Cha danh - 33. 1965 : Một bước ngoặt của miền Nam (Phạm Ngọc Lân)

Lượt xem: 921

‘…Những hậu quả về xã hội tại miền Nam do việc lính Mỹ ồ ạt đổ bộ thật quan trọng và lâu dài. Nếp sống của người dân bị đảo lộn, nhất là dân thành thị...’

Những xáo trộn về chính trị từ năm 1963 ảnh hưởng đến tương lai đất nước như thế nào, sau này ai cũng thấy rõ. Nhưng cũng may là con người có một nhu cầu rất mạnh, đó là nhu cầu sống còn. Trong hoàn cảnh nào chăng nữa người ta thường vẫn phải ăn, phải uống, phải ngủ, phải làm việc, phải nghỉ ngơi... Đối với truyền thống Việt Nam từ ngàn xưa, thời gian nghỉ ngơi bắt buộc (và có khi là duy nhất trong năm) là dịp Tết Nguyên Đán.

Mỗi năm Long đều về ăn Tết với gia đình. Từ nhỏ chàng vẫn làm thế, chưa khi nào vắng nhà vào dịp Tết, mặc dù đã sống xa gia đình từ năm 13 tuổi, sống nội trú ở trường trung học Đà Lạt, sau đó về học đại học ở Sài Gòn, trong khi gia đình lang thang hết Phù Cát, đến Quy Nhơn, rồi Kontum.

Đặc biệt năm đó, Long về Kontum và bất đắc dĩ phải trổ tài gói bánh chưng, tuy chưa làm bao giờ cả! Chuẩn bị cho ngày Tết phải quét dọn nhà cửa, sửa soạn bàn thờ ông bà, mua sắm hoa quả, làm mứt (năm nào cũng làm mứt bí, mứt gừng, có lẽ vì dễ làm, còn mứt sen thì bắt buộc phải mua), v.v... Và không thể thiếu món bánh chưng. Gia đình Long gốc miền Bắc nên truyền thống là bánh chưng, trong khi miền Nam có bánh tét cũng tương tự, chỉ khác về hình thức là những « đòn » thay vì những chiếc bánh vuông vức.

Bình thường bà ngoại của Long là người « chủ trì » việc gói bánh chưng, mọi người trong gia đình cùng phụ vào. Nhưng năm đó bà ngoại của Long cận ngày Tết lại đi Sài Gòn, còn mẹ của Long có bầu thằng Út sắp tới ngày sanh. Lá dong mua về đã rửa và lau khô, chặt đầu chặt đuôi và tước sống lá rồi, lạt giang đã chẻ, gạo nếp đã vo, đậu xanh đã đãi, thịt đã thái sẵn miếng to bản ướp muối tiêu. Đúng lúc đó mẹ của Long trở dạ phải vào bảo sanh viện. Cha dượng của Long phải cấm trại không thể nghỉ nhà được. Thế là chỉ còn 12 anh em ở nhà, Long lớn nhất phải đứng ra xốc vác việc gói bánh chưng. Trong đời chưa khi nào gói, nhưng năm nào cũng chú ý xem bà ngoại làm thế nào, bây giờ phải loay hoay bắt chước thôi. Đậu xanh nấu chín rồi cho vào cối giã, xong rồi nắm lại từng nắm tròn to bằng quả cam, rồi dùng dao thái thật mỏng. Bây giờ có máy xay đỡ phải làm nhiêu khê như thế, nhưng không biết kết quả có giống không.

Cái khó nhất là gói bánh. Bà ngoại gói bằng tay, không có khuôn, bà nói gói tay không đẹp bằng gói khuôn, nhưng chặt hơn, bánh sẽ rền hơn. Và nhất là công việc nhanh hơn, vì ngày xưa đã có thời bà gói bánh chưng bán để kiếm sống. Long cũng bắt chước bà gói không có khuôn : để một cái lạt dưới cùng, xếp hai lá dong lớn song song với nhau (lá ngoài gấp mép cho đẹp), rồi hai lá dong nhỏ hơn xếp hình chữ thập, để gạo nếp đã xóc chút muối, rồi đậu xanh, rồi thịt, rồi lại đậu xanh, rồi lại gạo nếp. Bắt đầu xếp hai lá phía trong lại để gói gọn tất cả nhân bánh, rồi dùng hai lá phía ngoài gói sao cho vuông vắn, cuối cùng dùng cái lạt để sẵn dưới lá buộc lại để tạm giữ cho tất cả ngay ngắn. Sau đó mới dùng 4 cái lạt buộc cho đẹp, và tháo bỏ cái lạt đầu tiên ra. Buộc bánh bằng lạt giang chỉ cần một tay, tay kia vẫn giữ cho cái bánh còn nguyên hình, vì chỉ cần dùng mấy ngón tay xoắn cái lạt lại và cài đầu lạt vào là xong. Bây giờ buộc bằng dây ni-lông đỏ chắc rắc rối hơn nhiều!

Gói xong cho vào thùng, nhà Long dùng thùng sắt tây 20 lít (nguyên thủy là thùng dầu lửa), cho cuống lá dong lót dưới đáy, xếp bánh để đứng trong thùng, đổ nước cho ngập, nấu trên bếp lửa ngoài sân. Đây là lúc trẻ con thích nhất vì ngồi «canh bánh chưng», nhất là nếu có bạn trai gái tới tán gẫu, nhâm nhi trái bắp nướng nóng hổi hay ăn củ khoai lang nhỏ xíu lùi trong than hồng, còn gì thú bằng!

Sau lần châm nước (phải châm bằng nước sôi), luộc đủ 12 tiếng đồng hồ rồi phải vớt bánh ra và ép ngay cho ra hết nước thì bánh mới rền ngon được. Lấy tấm ván đặt dưới đất, bánh chưng xếp lên đó từng cặp, rồi tấm ván thứ hai úp lên, xong rồi để cái gì nặng lên trên. Đơn giản nhất là gỡ cánh cửa thay cho tấm ván, lấy thùng sắt tây để lên trên rồi đổ nước vào cho nó nặng, ép bánh rất tốt.

Năm đó bánh chưng không được vuông vức như của bà ngoại gói, nhưng bên trong cũng ngon chẳng thua gì ! Ăn với dưa món không gì bằng. Dưa món thời đó bà ngoại chỉ thái củ cải phơi khô, thêm chút ít cà–rốt cho có lác đác màu đỏ cho đẹp, nấu nước mắm với đường, chờ nguội cho củ cải vào ngâm, phải làm lâu trước Tết để củ cải phơi khô thấm nước ngâm mà vẫn dòn. Cũng như hành nén, dưa chua, bà ngoại làm những món đó rất ngon.

Năm đó là Quý Mão, mẹ của Long sinh con thứ 13 hai tiếng đồng hồ trước giao thừa. Có nghĩa là chỉ hai tiếng sau khi lọt lòng mẹ, thằng Út đã « lên hai ! ». Trong truyền thống tính tuổi của Việt Nam, lúc lọt lòng mẹ đứa trẻ sống trong năm Quý Mão, đó là năm thứ nhất trong đời của nó. Hai tiếng đồng hồ sau nó được sống trong năm Giáp Thìn, đó là năm thứ hai trong cuộc đời nên người mình dùng câu  « lên hai ». Và cứ thế, mỗi lần Tết đến là tất cả mọi người Việt Nam đều được « lên » một tuổi. Cũng chính vì thế mà ngày xưa theo truyền thống không có tổ chức « mừng sinh nhật ». Ngày Tết mới là ngày « lên một tuổi »  không phải ngày mình sinh ra. Khó mà giải thích điều này cho người Tây phương – và có khi cả cho giới trẻ Việt Nam ngày nay – vì hai quan niệm về « tuổi » quá khác nhau. 

Trở lại những biến động của đất nước trong thời kỳ này, năm 1964 lộn xộn về chính trị như thế nào đã nói trong đoạn trước, qua năm 1965 vẫn tiếp tục những bất ổn đó, nhưng thêm một biến cố đánh dấu một khúc ngoặt quan trọng hơn nhiều, đó là việc người Mỹ đem quân đội vào miền Nam trực tiếp lãnh đạo cuộc chiến.

Đầu năm 1965 đánh dấu bởi trận Bình Giã (1) đã khởi sự từ những ngày cuối năm 1964. Bài hát « Kỷ Vật Cho Em » của Phạm Duy phổ nhạc bài thơ của Linh Phương cũng nhắc đến chiến thắng Bình Giã. Vì nhu cầu tuyên truyền nên trong cuộc chiến tương tàn của thập niên 60 và 70, không có trận nào là «chiến bại » cả, dù là phía Việt Nam Cộng Hòa hay phía Mặt Trận Giải Phóng và Hà Nội. Nhưng đối với chính phủ Mỹ, họ nhận định rất rõ và quyết định mang binh lính vào miền Nam trực tiếp chiến đấu nếu không muốn phần đất tự do còn lại này của Việt Nam mau chóng rơi vào tay cộng sản.

Trong  khi  đó  thì  các  cuộc biểu tình chống chính phủ vẫn tiếp diễn, nhất là ở các thành phố miền Trung : Huế, Đà Nẵng, lan vào Quy Nhơn, Nha Trang, và cả đến Đà Lạt là nơi xưa nay vẫn nổi tiếng là nơi  yên  bình  không  ai biết xuống  đường là gì.  Người  ta  đồn  là  chính  Tướng Nguyễn Khánh bí mật khuyến khích các cuộc biểu tình này vì ông muốn lật đổ chính phủ Trần Văn Hương. Và quả thật, sau Tết Ất Tỵ 1965, một cuộc đảo chánh « nhẹ » lật đổ chính phủ này.

Phe cộng sản lợi dụng tình thế để phát triển lực lượng và mở rộng vùng kiểm soát của họ. Ngày 7 tháng 2-1965, lúc 2 giờ sáng, các trận pháo kích dữ dội nhắm vào khu người Mỹ tại căn cứ không quân ở Pleiku và Tuy Hòa. Ngày hôm sau, để trả đũa, lần đầu tiên 24 phi cơ chiến đấu của Việt Nam Cộng Hòa do tướng Nguyễn Cao Kỳ cầm đầu vượt vĩ tuyến 17 ra dội bom Vĩnh Linh, với sự yểm trợ của chiến đấu cơ Hoa Kỳ.

Những biến cố quân sự này đồng bộ với hai biến cố chính trị quan trọng. Một là tại Hà Nội, một phái đoàn Liên Xô do Phó Thủ Tướng Kossyguine cầm đầu đến viếng thăm chính thức để nói lên sự ủng hộ hết mình của Liên Bang Xô-Viết  đối với Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, làm thay đổi hẳn bộ mặt cuộc chiến ở miền Nam. Hai là đồng thời tại Sài Gòn, một phái đoàn Hoa Kỳ do ông McGeorge Bundy cầm đầu đến thẩm định tại chỗ tình hình nguy ngập tại miền Nam. Ông này là Cố Vấn An Ninh Quốc Gia trong chính phủ của Tổng Thống Johnson, một chức vụ rất quan trọng, một người cận kề với Tổng Thống Mỹ, và chỉ có trong chính quyền Mỹ mới có chức vụ này. Ông qua Sài Gòn từ ngày 4 đến ngày 7 tháng 2-1965 theo mệnh lệnh của chính Tổng Thống Mỹ. Dịp này, Tướng Khánh có hỏi ông Bundy về chuyện « Bắc tiến », và được ông trả lời là Mỹ giúp miền Nam chống âm mưu thôn tính của cộng sản tại miền Nam, nhưng không hề có ý định « giải phóng miền Bắc ».

Sau cuộc viếng thăm này, tất cả gia đình của người Mỹ phục vụ tại Việt Nam được lệnh di tản ngay ra khỏi nước, chứng tỏ tình hình nguy ngập đến mức nào. Long còn nhớ rõ khi còn học trung học ở Đà Lạt, đầu năm 1962 có chơi một trận giao hữu bóng chuyền với đội bóng của trường trung học Hoa Kỳ.

phamngoclan_bongchuyen
Đấu bóng chuyền giao hữu giữa trường trung học Adran và trường trung học Hoa Kỳ Đà Lạt, ngày 27 tháng 1-1962. Tác giả cùng các bạn Trần Tuấn Kiệt, Nguyễn Phan Phát, Nguyễn Thanh Sơn,
Phạm Chí Thành và Nguyễn Anh Tân.

Đây là một trường nội trú của Mỹ mới mở dành cho con em các gia đình Mỹ phục vụ tại Việt Nam, phần đông là các gia đình nhân viên dân sự, thường là trong ngành ngoại giao. Long nhớ rõ trận đấu này vì là lần đầu được thấy tận mắt các «cheerleaders», các nữ sinh người Mỹ mặc đồng phục quần cụt áo ngắn màu sặc sỡ cầm những « pom pom » múa may theo điệu hát trong sân vào lúc nghỉ để ủng hộ gà nhà, một phong cách rất dễ thương của thanh niên Mỹ. Khi có lệnh các gia đình Mỹ phải rời khỏi Việt Nam năm 1965, ngôi trường này đành phải đóng cửa.

Trở lại chuyện năm 1965, vào khoảng tháng tư hay tháng năm gì đó, Long có việc phải đi xe đò từ Sài Gòn lên Đà Lạt. Khi qua khỏi Định Quán trên quốc lộ 20, đến đoạn gọi là cây số 125, xe đò đi vào một khu rừng, có tấm vải băng-đơ-rôn chăng ngang  đường « Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam chào mừng đồng bào». Đi thêm vài cây số, xe đò ngừng lại và đóng tiền cho mấy người mặc đồ bà ba đen ôm súng AK, mũ tai bèo, kê cái bàn với cái ghế bên lề đường viết biên nhận thu thuế của xe đò đã đóng thuế. Sau đó đi thêm vài cây số lại có cái băng-đờ-rôn khác cho biết xe đã ra khỏi khu vực do MTGP kiểm soát.

Nhớ lại hè 1961, Long đi xe đò trên quốc lộ 14, khi qua Đồng Xoài đã bị mấy người mặc đồ bà ba đen lùa vào rừng tre tuyên truyền cho MTGP. Nhưng đó là quốc lộ 14 đi Ban Mê Thuột, xưa nay vẫn là khu có mặt của du kích MTGP, sau này xe đò không còn chạy trên con đường này nữa. Còn quốc lộ 20 là đường Sài Gòn đi Đà Lạt nổi tiếng là « an toàn », có khi nào thấy bóng dáng ai mặc đồ bà ba đen ôm súng AK đâu! Vậy mà chỉ 4 năm sau, họ đã kiểm soát một đoạn đường trên quốc lộ 20 này, ngang nhiên mang bàn ghế bày ra đường làm trạm thu thuế!

Và các cuộc tấn công vào nơi đồn trú của người Mỹ cũng tăng cường mạnh. Phái đoàn Bundy rời Sài Gòn được một ngày thì một khách sạn Mỹ ở Quy Nhơn nổ tung làm 23 người Mỹ thiệt mạng. Đây là tổn thất nặng nhất về nhân mạng của Hoa Kỳ tại Việt Nam từ trước đến nay. Ngay hôm sau, máy bay Việt

Mỹ ném bom mục tiêu quân sự phía bắc vĩ tuyến 17 để trả đũa.

Về mặt quân sự thì như thế, về mặt chính trị các xáo trộn vẫn tiếp tục. Giữa tháng 2, một chính quyền dân sự đầu tiên từ sau đảo chánh 1963 được thành hình, với ông Phan Huy Quát làm Thủ Tướng. Chỉ ba ngày sau, lại đảo chánh! Lần này người chủ trương đảo chánh là Đại Tá Phạm Ngọc Thảo (2) cùng với Tướng Lâm Văn Phát, nhưng việc không thành.

Một sự kiện chưa hề có trước đây cũng xảy ra trong cái năm 1965 đủ thứ chuyện này! Ngày 25 tháng 2-1965 tại Sài Gòn, một cuộc họp báo do Phong Trào Bảo Vệ Hòa Bình tổ chức, phân phát cho báo chí một bản tuyên ngôn với 471 chữ ký. Cảnh sát bố ráp, các nhân vật chính yếu bị bắt và ngày 19 tháng 3-1965, ba ông Phạm Văn Huyến, Cao Minh Chiếm và Tôn Thất Dương Kỵ bị trục xuất ra ngoài Bắc qua cầu Hiền Lương bắc qua sông Bến Hải. Có lẽ đây là lần duy nhất trong hơn 20 năm chia cắt đất nước, có người xách hành lý đi bộ qua cầu Hiền Lương một cách an toàn!

Phải nói là học hành trong khung cảnh xáo trộn như thế thật không dễ tí nào. Long cũng bị ảnh hưởng như nhiều bạn khác, sao nhãng việc học hành, và dù không muốn tham gia vào các hoạt động chính trị của sinh viên, cũng không thể che tai bịt mắt được. Ngày 26 tháng 2, Long theo người bạn rủ đến trụ sở của Tổng Hội Sinh Viên ở số 4 Duy Tân dự một cuộc hội thảo. Cuối buổi họp này, đúc kết lại là một lời kêu gọi các phe phái lâm chiến tìm một giải pháp hòa bình cho miền Nam, và đòi hỏi các lực lượng quân sự nước ngoài rút khỏi Việt Nam. Chưa khi nào có một lời kêu gọi công khai đòi Mỹ rút ra khỏi Việt Nam như thế, nên cũng chẳng lạ gì khi Long cùng các bạn phải chạy có cờ vì bị cảnh sát bố ráp, lấy cớ là hội thảo mà không có giấy phép.

Người Mỹ, trong khung cảnh chiến tranh lạnh lúc đó, dĩ nhiên không thể chấp nhận bỏ miền Nam cho cộng sản thôn tính, và phải lấy quyết định nhảy vào chiến trường Việt Nam để trực tiếp đối đầu với làn sóng đỏ. Quyết định có sáng suốt hay không, thời gian sẽ trả lời, nhưng lúc đó, chính quyền Mỹ không có chọn lựa nào khác.

Ngày 2 tháng 3-1965, chiến dịch Rolling Thunder (Sấm Rền) khởi đầu với 104 phi cơ Hoa Kỳ (B-57, F-100 et F-105) và 19 phi cơ của miền Nam (Skyraiders) dội bom kho đạn ở Xóm Bảng và căn cứ hải quân Quảng Khê trên lãnh thổ miền Bắc Việt Nam. Chiến dịch Rolling Thunder này sẽ kéo dài đến 1968.

Sáu ngày sau, 8 tháng 3-1965, một sự kiện tuy nhỏ nhưng lại rất quan trọng vì nó đánh dấu ngày Hoa Kỳ chính thức tham chiến tại Việt Nam. Đó là việc hai tiểu đoàn Thủy Quân Lục Chiến Mỹ do Tướng Frederick J. Karch chỉ huy đổ bộ lên Đà Nẵng để bảo vệ căn cứ không quân Hoa Kỳ tại đây. Họ được nghênh đón bởi Tướng Nguyễn Chánh Thi, Tư Lệnh vùng 1 Chiến Thuật, và ông Thị Trưởng Đà Nẵng. Có một chi tiết ít khi được nhắc đến, đó là chính phủ dân sự của ông Phan Huy Quát tại Sài Gòn không hề được hỏi ý kiến về sự kiện quan trọng này. Thủ Tướng Phan Huy Quát bị đặt trước một « sự đã rồi », dù đó là một việc rất quan trọng, ảnh hưởng lâu dài đến tương lai đất nước. 

Phản ứng đầu tiên của phe cộng sản là một vụ tấn công bằng bom vào cơ sở đầu não của Mỹ. Ngày 30 tháng 3, một chiếc xe nổ tung trước tòa Đại Sứ Mỹ ở Sài Gòn, làm thiệt mạng 2 người Mỹ và 20 người Việt, và làm bị thương hơn 200 người, trong đó có ông Alexis Johnson tạm thay đại sứ Taylor đang về Washington. Tướng Westmoreland, tư lệnh lực lượng Mỹ tại Việt Nam lúc đó đang trên đường đến tòa Đại Sứ, thoát nạn vì chưa đến nơi.

Để thích ứng với tình hình mới, các « tướng lãnh trẻ » (« trẻ » để đối với thế hệ các tướng lãnh làm đảo chánh ông Diệm như Dương Văn Minh, Trần Văn Đôn, v.v...) quyết định lên nắm quyền chính trị. Tháng 6-1965, có sự « thỏa thuận » để chính quyền dân sự của Thủ Tướng Phan Huy Quát nhường chỗ lại cho quân đội lên cầm quyền. Ngày 19 tháng 6-1965, một « Nội Các Chiến Tranh » chính thức ra mắt, với Tướng Nguyễn Văn Thiệu làm Chủ Tịch Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia (tương đương Quốc Trưởng) và Tướng Nguyễn Cao Kỳ làm Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương (tương đương Thủ Tướng). Dĩ nhiên với sự thúc đẩy của Hoa Kỳ đang cần một chính phủ mới dồn mọi nỗ lực cho chiến tranh (3). Từ đó trở đi, tại miền Nam ngày 19 tháng 6 được dùng làm « Ngày Quân Lực ».

Chỉ vài ngày sau, nội các mới lấy một quyết định ngoạn mục và rất quan trọng về mặt quốc tế : cắt đứt quan hệ ngoại giao với Pháp. Người ta có thể nghĩ quyết định này do Mỹ xúi giục, nhưng các tài liệu được giải mật sau này cho thấy không phải như vậy, mà đây là một quyết định của các « tướng lãnh trẻ » mới lên cầm quyền (4).

Hai cuộc khủng bố ngay trung tâm Sài Gòn càng làm cho tình hình căng thẳng hơn. Tối thứ sáu 25 tháng 6-1965, nhà hàng nổi Mỹ Cảnh trên sông Sài Gòn bị hai trái bom lần lượt nổ làm số thương vong rất nặng nề. Nhật báo Le Monde của Pháp đưa ra con số 43 người tử thương và 80 người bị thương, nguồn tin của Mỹ cho biết có 44 người tử thương trong đó có 13 công dân Mỹ. Cuối năm, ngày 4 tháng 12, khách sạn Métropole trên đường Trần Hưng Đạo nối liền Sài Gòn với Chợ Lớn, nơi trú ngụ của quân nhân Mỹ bị một chiếc xe nổ tung ngay trước mặt tiền nhà làm 9 người tử thương (một quân nhân Mỹ, một quân nhân Tân Tây Lan và 7 người Việt) và 137 người bị thương, trong đó có 62 thường dân.

Chiến tranh leo thang nhanh chóng với quyết định của Mỹ đem quân ồ ạt vào miền Nam (5). Cuối năm 1965, số quân nhân Hoa Kỳ có mặt tại Việt Nam lên đến gần 200.000, so với hơn 20.000 vào cuối năm 1964. Đồng thời, các nước đồng minh cũng gửi đến một số binh sĩ tượng trưng: Đại Hàn, Úc, Tân Tây Lan, Phi Luật Tân, Thái Lan. Cuộc đụng độ lớn đầu tiên giữa quân đội Mỹ (sát cánh với các đơn vị thiện chiến của Việt Nam Cộng Hòa) với quân đội Bắc Việt (mà họ gọi là liên minh Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam-Quân đội Nhân dân Việt Nam) là trận Ia Drang mang tên con sông Drang gần dãy núi Chu Prông trong chiến dịch Plei-Me sát biên giới Việt – Cam-bốt, vào tháng 11-1965 (6).

Những hậu quả về xã hội tại miền Nam do việc lính Mỹ ồ ạt đổ bộ thật quan trọng và lâu dài. Nếp sống của người dân bị đảo lộn, nhất là dân thành thị.

Lần đầu tiên người Sài Gòn biết đến truyền hình. Lúc đầu chỉ có đài của Mỹ phát hình vài tiếng vào buổi chiều tối, được phát sóng từ một chiếc máy bay lượn vòng tròn trên không phận Sài Gòn. Rồi nhanh chóng có đài phát sóng thay thế cho máy bay, rồi có đài truyền hình Việt Nam băng tần số 9 ở Sài Gòn. Long còn nhớ rõ trên truyền hình Mỹ - thời đó còn đen trắng - có hai chương trình nhiều người ưa thích, đó là Bonanza (phim cao bồi loại nhiều tập) và The Ed Sullivan Show (chương trình ca nhạc nổi tiếng của Mỹ thời đó).

px_saigon_1968
PX, « siêu thị quân đội » dành cho quân nhân Mỹ

Nhưng điều đáng nói nhất làm đảo lộn cả xã hội là sự xuất hiện của một tầng lớp « giàu mới », gồm những người biết chụp thời cơ và biết khéo léo làm ăn với Mỹ. Đường phố tự nhiên mọc lên những tấm bảng « For rent » (cho thuê), đó là những căn nhà hoặc phòng cho Mỹ thuê với giá cả « theo kiểu Mỹ ». Các quán rượu gọi là « Bar Mỹ » mọc lên như nấm, với những « chiêu đãi viên » sẵn sàng phục vụ mọi bề. Những cơ quan Mỹ, trại lính Mỹ cần nhân công giúp việc, tạo ra nhiều công việc phục vụ với đồng lương hơn hẳn những quân nhân công chức trong guồng máy của Việt Nam. Ngoài ra còn một sinh hoạt thịnh hành nữa là buôn bán đồ Mỹ, còn gọi là đồ PX. PX (Post Exchange) là tên của các « siêu thị quân đội » dành cho quân nhân Mỹ, không khác gì những siêu thị lớn bây giờ, bán đủ thứ đồ. Đồ PX mua đi bán lại trên vỉa hè đường phố, đặc biệt là đường Nguyễn Thông. Từ những thứ máy móc đắt tiền như giàn máy Akai nghe nhạc, ti-vi, tủ lạnh, cho đến những loại thông thường hơn như radio-cassettes. Thức ăn thì đủ loại, đồ hộp có, đồ tươi có (cam Sunkist từ California mang qua), đồ chế biến có (cheddar cheese là một loại phó-mát màu cam)...

Hậu quả là vật giá leo thang, những người không biết xoay sở, chỉ sống với đồng lương cố định (quân nhân, công chức) điêu đứng, phải thắt lưng buộc bụng. Đó là trường hợp của gia đình Long, từ hè 1965 đã dọn về Sài Gòn vì ông Quy đổi về một đơn vị gần đấy. Long không sống trong cư xá Đắc Lộ nữa mà về nhà ở với gia đình, phụ giúp thêm bằng tiền dạy kèm, nhưng cũng vẫn túng thiếu, phải thắt lưng buộc bụng.

Đối với chàng thanh niên 21 tuổi vừa mới chập chững ra đời, năm 1965 quả là một năm đánh dấu một bước ngoặt quan trọng. Số phận chàng cũng như bao trai trẻ thời đó chỉ biết nổi trôi theo số phận thăng trầm của đất nước.

Tuy vậy, bước ngoặt năm 1965 này quan trọng thật đấy, nhưng cũng chưa thấm vào đâu với cuộc đổi đời 10 năm sau. Nhưng đó là chuyện tương lai, sẽ nói đến sau này.

Cuối đời nghĩ lại, nếu năm ấy Mỹ không ồ ạt đổ bộ vào miền Nam và giành phần chủ động lãnh đạo trực tiếp cuộc chiến thì chuyện gì sẽ xảy ra ? Chắc chắn là chỉ thêm một vài năm là Việt Nam Cộng Hòa sẽ bị xóa sổ, cũng như đã bị xóa sổ 10 năm sau. Chỉ khác là sẽ tiết kiệm được biết bao xương máu của người Việt qua 10 năm bắn giết nhau. Nước Mỹ cũng đã phải trả giá rất đắt vì quyết định này, nhưng họ hành động trên cương vị một cường quốc trong tư thế lãnh đạo thế giới tự do chống lại sự bành trướng của khối cộng sản. Hai khối đối địch chỉ dùng địa bàn Việt Nam như một điểm nóng trong cái gọi là « chiến tranh lạnh » thời đó. Nhưng còn về phần nước Việt Nam, tại sao phải chịu đọa đầy trong cảnh chiến tranh tương tàn khốc liệt như thế ?

Có người cho rằng đó là « số phận » của đất nước, di sản của một thời xa xưa nào đó... Giải thích như thế có quá dễ dãi chăng ? Tại sao không dám nhìn thẳng vào những thế hệ gần đây để thấy rằng mình thiếu lãnh đạo, thiếu một « tầng lớp lãnh đạo » ? Hay có lãnh đạo mà không ra lãnh đạo ? Hay lãnh đạo mà không biết nhìn xa ? Hay lãnh đạo mà bị vướng mắc vào một chủ nghĩa để rồi không gỡ ra được ? Hay lãnh đạo chỉ để được ăn trên ngồi trốc ?

Nhưng lịch sử đã diễn tiến như thế, không thể dùng những chữ « nếu » để làm lại lịch sử được.

(Còn tiếp)

Phạm Ngọc Lân

Cha vô danh – Chuyện kể cuộc đời một người Việt lai Pháp 

 

(1) Trận Bình Giã (thuộc tỉnh Phước Tuy, 70 cây số phía đông Sài Gòn, nay là một xã thuộc tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu) bắt đầu từ ngày 28-12-1964 chấm dứt với con số thiệt hại lớn về phía Việt Nam Cộng Hòa. Con số trong các tài liệu Mỹ là gần 200 người tử thương, 190 bị thương và 100 mất tích (trong đó có 16 tổn thất về phía Mỹ gồm 5 tử thương, 8 bị thương và 3 mất tích). Đại Sứ Mỹ Taylor xem đây là một cuộc thất trận nghiêm trọng, nhưng chưa đến nỗi là một thảm họa. Theo ông thì kết quả này do lỗi của cấp chỉ huy Việt Nam, ngồi lì ở Vũng Tàu lo chuyện lật đổ chính phủ Trần Văn Hương thay vì lo việc chiến tranh.

(2) Ông Phạm Ngọc Thảo sinh năm 1922 trong một đại gia đình giàu có của miền Nam theo đạo Công Giáo, gia đình Phạm Ngọc Thuần, có quốc tịch Pháp từ thời Pháp thuộc, nên mọi người đều lấy họ là Phạm Ngọc Thuần, thêm vào một tên tiếng Pháp. Ông Thảo tên là Albert Phạm Ngọc Thuần, sau ông đổi ra Phạm Ngọc Thảo. Thời kháng chiến, ông tham gia tích cực trong hàng ngũ Việt Minh. Thời Đệ Nhất cộng hòa, ông được Giám Mục Ngô Đình Thục tín nhiệm vì làm việc rất đắc lực và hữu hiệu, và tin là ông đã từ bỏ hàng ngũ cộng sản, nên ông được giữ những chức vụ khá quan trọng như tỉnh trưởng tỉnh Bến Tre.

Cuộc đảo chánh ngày 19 tháng 2-1965 do Phạm Ngọc Thảo khơi mào có mục đích chống lại Tướng Nguyễn Khánh, nên dù đảo chánh không thành, các « tướng trẻ » đứng đầu là ông Nguyễn Văn Thiệu, vốn không ưa gì Nguyễn Khánh, đã lợi dụng cơ hội lập ra một hội đồng quân nhân loại bỏ Nguyễn Khánh khỏi chính trường và buộc ông đi làm đại sứ lưu động. Ông Nguyễn Khánh ra đi mang theo một nắm đất với lời hứa sẽ trở lại quê hương. Nhưng ông không bao giờ có dịp trở lại và mất tại thành phố San José, California, Hoa Kỳ năm 2013, thọ 86 tuổi.

Sau khi làm đảo chánh hụt, Phạm Ngọc Thảo bị truy nã, phải trốn ở khu Công Giáo Hố Nai Biên Hòa, được các linh mục ở đấy che chở, cuối cùng bị lộ, bị bắt và bị giết chết trong tù vào tháng 7 năm 1965.

Đối với phe quốc gia, ông Phạm Ngọc Thảo là một cán bộ cộng sản hồi chánh đã có công trong nền Đệ Nhất Cộng Hòa. Đối với phe cộng sản, 12 năm sau ngày chiến tranh chấm dứt, ông được tôn vinh như một cán bộ tình báo xuất sắc được gài lại miền Nam. Nhiều dư luận hoài nghi việc tôn vinh này, xem như một cách tuyên truyền của cộng sản. Lý do họ đưa ra là tại sao phải chờ 12 năm sau mới tôn vinh ? Tại sao khi ông phải lẩn trốn ở Biên Hòa trong năm 1965, phe cộng sản không giải cứu đưa ông vào khu an toàn để đến nỗi ông bị truy lùng rồi bị chết thảm trong tù ? Dù sao, phe cộng sản cũng không nói ông có công trạng gì cụ thể trong công việc tình báo này, ngoại trừ việc làm đảo chánh, mà việc này thì không phải chỉ có Phạm Ngọc Thảo làm trong những năm hỗn loạn đó.

Cuối cùng thì ai muốn tin theo chiều nào thì tin.

Ông có vợ và 7 người con, tất cả được ông đưa qua sống an toàn bên Mỹ trong thập niên 60 trước khi ông làm đảo chánh rồi bị sát hại.

(3) Chính phủ Phan Huy Quát là chính phủ dân sự đầu tiên từ ngày đảo chánh 1963. Chính phủ được thành lập ngày 18 tháng 2-1965, ông Phan Huy Quát là một người có uy tín đối với các tướng trẻ, cố gắng thuyết phục các tướng lãnh trở về vị trí của mình trong quân đội để rảnh tay lo việc chiến tranh. Nhưng có sự bất đồng trầm trọng giữa Thủ Tướng Phan Huy Quát và  Quốc Trưởng Phan Khắc Sửu đi đến một tình trạng bế tắc làm ông Phan Huy Quát đành phải từ chức, cầm quyền chưa đầy 4 tháng.

Thứ bảy 12 tháng 6-1965, lúc 1 giờ sáng, theo yêu cầu của chính Thủ Tướng Phan Huy Quát, một cuộc họp diễn ra gồm ông Phan Huy Quát, ông Bùi Diễm (Bộ Trưởng Phủ Thủ Tướng, thân cận với ông Phan Huy Quát), các Tướng Nguyễn Văn Thiệu và Nguyễn Cao Kỳ, cùng với ông Phó Đại Sứ Mỹ Alexis Johnson (Đại Sứ Taylor đang về Washington chưa qua lại) và ông Manfull (cố vấn chính trị của tòa đại sứ Mỹ). Đi đến quyết định là ngay buổi sáng ngày 12, sẽ công bố việc chính quyền dân sự nhường chỗ cho quân đội lãnh trách nhiệm điều khiển quốc gia trong tình hình mới.

Ngày 19 tháng 6, « Nội Các Chiến Tranh » chính thức ra đời, với Tướng Nguyễn Cao Kỳ làm Thủ Tướng (gọi là Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương), còn Tướng Nguyễn Văn Thiệu làm Chủ Tịch Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia (Quốc Trưởng). Tân Thủ Tướng trình bày 26 điểm cần làm ngay.

Một bản hiến chương mới được ban hành, thay thế những bản hiến chương trước, từ ngày đảo chánh Tổng Thống Ngô Đình Diệm năm 1963 :

- hiến chương số 1 ngày 4-11-1963 (Dương Văn Minh)

- hiến chương số 2 ngày 7-2-1964 (Nguyễn Khánh)

- hiến chương số 3 ngày 16-8-1964 (Nguyễn Khánh, còn gọi là hiến chương Vũng Tàu)

- hiến chương số 4 ngày 20-10-1964

Các bản hiến chương này là những bản hiến pháp tạm thời, trong khi chờ đợi một hiến pháp mới, sẽ ra đời năm 1967 đánh dấu nền Đệ Nhị Cộng Hòa và được dùng cho đến 1975.

(4) Quyết định đoạn giao với Pháp được công bố ngày 24 tháng 6-1965. Ngày hôm trước, Bộ Trưởng Ngoại Giao Trần Văn Đỗ cho ông Mattei của tòa Đại Sứ Pháp biết rằng ông đã làm hết sức để ngăn chuyện đoạn giao này, nhưng chính phủ vẫn cương quyết tiến hành. Ngay trước khi công bố, Tướng Nguyễn Cao Kỳ tiếp ông Mattei và nói là ông vẫn gắn bó với nước Pháp, nhưng quyết định này là để xoa dịu dư luận. Ông cũng nói việc đoạn giao là lãnh vực của Tướng Nguyễn Văn Thiệu, Chủ Tịch Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia, không phải của ông.

Bản tuyên bố đoạn giao nói đến việc chính phủ Pháp đã trực tiếp hoặc gián tiếp làm lợi cho cộng sản, gây hoang mang trong dân chúng và tạo ra tâm lý chủ bại trong quân đội (ý muốn nói đến chủ trương trung lập hóa Việt Nam và các nước lân cận của Tổng Thống Pháp De Gaulle).

Trong buổi họp báo công bố quyết định đoạn giao (do Ngoại Trưởng Trần Văn Đỗ đọc bản tuyên bố), Tướng Nguyễn Văn Thiệu đồng thời công bố « tình trạng chiến tranh » và cấm 36 tờ báo trong khi chờ đợi luật báo chí mới.

Các cố vấn của Tổng Thống Mỹ Johnson đều đồng loạt cho rằng đây là một sai lầm của Việt Nam. Trong một buổi họp tại Tòa Bạch Ốc ngày 23 tháng 6, ông Johnson lấy quyết định báo cho chính phủ Pháp là Mỹ lấy làm tiếc về quyết định đoạn giao của Tướng Nguyễn Cao Kỳ, và rằng Mỹ không chủ trương việc này.

Sau đó một phát ngôn viên của Bộ Ngoại Giao Mỹ tuyên bố rất tiếc về quyết định này của Việt Nam Cộng Hòa.

(5) Ngày 20 tháng 7-1965, phái đoàn Bộ Trưởng Quốc Phòng McNamara trở về Washington sau khi qua Việt Nam thẩm định tại chỗ tình hình. Trong bản phúc trình, ông McNamara xác nhận đề nghị trước đây của ông là tăng lực lượng quân đội Mỹ có mặt tại Việt Nam từ 75.000 (con số tháng 7) lên 175.000 vào cuối năm, và có thể 200.000. Ông cũng không quên nhắc đến hậu quả không tốt của sự tăng vọt số quân nhân Mỹ này, đó là việc miền Nam sẽ ỷ lại vào Mỹ đến Việt Nam để đánh nhau thay cho người Việt, và có thể làm tăng trong dân chúng tinh thần chống thực dân. Nhưng ông cũng cho biết rằng theo ông Phan Huy Quát (cựu Thủ Tướng) « cách duy nhất để cứu nguy cho miền Nam là tăng thêm số quân Mỹ, dân chúng miền Nam sẽ không chống đối. » Cả hai Tướng Thiệu và Kỳ cũng hoan nghênh việc tăng quân Mỹ tại miền Nam.

Trong buổi họp báo ngày 28 tháng 7-1965, Tổng Thống Johnson chính thức loan báo quân đội Mỹ sẽ tăng từ 75.000 lên 125.000, và nếu cần có thể tăng hơn nữa. Ông cũng tuyên bố là song song với nỗ lực chiến tranh, Hoa Kỳ vẫn sẵn sàng ngồi vào bàn thương thuyết.

Tháng 12-1965, Thượng Nghị Sỹ Mike Mansfield đến thăm Việt Nam. Khi trở về, ông báo cho biết rằng đây là một cuộc chiến mà « tất cả các chọn lựa đều xấu ». Hoa kỳ có thể sẽ thua tại Việt Nam vì phải tự kềm chế. Nhưng còn có nguy cơ lớn hơn là sẽ thua ngay tại Mỹ và trên thế giới vì theo đuổi những mục tiêu “không sờ mó được” (intangible) ở Việt Nam.

(6) Trận đánh này là đề tài cho cuốn phim của Mỹ năm 2002 tựa đề « We were soldiers » với tài tử Mel Gibson thủ vai chính. Tài tử nổi tiếng của Việt Nam là Đơn Dương (1957-2011), đóng vai chỉ huy trưởng quân đội Bắc Việt.