Cha danh - 34. Từ “Đường Sáng” đến “Nguồn Sống” (Phạm Ngọc Lân)

Lượt xem: 356

“…Chàng khám phá ra là mình cũng có vài khả năng văn nghệ giúp cho đời thêm vui, và từ đó thêm tự tin để sau này có thêm yếu tố thành công trong cuộc đời…

Đường Sáng là tên của một ban văn nghệ trong chương trình công tác xã hội của sinh viên học sinh Sài Gòn trong kỳ nghỉ hè năm 1965 (1). Chương trình này có mục đích huy động sinh viên học sinh ở thành phố tham gia công tác xã hội trong các vùng quê xa xôi hẻo lánh, đồng thời cũng là một cách để giới trẻ tiếp xúc với cuộc sống hằng ngày của người dân trong lúc chiến tranh đang leo thang. Và cũng muốn cho giới trẻ hiểu là có những công tác hữu ích cho đất nướ hơn là xuống đường và bãi khóa.Chương trình có thành công trong mục tiêu này hay không lại là chuyện khác, có vẻ như thanh niên tham gia công tác xã hội và thanh niên tham gia biểu tình thuộc hai giới riêng biệt.

Trong chương trình này, ngoài những công tác chính như dựng những căn nhà thô sơ cho đồng bào tị nạn chiến tranh, xây cất trường học, bệnh xá bằng vật liệu nhẹ, sửa chữa đường làng, cầu gỗ... còn có công tác văn nghệ tuy là phụ nhưng lại rất thành công. Đoàn văn nghệ Đường Sáng gồm khoảng 40 thành viên, đa số lấy từ các ban văn nghệ của các trường trung học. Đặc biệt có ban nhạc cổ truyền và ban kịch xuất thân từ Trường Quốc Gia Âm Nhạc. Riêng ban nhạc là một nhóm bạn đã sinh hoạt từ mộthai năm trước, có tên là Trùng Dương. Long là một thành viên của ban nhạc này.

Để tìm hiểu trong hoàn cảnh nào Long tham gia ban Trùng Dương, phải trở lại đầu năm 1963 khi anh chàng sinh viên 19 tuổi chân ướt chân ráo bước vào cư xá sinh viên Đắc Lộ như đã nói trong một đoạn trước đây.

Từ bé Long vẫn thích đàn hát, mẹ của Long còn nhắc chuyện lúc tản cư đến Phúc Yên, thằng bé Tây lai 4 tuổi đứng ngoài sân vừa nhịp chân vừa hát « Bao chiến sĩ anh hùng, lạnh lùng vung gươm ra sa trường...» cho các chú bộ đội đứng quây thành vòng tròn nghe. Nhưng thích là một chuyện, thực tế chẳng bao giờ thằng bé có cơ hội được sờ vào một cây đàn. Cho tới khi lên đại học, cho tới khi vào sống trong cư xá Đắc Lộ. Lúc đó năng khiếu văn nghệ tiềm ẩn từ lúc cha sinh mẹ đẻ mới có cơ hội phát triển.

Cư xá Đắc Lộ có một dàn nhạc gồm một bộ trống, ba cây kèn (trompette, clarinette và saxo tenor), đàn guitare thùng, guitare điện, guitare basse...Long làm thân ngay với anh bạn trưởng ban nhạc tên L. tự là L. Kèn vì bạn này thổi clarinette rất hay. Đó là nhạc cụ chính, nhưng L. Kèn cũng chơi được tất cả các nhạc cụ khác có trong dàn nhạc này, nên nghiễm nhiên trở thành người đầu tiên dẫn dắt Long vào con đường đàn hát. Lúc đó Long chưa biết chơi gì cả, anh bạn L. Kèn nói ban nhạc có người chơi trống nhưng cuối năm ra trường nên đang cần tay trống. Long xung phong ngay, mặc dù chưa khi nào có dịp rờ đến cặp dùi để đánh trống cả.

Thế là sau khi anh bạn chỉ cho vài đường trống căn bản, Long « dùi mài » để trở thành tay trống trong suốt thời gian học đại học. Thật ra cũng chỉ chơi những điệu nhạc thông thường bằng cách tự học, nghe đĩa, đi xem các tay trống chuyên nghiệp biểu diễn...Đồng thời L.Kèn cũng chỉ vẽ thêm guitare và kèn saxo, nhưng thời gian này, nhạc cụ chính của Long vẫn là trống.


phamngoclan24
Một buổi văn nghệ đáng ghi nhớ trong Ngày Truyền Thống của cư xá sinh viên
Phục Hưng ngày 18-12-1965. Tổ chức ngoài trời, không ngờ trời mưa!
Tác giả (trống) với Lương Định Bảo (trompette) và Nguyễn Ngọc Long (guitare).

Và chàng nghiễm nhiên trở thành một thành phần của ban nhạc cư xá Đắc Lộ. Ban nhạc này phải tập dượt rất công phu để mỗi năm một lầnchơi trong ngày « Lễ Phụ Huynh ». Đó là dịp duy nhất trong năm cư xá mở cửa mời thân nhân đến viếng thăm nơi ăn chốn ở, thưởng thức tiệc trà và một buổi trình diễn văn nghệ dochín sinh viên cư x đảmtrách (Cha Giám Đốc rất khắt khe trong việc không được mời người ngoài vào giúp cho buổi văn nghệ này, phải hoàn toàn « cây nhà lá vườn » !).

phamngoclan25
Ban nhạc cư xá sinh viên Đắc Lộ niên khóa 1964-65. Hình chụp nhân ngày lễ Phụ Huynh của cư xá. Linh mục Giám Đốc Henri Forest và các thành viên của ban nhạc, gồm tác giả và các bạn : Robert Phạm Ngọc Thuần, Nguyễn Đức Phương, Nguyễn Ngọc Long, Nguyễn Tùng Lâm,Trương Bửu Hoa, Huỳnh Kim Chung và Trần Đình Thi.

Cuối năm 1964, miền Trung bị một nạn lụt trầm trọng. Bình thường năm nào miền Trung cũng bị lũ lụt, nhưng năm Con Rồng này miền Trung bị rất nặng. Sinh viên học sinh Sài Gòncũng như mọi giới ở mọi nơi miền Nam lúc đó huy động làm công tác cứu lụt. Sinh viên cư xá Đắc Lộ cũng hăng hái tham gia công tác quy mô này. Ngoài việc đi từng nhà quyên góp quần áo thực phẩm, các bạn trong ban văn nghệ của cư xácòn tổ chức cùng với nữ sinh viên cư xá Thanh Quan và các côdạy vườn trẻ Caritas (đường Đoàn Thị Điểm) một buổi văn nghệ gây quỹ cứu lụt. Mượnđược nơi trình diễn là « Salle Lamartine » trong Trung Tâm Văn Hóa Pháp, một rạp hát nhỏ rất đẹp khoảng 300 chỗ, huy động bán vé được đầy rạp, các tiết mục xuất sắc rất được hoan nghênh. Đã từ lâu giữa cư xá Đắc Lộ với các cư xá bạn vẫn có mối quan hệ rất tốt, nên sau công tác chung đầu năm 1965 này, tình thân hữu càng thắt chặt hơn và sau này sẽ có mấy đám cưới chứng minh hùng hồn cho tình thân này.

Trở lại với hoạt động âm nhạc của Long, trong niên khóa 1963-64, bạn L. Kèn rủ anh chàng lính mới tò te trong lãnh vựcvăn nghệ này tham gia một ban nhạc ngoài phạm vi của cư xá Đắc Lộ. Người chủ xướng ban nhạc này là một sinh viên kỹ sư Phú Thọ tên Ph. chơi piano. Ngoài Long và L. Kèn, còn có B. chơi trompette nên cũng được gọi là B. Kèn, T. chơi guitare bass, H. chơi guitare đệm, tất cả đều là sinh viên, ngoại trừ c asĩ chính là một nữ sinh trường trung học Pháp Marie Curie. Sau này cô nữ sinh đó sẽ trở thành một ca sĩ nổi tiếng, đó là Thanh Lan.

Ban nhạc lấy tên là ban Trùng Dương, tập dợt mỗi chiều chủ nhật tại nhà ông anh của Ph. đường Phạm Đăng Hưng, cách nhà Thanh Lan vài căn. Lúc đó Thanh Lan còn học lớp Seconde (tương đương lớp 10), hát nhạc Pháp rất hay, nhưng hát cácca khúc Việt Nam cũng không thua gì ca sĩ chuyên nghiệp. Sau này cô bé nữ sinh nhảy một lớp học thi tú tài rồi vào theo học tại Đại Học Văn Khoa. Dần dần cô ca sĩ học sinh rồi sinh viên đi theo nghiệp hát, và các bạn trong ban Trùng Dương không ai ngạc nhiên khi Thanh Lan về sau nổi danh là « Nữ hoàng nhạc Pháp » và được giới trẻ đặc biệt mến mộ. Có lẽ ít ai biết là cô ca sĩ nổi tiếng này đã bắt đầu nghiệp hát của mình với một ban nhạc sinh viên có tên là Trùng Dương.

Ngoài những lần trình diễn cho các buổi lễ trong các đại học,ban Trùng Dương còn chơi hàng tháng vào chiều chủ nhật đầu tháng tại Hội Việt Mỹ (nằm giữa hai đường Mạc Đĩnh Chi và Phùng Khắc Khoan), nên cũng có được chút đỉnh tiền dùng cho chi phí mua sắm dụng cụ.

phamngoclan26
Buổi văn nghệ gây quỹ cứu lụt miền Trung ngày 17 tháng 1-1965, do sinh viên cư xá
Đắc Lộ hợp tác với các nữ sinh viên cư xá Thanh Quan và vườn trẻ Caritas. Hình chụp trước cổng vào Trung Tâm Văn Hóa Pháp, sau buổi trình diễn rất thành công trong « Salle Lamartine » một rạp hát nhỏ cũng dùng để chiếu phim của Trung Tâm này.

Khi chương trình Công Tác Hè 1965 được phát động, banTrùng Dương nghiễm nhiên trở thành ban nhạc nòng cốt củađoàn Văn Nghệ Đường Sáng, vì Ph. là bạn thân với các sinh viên khởi xướng chương trình này.

Ban Đường Sáng mượn được một ngôi trường trung học vào buổi tối và cuối tuần để tập dợt ráo riết trước khi đi lưu diễn trong mùa hè 1965. Long nhớ mãi một buổi tối trình diễn ở mộtnơi hẻo lánh miền Trung trong tỉnh Bình Định, sân khấu được dựng lên giữa đồng không mông quạnh, chỉ là mấy tấm ván bắc trên mấy con ngựa, phía sau có tấm vải trắng bay phất phơ trước gió làm « phông ». Vậy mà cũng có đồng bào địa phương lặn lội từ tận đâu đâu đến xem, thật làxúc động đối với đám sinh viên học sinh từ Sài Gòn ra. Hôm đó Long còn nhớ mội chi tiết lý thú:cũng nơi ấy ngày hôm trước, ca sĩElvis Phương cũng hát trên cái sân khấu giữa đồng không mông quạnh đó.Lúc đó chàng ca sĩ nổi tiếng này đang phục vụ trong quân đội (vì trong hạn tuổi quân dịch) trong ban văn nghệ Hoa Tình Thương thuộc Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị, một ban văn nghệ nổi tiếng với rất nhiều nghệ sĩ chuyên nghiệp tài năng. Sinh hoạt hè 1965 cho thấy rõ thêm tình hình chiến sự không mấy tốt đẹp cho Việt Nam Cộng Hòa. Đi đâu cũng có vấn đề an ninh được đặt ra, cuối cùng ban Đường Sáng ít có cơ hội thật sự về các làng mạc xa xôi hẻo lánh như dự trù lúc đầu, mà chỉ trình diễn ở các tỉnh nhỏ là chính.

Hết hè cũng là lúc chương trình kết thúc, và ban văn nghệ Đường Sáng cũng tự giải tán. Một số bạn thấy tiếc công trình tập dượt các tiết mục, và nhất là cơ hội đã quy tụ được một số sinh viên học sinh thích văn nghệ thành một nhóm có gắn bó với nhau, nên đề nghị lập ra một đoàn văn nghệ mới, hoàn toàn độc lập về tổ chức cũng như tài chánh. Đoàn Văn Nghệ Sinh Viên Học Sinh Nguồn Sống ra đời từ ý kiến đó.

Đoàn Nguồn Sống quy tụ hơn phân nửa thành viên của Đường Sáng, và dần dần có thêm các bạn mới gia nhập, trở nên một đoà văn ghệ hùng hậu. Đoàn trưởng đầu tiên chính là Ph., anh trưởng ban nhạc Trùng Dương.

Đoàn xin được một ngôi nhà trong khu đất rộng rãi của khu Đại Học Văn Khoa cũ đường Gia Long ngay trung tâm thành phố (2) (thời Pháp thuộc, nơi đó là khám lớn Sài Gòn đã bị phá bỏ). Đólà nơi sinh hoạt thường xuyên của đoàn, rất tấp nập vào ngày chủ nhật là ngày tập dượt các tiết mục. So với Đường Sáng trước kia chỉ sinh hoạt rất ngắn hạn trong hai tháng hè 1965, Nguồn Sống có ước vọng sẽ đi đường dài nên tổ chức quy môhơn nhiều, dù không có nguồn tài trợ ban đầu. Ngoài ban nhạc Trùng Dương và ban nhạc cổ truyền, ban ca, ban vũ, ban kịch, ban hội họa, còn có cả ban báo chí. Trái với ban ca của Đường Sáng chỉ có giờ tâp dượt các bài đơn ca là chính, nay ban ca của Nguồn Sống có thêm một ban hợp xướng, đòi hỏi rất nhiều thời gian và công phu luyện tập. Bài đầu tiên được trình diễn là Sông Mẹ, một trong bốn phần của trường ca Mẹ Việt Nam (3). Tuyệt tác này của Phạm Duy mới trình làng được ít lâu, nên có thể nói Nguồn Sống đã đi tiên phong trong việc phổ biến trường ca này.

phamngoclan_thanhlan
Hình chụp năm 1967
trước trụ sở của đoàn Nguồn Sống (phía trên cửa sổ có thấy một phần huy hiệu của đoàn), nhân dịp tiếp đón phái đoàn sinh viên học sinh Lào qua viếng thăm. Trong hình, một số thành viên của đoàn chụp với hai nữ sinh viên Lào đứng giữa, bên cạnh là ca sĩ Thanh Lan mặc áo dài.

Giọng ca Thanh Lan lúc đó tỏ ra không chỉ thích hợp với nhạc Pháp như nhiều người tưởng, mà còn xuất sắc trong các điệu dân ca mà Phạm Duy dùng trong trường ca Mẹ Việt Nam của mình. Nguồn Sống chủ trương « về nguồn » nên dù đang là thời kỳ của nhạc ngoại quốc, của kích động nhạc, nhưng trong chương trình của Nguồn Sống chỉ có nhạc Việt Nam, cả tân nhạc lẫn cổ nhạc. Long còn nhớ mãi Thanh Lan hát rất đạt bài Giấc Mơ Hồi Hương của Vũ Thành.

Chính vì ý thức « về nguồn », đi ngược chiều với xu hướng « Mỹ hóa » từ năm 1965 khi quân đội Hoa Kỳ ồ ạtđổ vào miền Nam nên đoàn Nguồn Sống có sắc thái đặc biệt và được giới sinh viên học sinh ủng hộ hếtmình.Điển hình là đoàn cómột ban nhạc cổ truyền hùng hậu do chị Thúy Hoan đảm trách (lúc đó chị mới tốt nghiệp hay sắp tốt nghiệp trường Quốc Gia Âm Nhạc, sau này chị là giáo sư nổi tiếng tại đấy). Các bạn trong ban tân nhạc được khuyến khích học thêm một nhạc cụ cổ truyền, và đó là cơ hội để Long học thêm đàn bầu. Sau này ở Paris có Phương Oanh (ban Phượng Ca Dân Ca Quốc Nhạc) và Quỳnh Hạnh là hai người nổi tiếng về dân ca và nhạc cụ cổ truyền, đều có tham gia trong đoàn Nguồn Sống ngày xưa.

phamngoclan_danbau
Chơi đàn bầu trong buổi trình diễn văn nghệ của Đoàn Nguồn Sống tại rạp Đại Nam Sài Gòn, ngày 18-1-1966. Tác giả bên cạnh Nguyễn Ngọc Long. Chị Vân là thầy dạy đàn bầu cho mọi người.
Bạn thứ tư không nhớ tên.

phamngoclan_danbau01
Tác giả chơi đàn bầu trong một buổi trình diễn của đoàn Nguốn Sống
tại hội Việt Mỹ ngày 30-4-1966.

Đối với Long, những sinh hoạt văn nghệ từ lúc đầu trong cư xá Đắc Lộ, rồi đến ban Trùng Dương, qua Đường Sáng và cuối cùng là đoàn Nguồn Sống đã ảnh hưởng nhiều trên cá tính của chàng thanh niên vốn nhút nhát và thiếu tự tin này. Chàng khám phá ra là mình cũng có vài khả năng văn nghệ giúp cho đời thêm vui, và từ đó thêm tự tin để sau này có thêm yếu tố thành công trong cuộc đời.

Ngoài ra, từ những ngày đầu tập sự ngành Dược trong phòng bào chế thuốc của bịnh viện Grall, chàng cũng nhận ra mình là con người đa cảm, con tim dễ dàng đập nhanh hơn khi tiếp xúc với một bóng hồng nào đó. Và quả thật, trong suốt cuộc đời sinh viên, đã nhiều lần chàng cảm thấy tình cảm của  mình đối với một đối tượng phái nữ có gì đó khác lạ. Và cũng có khi có sự đáp ứng, thúc đẩy tình cảm kia nảy nở thêm. Nhưng chưa khi nào chàng vượt qua ranh giới của tình bạn cả.

Điều này chắc chắn có một phần lớn ảnh hưởng của mẹ chàng, bà luôn nhắc nhở là một người con trai phải biết tôn trọng người con gái và phải giữ khoảng cách khi mà mình chưa thể nghĩ đến chuyện hôn nhân. Điều này vào thời điểm thập niên 60 ở Việt Nam xem là hiển nhiên, tuy rằng không phải dễ mà theo được những nguyên tắc luân lý đó, nhất là với những anh chàng có trái tim dễ đập loạn xạ như Long...Nghĩ ại, so với những phong tục tập quán mới của các nước phương Tây bây giờ, thật là quá khác biệt!

Nhưng cuối cùng rồi cũng có duyên số cả...

(Còn tiếp)

Phạm Ngọc Lân

Cha vô danh – Chuyện kể cuộc đời một người Việt lai Pháp

Ghi chú:

(1)Chương trình Công Tác Hè 65 do cơ quan USAID (United States Agency for International Development = Cơ quan phát triển quốc tế của Mỹ) tài trợ, nhưng theo mô hình tư nhân giúp cho tư nhân, không thông qua chính phủ Việt Nam Cộng Hòa. Tư nhân về phía Mỹ là hội IVS (International Voluntary Service), tư nhân về phía Việt Nam là một nhóm thanh niên đứng ra tổ chức Công Tác Hè 65, xuất phát từ các đoàn thể Nam và Nữ Hướng Đạo, Sinh viên, Thanh niên Phật tử và Công giáo, hội Thanh niên Thiện chí, v. v.

Trong cuốn sách De Père Inconnu bằng tiếng Pháp, tác giả nói đến chương trình Công Tác Hè 65 như là một sáng kiến của chính phủ Nguyễn Cao Kỳ mới lên cầm quyền vào tháng 6.Nhưng ông Đỗ Quý Toàn (công ty Người Việt ở quận Cam, California) cho biết điều này không đúng, lúc đó ông là một nhân vật nòng cốt của chương trình Công Tác Hè 65 (cũng như ông Đỗ Ngọc Yến, người sáng lập báo Người Việt) nên biết rất rõ. Ông Kỳ có hai lần đến gặp gỡ các thành viên của chương trình và ghi nhận thành quả của họ, nhưng chính phủ của ông không đứng ra tổ chức cũng không tài trợ chương trình này.

(2) Trường Đại Học Văn Khoa từ năm 1964 dọn về đường Cường Để trước mặt trường Đại Học Dược Khoa. Trước đó trường tọalạc tại khu đất ngày xưa là Khám Lớn Sài Gòn (giữa 4 đườngNguyễn Trung Trực, Gia Long, Công Lý và Lê Thánh Tôn). Từnăm1965khunàytrởthànhmộtbãi hoang cỏ dại mọc, trong khi chờ đợi xây cất dinh thự mới. Đoàn Nguồn Sốngđược phép sinh hoạt trong khu này và được dùng một ngôi nhà khá rộng bằng gỗ.

Cũng trên khu đất này và vào cùng thờ iđiểm, một nhóm sinh viên lập ra Quán Văn. Cuối năm 1966 có Trịnh Công Sơn đến đàn hát tại đây, và qua năm 1967, Quán Văn nổi tiếng với nhạc Trịnh Công Sơn qua tiếng hát Khánh Ly.

(3) Trường ca Mẹ Việt Nam của Phạm Duy viết từ cuối năm 1963 qua 1964 mới xong. Trường ca gồm 4 phần: Đất mẹ, Núi mẹ, Sông mẹ, Biểnmẹ, tổngcộng 21  ca khúc, thêm một chung khúc mang tên: “ViệtNam! ViệtNam” kết thúc trườngca. Chung khúc này rất phổ biến tại miền Nam trước đây và ở hải ngoại sau này.

Phần 3 Sông Mẹ gồm 5 ca khúc Muốn về quê mẹ, Sông còn mải mê, Sông vùi chôn mẹ, Sông không đường về, Những dòng sông chia rẽ. Phạm Duy viết trong lời tựa: “Mẹ Việt Nam là một âu ca, ca tụng Mẹ Tổ Quốc và những Mẹ điển hình trong truyền kỳ lịch sử nước nhà, đề tài và cảm hứng nhắm dựa vào tình thương yêu và tính hiếu hoà, tính tình này đã sinh tồn mạnh mẽ trên đất ta và phải được truyền đi trong thế giới tàn nhẫn hiện tại". Phạm Duy cũng tâm sự ông rất tâm đắc bài “Những dòng sông chia rẽ”: