Cùng ngày tại Sài Gòn, một đám đông khoảng 20.000 người đối mặt với cảnh sát và quân đội, ngăn cách bởi các rào cản bằng dây kẽm gai, ngăn không cho họ vào bên trong Viện Hóa Đạo. Sau hai tiếng đồng hồ, rào cản được tháo bỏ, đám đông ùa vào Viện Hóa Đạo, một ni cô trẻ có tên Viên Ngọc tự thiêu. Ngày 30-5 tại Đà Lạt, một nhà sư tự thiêu tại chùa, một thiếu nữ tự vẫn bằng cách cắt gân máu.
Chiều hôm đó, một nữ Phật tử trẻ tên Hồ Thị Châu tự thiêu. Trong khi đó thì ở Washington, Tổng Thống Johnson đọc bài diễn văn tại nghĩa trang Arlington nhân ngày kỷ niệm chiến sĩ trận vong (Memorial Day). Ông nhắc đến các vụ tự thiêu ở Việt Nam mà ông xem như « vô ích ». Ông nói Hoa Kỳ có mặt tại Việt Nam với một mục tiêu đáng kính và có giới hạn: đẩy lui cuộc tấn công của cộng sản để người dân Việt Nam có thể tự mình chọn lựa một thể chế chính trị với những phương tiện hòa bình.
Ngày 31, thêm một vụ tự thiêu ở Huế. Một nữ Phật Tử 17 tuổi tên Nguyễn Thị Vân tự thiêu ngoài đường trước chùa Thanh Hội.
Thứ bảy 4-6-1966, thêm ba vụ tự thiêu của một nhà sư và hai ni cô ở Sài Gòn, Nha Trang và Quảng Trị.
Cùng ngày đó, ở Huế, Thượng Tọa Thích Trí Quang họp báo để cải chính tin loan đi từ Sài Gòn rằng chính quyền đã chiếm lại được thành phố Huế. Ông cũng nhân dịp này đả kích lời tuyên bố của Tổng Thống Mỹ: « Nếu tôi là công dân Mỹ, tôi sẽ lấy làm xấu hổ về những tuyên bố của Tổng Thống Johnson khi ông nói những vụ tự thiêu là những hành động vô ích làm lu mờ những hy sinh mà bao người Việt Nam phải hứng chịu trong cuộc chiến chống cộng sản. Lời tuyên bố này chứng tỏ hai điều. Một là ông Johnson không hiểu gì về vấn đề Việt Nam. Hai là ông Johnson hỗn xược. Nếu người Mỹ muốn nối tiếp công cuộc thực dân đã bắt đầu từ 130 năm trước, thì bổn phận của chúng ta là phải tiếp tục đấu tranh».

(9) Tại Huế, sáng ngày 26-5-1966, tang lễ Trung úy Nguyễn Đại Thức được cử hành trọng thể (Nguyễn Đại Thức bị bắn chết bởi đạn đại liên của người lính Mỹ bắn từ chiếc trực thăng chở Tướng Huỳnh Văn Cao ngày 17-5) . Đám ma đi vòng quanh thành phố trở thành một cuộc biểu tình lớn với Thượng Tọa Thích Trí Quang dẫn đầu 7000 người. Khi qua Tòa Lãnh Sự Mỹ, một toán sinh viên đang tuyệt thực tại đây từ hôm trước, đang chuẩn bị tấn công tòa nhà này, nhập đoàn biểu tình theo lời mời của Phật Tử.
Buổi chiều cùng ngày, 150 sinh viên tấn công và đốt cháy cơ quan USIS (phòng thông tin Hoa Kỳ) và thư viện của cơ quan này. Hỏa hoạn kéo dài từ 4 giờ chiều đến nửa đêm, đốt cháy rất nhiều sách vở, phim ảnh. Khẩu hiệu viết trên tường của tòa nhà là « Đả đảo văn hoá nô dịch. »
Mấy ngày sau, ngày 1 tháng 6, một đám đông từ 500 đến 800 sinh viên tấn công và đốt tòa nhà lãnh sự Mỹ, bị hư hại đến 70%. Nhân viên làm việc tại đây đã được di tản đến cơ quan quân sự MACV của Mỹ từ một tuần trước.

(10) Ngày 6-6-1966, đài phát thanh Huế bị đóng cửa. Cho tới hôm đó, đài do phe tranh đấu kiểm soát. Ngay sau đó, một đài phát thanh bí mật loan truyền lời kêu gọi của ban lãnh đạo tranh đấu kêu gọi các Phật Tử mang bàn thờ Phật ra ngoài đường để ngăn ngừa cuộc tấn công của quân đội từ Sài Gòn ra.

Ngay buổi chiều hôm đó, các bàn thờ bày ra ngoài đường, và một cuộc đình công toàn bộ được phát động, và  rất thành công: tất cả các cửa tiệm đều đóng cửa, các nơi làm việc của công chức cũng đóng cửa đến 80%.

(11) Ngày 15-6-1966, vào lúc 9 giờ tối, 500 binh sĩ thuộc tiểu đoàn 5 Nhảy Dù được di chuyển từ sân bay Phú Bài vào Huế tăng cường cho lực lượng cảnh sát đặc biệt. Sáng sớm hôm sau, họ đóng chốt tại các nơi quan yếu, rồi từ 4 giờ sáng đến chiều tối hôm đó, lực lượng cảnh sát đặc biệt từ Sài Gòn ra từ từ khiêng bàn thờ vào lề đường. Các cuộc biểu tình bị giải tán nhanh chóng bằng lựu đạn cay và súng bắn chỉ thiên.

Buổi chiều, binh sĩ thuộc Sư đoàn 1 theo phe tranh đấu cùng các Phật Tử cố thủ trong chùa Diệu Đế được bao bọc bởi các bàn thờ Phật, đối đầu với xe thiết giáp của quân đội dưới quyền điều động của Đại Tá Nguyễn Ngọc Loan, Tư Lệnh Cảnh Sát Quốc Gia. Súng nổ làm hai người dân thiệt mang, hai cảnh sát bị thương.

Trong khi đó, Sài Gòn tiếp tục hỗn loạn qua ngày thứ tư : buổi tối, một xe Mỹ và một xe thiết giáp bị đốt cháy.

Ngày 17, một tiểu đoàn Nhảy Dù được chuyển đến để tăng cường cho tiểu đoàn hôm trước. Phe tranh đấu rút vào thành nội cố thủ, bao vây bởi các lực lượng của chính quyền. Qua sáng ngày 18, lực lượng chính quyền chiếm chùa Diệu Đế, và buổi chiều chiếm thành nội mà không phải nổ súng.

Cùng ngày ở Sài Gòn, quân đội bao vây Viện Hóa Đạo, sau khi một cảnh sát bị hạ sát. Hung thủ được phe đấu tranh tung hô như người hùng, và tị nạn trong Viện Hóa Đạo. Tại đây, lại xảy ra một cuộc tự thiêu của một thiếu nữ.

Ngày 21-6-1966, Thượng Tọa Thích Trí Quang bị bắt tại bịnh viện Huế, nơi ông đang dưỡng bịnh vì tuyệt thực từ ngày 8-6. Sau đó ông được đưa ra máy bay chở vào Sài Gòn, quản thúc tại bịnh viện Duy Tân, ở đây ông tiếp tục tuyệt thực.

Trong thời gian đụng độ, cuối cùng có 7 binh sĩ thuộc chính quyền bị thương, 190 quân nhân, 109 công chức và 35 cảnh sát theo phe tranh đấu bị bắt, cùng các người lãnh đạo phong trào.

Cuộc khủng hoảng chấm dứt vào ngày 30-6-1966 sau những cuộc thương thuyết giữa Tướng Nguyễn Cao Kỳ và Viện Trưởng Viện Hóa Đạo, Thượng Tọa Thích Tâm Châu. Một bức thư ngỏ được công bố, chấp nhận những điểm do Viện Hóa Đạo đòi hỏi: tôn trọng các chùa chiền, bảo đảm an ninh cho các nhà sư, trả tự do cho những người bị bắt vì cuộc khủng hoảng, khoan hồng với những người tích cực tham gia cuộc tranh đấu, ngoại trừ những người lãnh đạo và những người cộng sản trà trộn vào phong trào.