Cha danh - 32. Xuống đường… Bãi khóa… Đảo chánh… Chỉnh lý… (Phạm Ngọc Lân)

Lượt xem: 695

‘…Năm Con Rồng Giáp Thìn 1964 quả là một năm “rồng quậy”, và là một năm chứng kiến bước ngoặt quan trọng trong lịch sử ngắn ngủi của Việt Nam Cộng Hòa, một chế độ không chấp nhận cộng sản vì muốn được sống tự do…’

Sau những ngày nghỉ hè chóng qua ở Kontum với nhiều kỷ niệm êm đềm, Long trở lại với cuộc sống hối hả nơi xứ Sài Gòn phồn hoa tấp nập. Và cũng trở lại với những biến cố chính trị khuấy động thủ đô miền Nam trong niên học 1963-64, một giai đoạn chứng kiến bước ngoặt quan trọng trong số phận của Việt Nam Cộng Hòa.

Sau vụ tự thiêu của Thượng tọa Thích Quảng Đức tháng 6-1963, nhiều biến cố dồn dập xảy đến cùng với những cuộc “xuống đường”, “bãi khóa”… Người dân Sài Gòn bắt đầu nếm mùi lựu đạn cay, bắt đầu làm quen với quân phục rằn ri của cảnh sát dã chiến. Tin đồn đảo chánh là đầu câu chuyện từ những cà phê vỉa hè đến các tiệm ăn sang trọng trên đường Tự Do, nơi tụ tập các chính khách Sài Gòn cũng như các phóng viên ngoại quốc. Những tin đồn được nuôi dưỡng bởi một số báo chí Mỹ với những bài báo nảy lửa lên án thái độ không khoan nhượng của chính phủ đối với đòi hỏi của phe tranh đấu Phật Giáo. Người ta xầm xì là Mỹ muốn lợi dụng cuộc khủng hoảng này để thay thế những người cầm quyền hiện nay vì họ không “dễ bảo” như tatưởng (1).

Mà chính quyền của ông Ngô Đình Diệm không “dễ bảo” thật. Phản ứng lại với những tin đồn đảo chánh và những chỉ trích của báo chí Mỹ, chính quyền ra tay bằng những cuộc bố ráp các chùa chiền đầu não của phe tranh đấu Phật Giáo. Đêm 20 rạng ngày 21 tháng 8-1963, quân đội tấn công chùa Xá Lợi, bắt giữ mấy trăm tăng ni phật tử trong ngôi chùa này, ngôi chùa quan trọng nhất tại Sài Gòn (2). Chùa Ấn Quang cùng chịu chung số phận, các chùa ở tỉnh cũng thế, đặc biệt là chùa Từ Đàm ở Huế. Có thể nói là sau chiến dịch này của chính quyền, phe tranh đấu Phật Giáo kể như bị tê liệt hoàn toàn. Gương mặt nổi nhất là Thượng tọa Thích Trí Quang có mặt ở chùa Xá Lợi cũng bị bắt với mấy trăm người khác, nhưng cuối cùng thoát nạn và phải đến Tòa Đại sứ Mỹ xin tị nạn chínhtrị (3).

Phong trào đấu tranh lan qua môi trường đại học. Ba ngày sau vụ bố ráp chùa chiền, ngày thứ bảy 24 tháng 8, một cuộc tụ tập sinh viên tại Đại Học Luật Khoa Sài Gòn hoan hô Giáo Sư Vũ Văn Mẫu, lúc đó là Bộ Trưởng Ngoại Giao, vì ông này cạo trọc đầu để phản đối chính phủ đàn áp phe tranh đấu Phật Giáo. Qua hôm sau chủ nhật 25 tháng 8, một cuộc biểu tình lớn được tổ chức ngay bùng binh trước chợ Bến Thành. Cuộc biểu tình bị đàn áp thẳng tay làm một người thiệt mạng, đó là cô học sinh trung học tên Quách Thị Trang, sau này nổi tiếng vì công trường được đặt tên cô, cùng với một bức tượng bán thân đặt ngay tại đó (4). Đồng thời mấy trăm sinh viên học sinh bị bắt trong dịp này, mở đầu một đợt đàn áp mới nhắm vào đối tượng thanhniên.

Hơn lúc nào hết, những tin đồn đảo chánh lại càng được thể mọc lên như nấm. Đặc biệt lần này, người ta còn xầm xì rằng có “bàn tay lông lá” trực tiếp giật dây (5).

Tháng 8 rồi cũng qua đi mà không thấy đảo chánh đâu cả. Qua tháng 9 tựu trường, chỉ có các trường tiểu học và dạy nghề được phép mở cửa, các trường trung học và đại học vẫn còn đóng để ngăn ngừa các cuộc biểu tình và bãi khóa của sinh viên học sinh. Nhưng rồi tình hình cũng lắng dịu dần, và tất cả các trường lần lượt được hoạt động trở lại. Long nhập học năm thứ hai Đại học Dược khoa.

Báo chí Mỹ vẫn không ngừng chỉ trích chế độ của ông Diệm về thái độ cứng rắn đối với phe tranh đấu Phật Giáo và đối với sinh viên học sinh xuống đường. Để đối phó lại với các bộ máy truyền thông đồ sộ này, chính quyền gửi một phái đoàn qua các nước Tây phương để “giải độc”, cầm đầu là bà dân biểu Ngô Đình Nhu, em dâu Tổng Thống Diệm cùng với cô con gái lớn là Ngô Đình Lệ Thủy (6). Qua tháng 10, một phái đoàn điều tra quốc tế của Liên Hiệp Quốc được mời đến Sài Gòn để chứng tỏ cho thế giới rằng chính quyền không có gì phải giấu giếm cả (7).

Cuối tháng 10, ngày 26 là lễ quốc khánh đánh dấu ngày ban hành hiến pháp Việt Nam Cộng Hòa 26-10-1956. Để ngăn ngừa những biến động có thể xảy ra trong các buổi lễ, tất cả các trường lại phải đóng cửa “cho tới khi có lệnh mới”.

Long bắt đầu chán nản kiểu học hành “nhát gừng” lúc học lúc không này, bèn quyết định về gia đình ở Kontum nghỉ ngơi.

Và chính tại thành phố cao nguyên này, Long nghe tin cuộc đảo chánh bùng nổ lúc trưa ngày 1 tháng 11-1963 do tướng Dương Văn Minh cầm đầu, cùng với các tướng Trần Văn Đôn, Lê Văn Kim và nhiều tướng lãnh khác. Ngày hôm sau, phe đảo chánh đã hoàn toàn làm chủ tình thế, và đài phát thanh loan tin hai anh em ông Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu đã tự sát (8).

Nhưng không ai tin chuyện “tự sát” này cả. Chẳng bao lâu sau, sự thật được chương trình Việt Ngữ của các đài BBC và VOA tường thuật. Cuộc đảo chánh nổ ra vào lúc 13giờ 30 trưa ngày 1-11-1963, lúc đó hai ông Diệm và Nhu đang ở dinh Gia Long vì dinh Độc Lập bị dội bom đầu năm 1962 đang đượcxây

cất lại. Đến chiều tối, phe đảo chánh đã làm chủ tình hình, hai ông phải dùng xe hơi nhỏ thoát bằng cửa sau của dinh đi về Chợ Lớn tá túc ở nhà Mã Tuyên, một người Hoa thân cận, rồi qua đêm tại nhà thờ Cha Tam cũng ở Chợ Lớn. Sáng mùng 2, thấy không còn hy vọng gì, hai ông gọi điện thoại đến các tướng cầm đầu đảo chánh đang ở trong Tổng Tham Mưu, chấp nhận đến gặp họ trao quyền lại để tránh tiếp tục đổ máu. Các tướng lãnh cử một đoàn xe đến nhà thờ Cha Tam đón hai ông Diệm và Nhu. Trong đoàn có nhiều chiếc xe bọc thép M113 và xe Jeep. Hai ông được đưa lên một chiếc xe bọc thép bịt bùng lấy cớ là để bảo vệ hai ông khi đi qua đường phố Sài Gòn. Khi đến Tổng Tham Mưu mở cửa xe ra thì chỉ còn hai cái xác. Hai ông đã bị sát hại trong khi di chuyển.

Chỉ 20 ngày sau, Tổng Thống Mỹ Kennedy bị bắn trong chiếc xe mui trần khi đi thăm thành phố Dallas ngày 22 tháng 11 năm 1963. Có người nói “Trời quả báo” vì nghĩ là ông Kennedy ra lệnh giết hai anh em ông Diệm và ông Nhu. Thật ra, theo các tài liệu mật của Hoa Kỳ được công bố mấy chục năm sau thì ông Kennedy được tin về cái chết của hai ông Diệm và Nhu trong khi đang tiến hành một buổi họp trong Tòa Bạch Ốc. Biên bản buổi họp ghi lại là ông Kennedy đã bị choáng (shock) vì tin này, vì ông không ngờ hai ông Diệm Nhu lại bị sát hại như thế, mặc dù chính ông là người đã bật đèn xanh cho ông Đại Sứ Cabot Lodge ở Sài Gòn tìm người khác thay thế hai ông Diệm và Nhu.

Ít lâu sau các trường đại học mở cửa lại, Long từ Kontum về Sài Gòn tiếp tục việc học hành. Không khí và khung cảnh Sài Gòn vẫn mang hơi hướng cuộc đảo chánh. Khu thành Cộng Hòa là nơi đồn trú của Lữ Đoàn Phòng Vệ Phủ Tổng Thống nơi giao tranh giữa hai phe đảo chánh và chống đảo chánh mang vết đạn bom tàn phá, qua năm sau sẽ sửa sang lại và biến thành 4 cơ quan riêng biệt giữa hai đường Hồng Thập Tự và Thống Nhất, cách nhau bởi khúc đường Cường Để được nối liền với đường Đinh Tiên Hoàng (i). Đó là đài Truyền hình Sài Gòn, các trường Đại học Văn Khoa, Đại học Dược Khoa và Cao Đẳng Nông LâmSúc.

daihoc_duoc_6465
Đại Học Dược Khoa dọn về đây từ niên khóa 1964-65.
Ngôi nhà trong hình là một trong các nhà của trại lính Pháp thời xưa (thành “Ông Dem”, tức là 11è RIC)

daihoc_duoc_1993
Đại Học Dược Khoa năm 1993. Năm 2016, ngôi nhà này là vết tích duy nhất còn lại
của trại lính Pháp với lối kiến trúc đặc biệt của thuộc địa Pháp thời thế kỷ 19.

Dưới bờ sông, tượng Hai Bà Trưng bị kéo đổ (ii), không phải vì phe đảo chánh ghét Hai Bà Trưng, mà vì họ quả quyết tượng Hai Bà giống hệt bà Ngô Đình Nhu và con gái là Ngô Đình Lệ Thủy. Cũng may cho hai mẹ con lúc đó đang trên đường “giải độc” thế giới, nếu lúc đó có mặt tại Sài Gòn thì không biết số phận sẽ ra sao (9).

tuong_haibatrung
Tượng Hai Bà Trưng ở bến Bạch Đằng dựng lên năm 1962,
bị kéo đổ sau ngày đảo chánh 1-11-1963.

tuong_tranhungdao
Tượng Trần Hưng Đạo của điêu khắc gia Phạm Thông
thay thế tượng Hai Bà Trưng, tay chỉ xuống sông Sài Gòn.

Sinh viên trong cư xá Đắc Lộ nơi Long cư trú cũng không tránh khỏi tác động của cuộc thay đổi quá lớn lao cho miền Nam. Long lại được nghe những lời bàn luận của mấy bạn có suy nghĩ về tình hình chính trị, đa số nghi ngờ tài lãnh đạo của các tướng lãnh mới lên cầm quyền.

« Mấy ông tướng lãnh này chỉ là những tay lợi dụng thời cơ, chẳng có tài cán gì về chính trị cả. Cứ tiếp tục với mấy ông này thỉ rồi đây các bạn sẽ thấy tầng lớp lãnh đạo đất nước sẽ không còn thể thống gì nữa. Không biết rồi cuộc chiến sẽ xoay chiều như thế nào. Mới đảo chánh xong là các ấp chiến lược dùng để tách Việt Cộng ra khỏi người dân làng đã bắt đầu bị Việt Cộng phá bỏ, vì họ biết đó là một chiến lược hữu hiệu trong cuộc chiến chống du kích. »

Lập tức có người không đồng ý: « Nhưng người dân quê có ai ủng hộ chính sách ấp chiến lược không ? Phải bỏ nhà cửa ông cha để lại để vào sống trong những ấp có hàng rào bao bọc, có ai thích  như vậy không? Cuộc chiến chống du kích chỉ thành công nếu được lòng dân quê, nếu dân quê chỉ miễn cưỡng thi hành thì không thể thành công được.»

Một bạn khác nhắc đến một khía cạnh mới sau đảo chánh: «Dù sao thì không khí cũng dễ thở hơn trước, các phòng trà ca hát và nhảy đầm được mở cửa lại, không còn những luật lệ khắt khe dười thời bà Ngô Đình Nhu…»

«Nhưng đó là bạn nói những gì mình thấy ở Sài Gòn thôi. Trong cuộc chiến này, thôn quê mới là nơi quyết định thắng bại. »

Long chỉ biết dựa cột mà nghe, nhưng cũng có một thắc mắc: « Nhưng tại sao phe đảo chánh lại phải giết hai ông Diệm Nhu một cách dã man như thế? »

«Tại vì mấy ông tướng lãnh suy nghĩ và làm theo câu châm ngôn của các cụ mình ngày xưa: nhổ có phải nhổ tận rễ!» Long không đồng tình với lập luận đó, nhưng cũng không biết tranh cãi gì hơn.

Chính quyền cách mạng chưa được ba tháng thì bị tướng Nguyễn Khánh mang xe tăng ra “chỉnh lý”. Năm ông tướng Đôn, Kim, Đính, Xuân, Vỹ bị bắt, được báo chị gọi là “tướng Đà Lạt” vì bị quản thúc trên thành phố thơ mộng này. Lý do đưa ra là mấy ông này có ý đồ “trung lập”, câu kết với “thực dân”. Ông Nguyễn Khánh trở thành một “người hùng” (homme fort) được Mỹ ủng hộ (10).

Khái niệm “trung lập” do Tổng Thống Pháp De Gaulle đưa ra và trở thành một lý cớ để các tướng loại trừ nhau. De Gaulle đã gửi phái đoàn quốc hội Pháp đến Bắc Kinh, Hà Nội và Nam Vang để thăm dò ý kiến trung lập hóa Đông Nam Á của ông. Nhưng sự việc quan trọng nhất của De Gaulle trong vùng là ông đã công nhận chính quyền cộng sản Bắc Kinh. Ông đổ dầu thêm vào lửa khi tuyên bố “Giải pháp trung lập hóa các quốc gia Đông Nam Á đương nhiên phải có sự tham gia của Trung Quốc.”

Phản ứng lại là một chiến dịch ồ ạt trong làng báo Sài Gòn lên án chủ trương trung lập hóa của De Gaulle, lên án “sự can thiệp thô bạo của tàn dư thực dân Pháp” vào nội tình Việt Nam. Các cuộc biểu tình chống “trung lập và thực dân” được tổ chức trước tòa Đại sứ Pháp, các trường trung học Pháp Jean- Jacques Rousseau và Marie Curie, Trung tâm Văn hóa Pháp, và cả trên đường Tự Do ngay trung tâm thành phố. Vào tháng 7-1964, tòa Đại sứ Pháp bị phá phách bởi một số thanh niên leo tường vào bên trong.

Rồi đến phiên các lực lượng tranh đấu Công Giáo xuống đường. Ngày chủ nhật 7 tháng 6-1964, khoảng một trăm ngàn người Công Giáo từ Sài Gòn và nhất là các vùng phụ cận như Hố Nai tuần hành trong trật tự và im lặng, kéo dài gần hai tiếng đồng hồ, với rất nhiều biểu ngữ đòi bình đẳng tôn giáo và nói lên sự liên đới với đồng bào Công Giáo miền Trung bị chèn ép từ sau cuộc đảo chánh. Ngoài ra là những khẩu hiệu chống cộng sản và chống trunglập.

Trong bối cảnh đó, thật khó lòng cho đa số các sinh viên thầm lặng có thể tiếp tục chú tâm vào việc học hành. Các trường đại học cũng phải khổ tâm mới giữ được đầy đủ chương trình học và thi vào cuối niên khóa. Long cũng chịu ảnh hưởng của nỗi hoang mang chung, may mà lướt qua được để tập trung vào kỳ thi tháng 6, cuối năm thứ hai lên năm thứ ba Dược Khoa.

Mùa hè 1964, giới sinh viên chứng kiến một cuộc thay đổi chính sách bất ngờ. Trước đó, việc xuất ngoại sau khi đậu tú tài rất khó khăn, chỉ dành cho sinh viên thật xuất sắc được học bổng, hoặc con cháu những gia đình có thế lực lớn. Nhưng năm 1964 chính quyền mới của tướng Nguyễn Khánh “mở cửa” cho sinh viên đi du học dễ dàng, nhất là đi Pháp. Long lại được dịp tiễn đưa một số bạn bè ra đi, và ngay trong cư xá Đắc Lộ, bạn cùng phòng với chàng cũng đi Pháp du học vào mùa hè đó. Đây là một trong các bạn mà Long rất quý, vì tính nghệ sĩ của anh chàng cũng có, nhưng nhất là vì tình bạn chân thật giữa hai người. Bạn này thuộc một gia đình bình thường, không giàu có gì, năm đó cũng đã đi được, chứng tỏ không phải chỉ có “con nhà giàu” mới được du học.

Trên chính trường lộn xộn của miền Nam lúc đó, lần đầu tiên xuất hiện một nhân vật sẽ rất nổi tiếng sau này, đó là tướng Không quân Nguyễn Cao Kỳ. Ông Kỳ “bật mí” cho báo chí biết miền Nam đã bí mật đưa ra miền Bắc những toán quân biệt kích với mục đích phá hoại các cơ sở quân sự. Và cũng lần đầu tiên, câu “Bắc tiến” được chính thức đưa ra (11).

Một sự kiện quan trọng hơn nhiều là vụ “vịnh Bắc Bộ” vào đầu tháng 8-1964. Chiếc tàu Maddox của Mỹ bị tàu của miền Bắc tấn công, một bên nói là ở hải phận quốc tế, một bên nói là trong hải phận Việt Nam (12). Đây là một sự kiện đánh dấu việc quân Mỹ chuẩn bị trực tiếp nhảy vào chiến trường Việt Nam.

Cũng trong tháng 8 này, sinh viên Sài Gòn lại được dịp xuống đường cùng với các phe chống đối tướng Nguyễn Khánh khi ông này ban hành “Hiến chương Vũng Tàu” ngày 16 tháng 8-1964, một loại “hiến pháp tạm thời” dành cho người lãnh đạo quốc gia (lúc đó chẳng ai xa lạ, chính là ông Khánh) quá nhiều quyền hành. Lần đầu tiên áp lực của đường phố thắng thế khi ông Khánh phải mau chóng rút lại bản hiến chương này.

Sài Gòn thì rối tung như thế, còn thành phố Huế lại một lần nữa là nơi xuất phát một phong trào chống đối sẽ là mầm mống cho các xáo trộn trầm trọng những năm sau này. Một “Hội đồng Nhân dân Cứu quốc” được thành lập, do bác sĩ Lê Khắc Quyến, khoa trưởng Đại học Y khoa Huế, cầm đầu (13), chống lại sự can thiệp của Mỹ vào nội bộ của ViệtNam.

Trong khi đó các thành phần tranh đấu Phật Giáo và Công Giáo đụng độ đẫm máu tại làng Công Giáo Thanh Bồ gần Đà Nẵng, rồi tại Sài Gòn (14).

Qua tháng 9 lại đảo chánh, lần này là của các tướng Lâm Văn Phát và Dương Văn Đức mang quân từ miền Tây lên. Nhưng không thành. Rồi đến việc một nhóm “tướng trẻ” cùng nhau nhảy vào chính trường, nổi bật là hai tướng Nguyễn Văn Thiệu và Nguyễn Cao Kỳ. Một “Thượng Hội Đồng Quốc Gia” được thành lập vào tháng 10 có nhiệm vụ đặt nền móng cho chính quyền dân chủ trong tương lai. Một chính phủ dân sự đầu tiên được thành lập với ông Phan Khắc Sửu làm Quốc trưởng và ông Trần Văn Hương làm Thủtướng.

Và gần như một thông lệ từ khi đảo chánh thành công, chính phủ chưa thành lập xong đã bị chống đối qua các cuộc biểu tình, kể cả trong các phân khoa đại học. Ngày 30 tháng 11-1964, trong một cuộc họp báo, Thượng tọa Thích Tâm Châu tuyên bố thẳng thừng « Phật Giáo đã quyết định chống chính phủ Trần Văn Hương bằng mọi phương tiện bất bạo động và bất hợp tác » « Phật tử sẽ không phản đối nếu toàn thể dân chúng muốn chấm dứt chiến tranh. »

Trong hoàn cảnh rối ren về chính trị như thế, chuyện đương nhiên phải xảy ra trên chiến trường là quân Mặt trận Giải phóng cùng với bộ đội miền Bắc vào mỗi ngày chiếm thêm ưu thế. Ngày 1 tháng 11- 1964, căn cứ không quân Biên Hòa bị tấn công. Lần đầu tiên một căn cứ quân sự Mỹ chỉ cách Sài Gòn có ba chục cây số phải chịu một cuộc tấn công quy mô với nhiều tổn thất.

Nhưng các rối ren về chính trị vẫn cứ tiếp tục. Ngày 20 tháng 12, tướng Nguyễn Khánh cùng nhóm “tướng trẻ” quyết định giải tán Thượng Hội Đồng Quốc Gia và bắt giữ 10 thành viên của cơ cấu này. Đại sứ Mỹ Taylor (thay thế Đại sứ Cabot Lodge về nước chuẩn bị tranh cử), một cựu tướng lãnh Hoa Kỳ đến Sài Gòn để “sai bảo” các tướng lãnh Việt Nam theo ý mình, giận sôi lên: « Làm sao có được một chính quyền ổn định với những con người như thế này? » Căng thẳng giữa tòa Đại sứ Mỹ và nhóm tướng lãnh cầm quyền lên đến tột độ. Cần nhắc lại là chỉ mấy tháng trước đấy thôi, Bộ trưởng Quốc phóng Mỹ McNamara khi qua thăm Việt Nam còn nắm tay tướng Khánh giơ lên trước đám đông để chứng tỏ sự ủng hộ của Hoa Kỳ với “người hùng” này (15)!

Cuối cùng, năm 1964 chấm dứt bằng một cuộc khủng bố của Cộng Sản ngay trung tâm Sài Gòn. Tòa nhà Brinks nằm trên đường Hai Bà Trưng sau lưng Quốc hội, nơi trú ngụ của quân nhân Mỹ, bị phá hoại nặng khi một chiếc xe lớn đậu trước cửa tòa nhà nổ tung làm hai quân nhân Mỹ thiệt mạng và trên 60 người bị thương, cả Mỹ lẫn Viêt Nam.

Năm Con Rồng Giáp Thìn 1964 quả là một năm “rồng quậy”, và là một năm chứng kiến bước ngoặt quan trọng trong lịch sử ngắn ngủi của Việt Nam Cộng Hòa, một chế độ không chấp nhận cộng sản vì muốn được sống tự do.

(Còn tiếp)

Phạm Ngọc Lân

Cha vô danh – Chuyện kể cuộc đời một người Việt lai Pháp

Ghi Chú:

(1) Ngày 12 tháng 5-1963, báo Washington Post đăng trên trang nhất bài của ký giả Warren Unna phỏng vấn ông Ngô Đình Nhu. Ông Nhu nói miền Nam Việt Nam muốn Hoa Kỳ rút về phân nửa con số từ 12000 đến 13000 cố vấn Mỹ đang có mặt tại đây. Trong kho lưu trữ hồ sơ của Bộ ngoại giao Mỹ có một điện văn của Ngoại Trưởng Dean Rusk gửi Đại Sứ Nolting ở Sài Gòn, ra lệnh cho ông này phải gặp Tổng Thống Ngô Đình Diệm để phản đối những lời tuyên bố của ông em cố vấn.

Hai ngày sau, trên báo New York Times, bài của David Halberstam nhấn mạnh đến sự bất đồng ý kiến giữa chính phủ Mỹ và hai ông Diệm và Nhu về chiến lược phải theo trong cuộc chiến tại Việt Nam. Theo bài báo thì ông Nhu tuyện bố là « ông không tin người Mỹ có thẩm quyền để cố vấn chúng tôi về chiến tranh lật đổ (subversive warfare). »

(2) Ngày 14 tháng 8-1963, Đại Sứ Nolting, trong bữa tiệc tiễn đưa ông về Mỹ tại Sài Gòn, nhắc lại với Tổng Thống Ngô Đình Diệm việc Mỹ muốn Tổng Thống công khai tuyên bố hòa dịu với phe tranh đấu Phật Giáo trước khi ông rời nhiệm sở ngày hôm sau. Nhưng ông Diệm cho biết là trước những chỉ trích gay gắt của phe tranh đấu Phật Giáo và của báo chí Mỹ, hội đồng các bộ trưởng khuyên ông là không nên làm gì cả. Ông Nolting trả lời thẳng thừng là chính phủ Hoa Kỳ sẽ không chấp nhận chuyện ông Diệm không chịu lên tiếng cho tình hình bớt căng thẳng.

Cùng ngày hôm đó, tại Washington, ông Henry Cabot Lodge tuyên thệ nhậm chức đại sứ thay ông Nolting. Ngoại trưởng Dean Rusk tuyên dương ông như « một trong những chính trị gia lớn của Mỹ, với những đức tính vượt trội về chính trị, quân sự và ngoại giao ». Ông Nolting có nhiều cảm tình với Tổng Thống Diệm. Ngược lại, người ta đồn rằng ông Cabot Lodge được phái qua Việt Nam để tổ chức một cuộc thay đổi chính phủ tại đây.

Ngày 21 tháng 8, ông Nolting đã đi nhưng ông Lodge chưa đến. Sau nửa đêm ngày 20 rạng ngày 21, cảnh sát đặc biệt và lực lượng đặc biệt tấn công chùa Xá Lợi. Người ta nghe tiếng nổ lớn và nhiều tiếng súng, lựu đạn cay. Các nhà sư trong chùa kéo chuông và gây tiếng động inh ỏi kêu cứu, nhưng cuối cùng mấy trăm người bị bắt, chỉ có hai nhà sư nhảy tường trốn thoát. Tình trạng thiết quân luật được ban hành. Các chùa Ấn Quang và Theravada ở Sài Gòn, Từ Đàm ở Huế, Phổ Đà ở Đà Nẵng… đều chịu chung số phận. 

Đến chiều tối, một thông cáo của chính phủ « quyết định không chấp nhận lạm dụng tôn giáo cho những mục tiêu chính trị, lạm dụng chùa chiền để biến thành những nơi tuyên truyền chống chính phủ… »

Cùng ngày, một tuyên cáo của Hoa Kỳ từ Washington được công bố: « Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa đã quyết định dùng biện pháp mạnh đàn áp các nhà lãnh đạo Phật Giáo Việt Nam. Quyết định này là một vi phạm trực tiếp những lời cam kết của chính phủ theo đuổi con đường hòa giải với Phật Giáo. Chính phủ Hoa Kỳ lên án những hành động đàn áp này ». Đây là một tuyên bố rất nặng nề của Mỹ đối với một đồng minh, càng lạ hơn nữa vì nó được đưa ra vội vã vào sáng sớm bên Mỹ (tức là buổi tối bên Việt Nam).

(3) Theo báo cáo của Đại Sứ Mỹ ở Sài Gòn gửi cho Bộ Ngoại Giao, chiều ngày chủ nhật 1 tháng 9-1963, ba nhà sư đi bằng taxi đến gần tòa đại sứ trên đại lộ Hàm Nghi rồi xuống đi bộ về phía cổng. Khi gần tới nơi, ba người chạy đến cổng gác bởi hai người lính Mỹ và hô to « Cho chúng tôi vào, xin giúp chúng tôi. » Một trong ba nhà sư lọt vào được trong, một cảnh sát Việt Nam vội tìm cách ngăn hai nhà sư còn lại. Nhưng hai người lính Mỹ can thiệp cho hai nhà sư này cũng vào được trong. Ba nhà sư tên là Phạm Trí Quang, Lê Mậu Chi và Trần Văn Nhâm.

Một nhân viên của tòa Đại sứ Mỹ nhận diện được Thượng Tọa Thích Trí Quang (hai nhà sư kia đi theo phục vụ). Ông nói bị bắt cùng với các nhà sư khác ở chùa Xá Lợi trong đêm 20 rạng ngày 21 và bị giam giữ tại cảnh sát quận 7. Ông dùng tên giả là Đinh Văn Tánh và cạo lông mày để không bị lộ diện. Trong khuôn viên của ty cảnh sát, các nhà sư được tự do đi lại nên ông di chuyển nhiều để tránh bị nhận diện. Tuy các nhà sư khác và ngay cả một vài cảnh sát cấp thấp biết ông là ai, nhưng ông không bị tố cáo. Khi được trả tự do, ông quyết định đến ngay tòa đại sứ Mỹ xin tị nạn. Trong một lá thư gửi đến Đại Sứ Cabot Lodge, ông có yêu cầu được giúp để bí mật đi Hoa Kỳ hoặc Thái Lan hoặc Ấn Độ.

Đại Sự Lodge thông báo chính thức cho chính quyền Việt Nam là ông đã cho ba nhà sư tị nạn chính trị trong tòa đại sứ Mỹ.

(4) Quách Thị Trang không phải là một lãnh tụ trong phong trào chống đối, cô chỉ là một nữ sinh tham gia biểu tình. Nhưng cái chết của cô đã biến cô thành một biểu tượng cho cuộc tranh đấu của sinh viên học sinh. Sau cuộc đảo chánh lật đổ chế độ của ông Ngô Đình Diệm, một bức tượng bán thân được dựng lên ở công trường trước chợ Bến Thành, tên cô được dùng cho công trường này cho đến bây giờ, ngay cả sau biến cố 1975.

(5) Khi các tài liệu lưu trữ của chính phụ Mỹ được giải mật, người ta biết được là các tin đồn này có cơ sở vững chắc chứ không phải là tin đồn vu vơ. Đã có một quyết định của Mỹ thúc giục các tướng lãnh đảo chánh trong tuần cuối cùng của tháng 8, nhưng cuộc đảo chánh đã không xảy ra. Phải hai tháng sau, một cuộc đảo chánh khác vào ngày 1 tháng 11-1963 mới thành công.

Tất cả bắt đầu bằng « bức điện văn số 243 » gửi vào lúc 21 giờ 36 phút ngày 24 tháng 8-1963, giờ Washington (9 giờ 36 ngày 25 giờ Sài Gòn). Bộ ngoại giao Mỹ gửi bức điện này cho Đại Sứ Cabot Lodge ở Sài Gòn, nội dung chính:

- cho chính phủ Việt Nam biết rằng chính phủ Hoa Kỳ không thể chấp nhận những hành động chống lại Phật Giáo của ông Nhu, và làm áp lực để những người cầm quyền có những biện pháp công khai hòa giải.

- cho các cấp lãnh đạo quân đội biết rằng chính phủ Hoa Kỳ không thể tiếp tục ủng hộ chính phủ Việt Nam về mặt quân sự cũng như kinh tế nếu những biện pháp nêu trên không được thực thi. Có nghĩa là phải loại ông Nhu ra khỏi chính trường, và nếu ông Diệm không chấp nhận, chính phủ Hoa Kỳ sẽ không ủng hộ ôngnữa.

- tuyên bố cho mọi người biết là việc tấn công các chùa chiền trong đêm 20 không do quân đội thực hiện, mà là do lực lượng đặc biệt của phủ tổngthống.

Tướng Taylor, Tổng Tham Mưu Trưởng Liên Quân Hoa Kỳ, khi biết được nội dung của bức điện văn (do Tướng Krulak chuyển, Krulak là một phụ tá đặc biệt về chiến tranh chống nổi loạn) cho biết là cần sửa đổi nội dung bức điện văn này vì nó không cho ông Diệm một chọn lựa nào cả.

Đại sứ Lodge cũng xin sửa đổi nội dung bức điện văn theo một chiều hướng khác. Ông muốn được trực tiếp liên lạc với các tướng lãnh Việt Nam, vì ông tin rằng hầu như chắc chắn ông Diệm sẽ không chấp nhận những đề nghị của Hoa Kỳ. Nhưng ông cũng thêm là ông không thể hành động khi mà chưa có một phương án di tản an toàn cho người Mỹ. Đề nghị này được ông Ball (quyền Bộ Trưởng Ngoại Giao Mỹ trong khi ông Rusk đang nghỉ lễ) cùng với Harriman và Hilsman chấp nhận trong một điện văn không ký tên. Ba ông này là những thành phần chống ông Diệm trong bộ ngoại giao Mỹ.

Từ đó, Đại Sứ Lodge họp với tướng Harkins chỉ huy quân đội Mỹ ở Việt Nam, các ông Trueheart, Mecklin và người trách nhiệm CIA địa phương, đi đến quyết định là sẽ « giấu tay », và như vậy tướng Harkins sẽ không tiếp xúc trực tiếp với các tướng lãnh Việt Nam. Sẽ chỉ có hai nhân viên CIA bí mật tiếp xúc, một là Conein sẽ gặp các tướng Trần Thiện Khiêm và Trần Văn Đôn nếu ông Khiêm đề nghị, người thứ hai không nêu tên sẽ đi Pleiku gặp tướng Nguyễn Khánh. Hai người này phải nói cho các tướng Việt Nam biết rằng ông Nhu phải ra đi, còn ông Diệm thì tùy các tướng lãnh, còn các nhà sư bị bắt giữ phải được trả tự do ngay. Hoa Kỳ sẽ giúp đỡ trực tiếp trong giai đoạn chuyển tiếp, nhưng sẽ không làm gì khi đang xảy ra đảo chánh. Nếu ông Nhu vẫn còn đó và mối quan hệ với Phật Giáo không cải thiện, Hoa Kỳ sẽ ở vị thế không thể tiếp tục ủng hộ về quân sự và kinh tế nữa.

Lúc 12 giờ 45 ngày 25, Trung Tá Conein của CIA gặp tướng Trần Thiện Khiêm. Ông Khiêm đồng ý với lập trường của Mỹ. Ông khuyên Conein không nên gặp tướng Trần Văn Đôn vì chung quanh ông Đôn có nhiều người thân cận với ông Nhu. Ông Khiêm đề nghị với Conein gặp tướng Dương Văn Minh.

Nhân viên CIA thứ hai gặp tướng Nguyễn Khánh ở Pleiku, ông này cho biết là ông chưa sẵn sàng, và muốn chờ ông Nhu có những liên lạc chặt chẽ hơn với miền Bắc trước khi hành động. Ông muốn có một câu trả lời dứt khoát từ người Mỹ:  trường hợp đảo chánh thất bại, gia đình những người liên quan có được Mỹ giúp đỡ không ? Ông cũng khuyến cáo không nên tiếp xúc với tướng Tôn Thất Đính.

Ngày 26, đài VOA (Voice of America = Tiếng Nói Hoa Kỳ) loan tin là theo các giới chức Mỹ, các cuộc tấn công vào chùa chiền không phải do quân đội thực hiện, mà do lực lượng đặc biệt dưới quyền kiểm soát của ông Nhu thi hành, và rằng Hoa Kỳ sẽ cắt viện trợ cho Việt Nam nếu Tổng Thống Ngô Đình Diệm không loai bỏ các viên chức trách nhiệm các cuộc tấn công đó. Đại Sứ Lodge rất bực mình vì chương trình phát thanh này của đài VOA vì nó có thể làm thất bại kế koạch của Mỹ. Ngoại Trưởng Dean Rusk gửi cho ông Lodge một điện văn rất tiếc đã có bản tin phát thanh này.

Ngày 27, Conein gặp lại tướng Khiêm lúc 14 giờ 30 trong bộ Tổng Tham Mưu. Ông Khiêm cho biết đã có một buổi họp bàn về đảo chánh của một hội đồng tướng lãnh do tướng Dương Văn Minh cầm đầu, và đã quyết định sẽ ra tay trong vòng một tuần lễ. Hội đồng này có thêm các tướng Lê Văn Kim, Nguyễn Khánh, Phạm Xuân Chiểu, Nguyễn Ngọc Lễ. Tướng Trần Tử Oai không nằm trong hội đồng nhưng cho biết sẽ hợp tác, tướng Trần Văn Đôn là một thành phần của hội đồng nhưng không thể hành động vì quanh ông có nhiều tay chân của ông Nhu. Những tướng lãnh cần phải vô hiệu hóa là Tôn Thất Đính và Huỳnh Văn Cao. Đại Tá Lê Quang Tung và lực lượng đặc biệt của ông phải bị « loại bỏ ». Phó Tổng Thống Nguyễn Ngọc Thơ được chọn là nhân vật dân sự sẽ đứng đầu chính phủ tương lai.

Tướng Khiêm cũng cho Conein biết là không được tiếp xúc với tướng Minh vì ông bị theo dõi rất kỹ, và cũng không được gặp ông trong bộ Tổng Tham Mưu nữa. Về phần Conein, ông cam đoan rằng chính phủ Mỹ sẽ làm mọi cách trong quyền hạn của mình để cứu giúp gia đình các người tham gia đảo chánh nếu thất bại.

Về phía chính phủ Mỹ, một cuộc họp diễn ra cùng ngày ở thủ đô Washington với sự hiện diện của Tổng Thống Kennedy. Ông Rusk đề nghị có buổi họp hằng ngày giống như thời có cuộc khủng hoảng Cuba năm trước (1962). Ông Nolting (Đại Sứ tiền nhiệm của ông Lodge) phát biểu là các tướng không có bản lãnh của hai anh em ông Diệm và Nhu và sẽ chia rẽ nhau. Bộ Trưởng Quốc Phòng McNamara cho rằng lực lượng chống đối yếu và tản mác. Ông Nolting nói thêm là hai ông Diệm và Nhu gắn liền với nhau không thể tách rời được, ông kể rằng người tiền nhiệm của ông là Đại Sứ Durbrow, ba năm trước đây đã nói với ông Diệm là ông Nhu phải ra đi, kết quả là ông Nhu không đi mà chính ông Durbrow phải đi. Ông Kennedy kết luận rằng như vậy thì các tướng lãnh không đủ khả năng để làm đảo chánh.

Qua ngày 28, hai buổi họp diễn ra với Tổng Thống Kennedy. Buổi họp vào lúc trưa không đi đến một quyết định chung  nào cả về vấn đề đảo chánh: có nên trở về vị trí cũ không làm gì cả, hay tham gia tích cực vào cuộc đảo chánh, hay để các tướng lãnh Việt Nam ra tay với lời hứa hẹn sẽ ủng hộ nếu họ thành công ? Cuộc họp buổi chiều vào lúc 18 giờ đi đến quyết định là nên hỏi ý kiến của Đại Sứ Lodge và Tướng Harkins là những người trách nhiệm tại chỗ. Tướng Taylor gửi một điện văn cho tướng Harkins, Ngoại Trưởng Rusk gửi một điện văn cho Đại Sứ Lodge, và Tổng Thống Kennedy cũng gửi một điện văn của cá nhân ông cho ôngLodge.

Ngày 29, Đại Sứ Lodge gửi một điện văn quan trọng trả lời: «Chúng ta đã lao vào một con đường không thể lùi được nữa, đó là con đường lật đổ chính quyền ông Diệm.» Theo ông thì người Mỹ phải làm một cố gắng cuối cùng để các tướng lãnh ra tay, và ông đề nghị:

1. cho phép Tướng Harkins nói chuyện trực tiếp với các tướng lãnh (từ trước tới giờ chỉ có nhân viên CIA tiếp xúc).

2. chuẩn bị một lời tuyên bố công khai của chính phủ Hoa Kỳ ngưng viện trợ cho Việt Nam qua chế độ của ông Diệm ngay khi các tướng lãnh bắt đầu cuộc đảo chánh, nếu họ yêu cầu.

Ông Lodge cho biết chỉ có một điểm bất đồng giữa ông và tướng Harkins: ông này đề nghị ông Lodge nên gặp ông Diệm để khuyên ông ấy tách ông Nhu ra khỏi chính quyền trước khi bật đèn xanh cho các tướng lãnh đảo chánh, nhưng ông Lodge tin là sẽ không có mảy may hy vọng nào là ông Diệm sẽ bỏ ông Nhu, và hành động như thế chỉ gây thêm mối nghi ngờ của các tướng lãnh vốn đã không tin Mỹ lắm.

Cũng ngày 29 tại Washington, trong cuộc họp buổi trưa, Tổng Thống Kennedy tóm tắt những việc cần làm:

- Tướng Harkins phải hỗ trợ những cuộc tiếp xúc của CIA với các tướng lãnh ;

- Đại Sứ Lodge được phép công bố việc ngưng viện trợ Mỹ, nhưng công bố vào lúc nào, phải do Washington quyết định ;

- Không tuyên bố gì về các cuộc di chuyển của quân đội Mỹ trong vùng; 

- Đại Sứ có thẩm quyền trên mọi hoạt động công khai và bí mật. 

Sau buổi họp, bộ ngoại giao Mỹ bèn gửi cho ông Lodge một điện văn gồm những điểm trên đây, và một điện văn riêng của Ngoại Trưởng Rusk về một vấn đề then chốt: ông Lodge có nên gặp Tổng Thống Ngô Đình Diệm (để thuyết phục ông nên tách rời khỏi ông Nhu) hay không. Ông Kennedy cũng gửi một điện văn riêng cho ông Lodge, nói thêm rằng ông giữ cho mình quyền có thể phải rút lại các quyết định hiện nay, vì « theo kinh nghiệm của ông thì một cuộc thất bại sẽ tai hại hơn rất nhiều một tình trạng không dứt khoát.»

Ngày 30, ông Lodge trả lời cho bộ ngoại giao là ông sẽ không gặp ông Diệm, vì ông Diệm cần ông Nhu chứ không muốn bỏ ông Nhu. Khó khăn lớn nhất để thực hiện kế hoạch trong điện văn 243 là quán tính: ngày ngày đi qua và không có gì xảy ra cả. Theo ông thì chỉ có thể trông chờ vào một hành động về phía Việt Nam ; ông nói thêm rằng ông biết như vậy chẳng khác gì hành động « đẩy một sợi bún.»

Các tài liệu lưu trữ trong bộ ngoại giao Pháp (quai d’Orsay) tiết lộ thêm là ông Lodge có gặp Đại Sứ Pháp Lalouette, ông này khuyên nên làm nguôi bớt dư luận Mỹ, và ông chống lại ý kiến đảo chánh. Trong một bức điện văn gửi cho bộ ngoại giao Pháp, Đại Sứ Pháp xác nhận có thể xảy ra một cuộc binh biến, nhờ những cuộc tiếp xúc riêng tư của ông với những nhà lãnh đạo Việt Nam và với ông Lodge.

Ngày 31 tháng 8, đúng một tuần sau bức điện văn 243 được gửi đi, Tướng Harkins gặp Tướng Khiêm. Ông này cho biết Tướng Dương Văn Minh đã ngưng dự án đảo chánh, và bây giờ đang tìm giải pháp khác. Các tướng lãnh chưa sẵn sàng vì lực lượng do các ông này nắm giữ không mạnh bằng lực lượng trung thành với hai ông Diệm Nhu đóng ở Sài Gòn hiện nay. Ông cho biết thêm là Tướng Trần Văn Đôn sẽ đệ trình Tổng Thống một dự án cải tổ chính phủ, đưa ba tướng lãnh vào các chức vụ bộ trưởng quan trọng như nội vụ, quốc phòng và thông tin.

Về phần CIA, họ loan báo rằng dự án đảo chánh đã chấm dứt.

Đại Sứ Lodge gửi điện văn báo tin này, và thêm rằng « chính phủ Hoa Kỳ đã có lý khi ra lệnh cho ông xúc tiến việc này, không những vì dư luận bên Mỹ và trong thế giới tự do chống đối hai anh em ông Diệm và ông Nhu, mà còn bởi vì chính quyền Việt Nam đả hành sử như những người nói dối và sát nhân. Nhưng hôm nay, chỉ có thể thay đổi chính quyền này nếu Hoa Kỳ ra tay, và dĩ nhiên là không thể có chuyện đó được.»

Ông Lodge cũng nói đến vai trò của Pháp trong thời gian qua. Ông cho biết Đại Sứ Pháp Lalouette đã gặp ông Ngô Đình Nhu trong vòng 4 tiếng đồng hồ ngày 20 tháng 8. Ông cho rằng Pháp muốn Mỹ rút khỏi Việt Nam để họ có thể làm trung gian giữa hai miền Nam Bắc. Ngày 30, ông Lalouette cũng đã mời cơm trưa các đại sứ của Tòa Thánh Vatican, của Ý và của Úc. Sau khi Đại Sứ Úc về, ông đã nói « chúng ta phải cứu gia đình… »

Cuối cùng, ông Lodge đề nghị cắt viện trợ cho Việt Nam, như vậy ông sẽ có một quân bài chủ (atout) để thương thuyết với chính quyền Việt Nam nếu họ muốn được viện trợ trở lại.

Cùng ngày 31 tháng 8-1963, cuộc họp tại bộ ngoại giao Mỹ đi đến kết luận: Hoa Kỳ không thể rút khỏi Việt Nam, Hoa Kỳ cũng không tổ chức được đảo chánh, vậy phải đổi chiến thuật: nối lại liên lạc với chính quyền Việt Nam và làm áp lực bằng cách ngưng viện trợ.

Ý định của Mỹ thay đổi chế độ bằng một cuộc đảo chánh vào cuối tháng 8 đã thất bại hoàn toàn.

(6) Ngày 9 tháng 9-1963, bà dân biểu Ngô Đình Nhu rời Sài Gòn cầm đầu một phái đoàn Quốc Hội tham dự cuộc họp lần thứ 52 của Liên Hiệp Nghị Sĩ Dân Biểu ở Belgrade, thủ đô Nam Tư.

Tại phi trường Tân Sơn Nhứt, bà tuyên bố với báo chí: « Cộng sản đang dựng lên một âm mưu làm hại cho Việt Nam. Vì vậy trên đường về, tôi sẽ ngừng lại ở các thủ đô Âu Châu để cho công luận biết về tình trạng thật của Việt Nam hiện nay. Nếu tôi có đi Hoa Kỳ, tôi sẽ không đóng vai đại diện Việt Nam trong phiên họp của Liên Hiệp Quốc bàn về vấn đề Việt Nam như báo chí loan tin trước đây, nhưng tôi sẽ gặp gỡ báo chí Hoa Kỳ theo lời mời của các tờ bào lớn nhất tại đây.

Ngày 12, bài phát biểu của bà Nhu tại Đại Hội Liên Hiệp Nghị Sĩ Dân Biểu ở Belgrade được hoan nghênh nhiệt liệt. Đại hội này quy tụ gần 500 nghị sĩ và dân biểu các nước. Phái đoàn Mỹ có khoảng 30 người, trong đó có Thượng Nghị Sĩ Mike Mansfield và EdwardKennedy.

Ngày 20, bà rời Belgrade đi Athènes và Roma. Tại phi trường, bà tuyên bố Hoa Kỳ muốn có một chính phủ bù nhìn ở miền Nam Việt Nam, nhưng không thực hiện được nên chính phủ hiện nay bị làm dê tế thần.

Chương trình của bà ở Mỹ từ ngày 7 đến 29 tháng 10-1963, trong 22 ngày bà xuất hiện 29 lần trong đó có 10 chương trình truyền hình, 2 cuộc phỏng vấn của đài phát thanh, 6 lần gặp gỡ báo chí, 11 đại học và 2 cuộc phỏng vấn đặc biệt cho các báo Time và Knight.

(7) Ngày 7 tháng 10-1963, tại phiên họp khoáng đại thứ 1232 của Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc, điểm 77 của nghị trình được đem ra thảo luận. Chủ tọa cuộc họp cho biết đã nhận được bức thư đề ngày 4 tháng 10-1963 của đại diện Việt Nam Cộng Hòa « mời đại diện một số nước đến Việt Nam trong thời hạn ngắn nhất để nhận định tại chỗ về quan hệ giữa chính quyền và Phật Giáo.»

Bốn ngày sau, 11-10-1963, trong phiên họp thứ 1239, một phái đoàn được thành lập gồm đại diện của 7 quốc gia thành viên LHQ:

- Afghanistan: Ông Abdul Rahma Pazhwak, Đại Sứ, trưởng phái đoàn

- Brazil: Ông Sergio Corrêa de Costa, Đại Sứ

- Ceylan: Ông Senerat Gunewardene, Đại Sứ

- Costa Rica: Ông Fernando Volio Jimenez, Đại Sứ

- Dahomey: Ông Ignacio-Pinto, Đại Sứ

- Maroc: Ông Ahmed Taibi Benhima, Đại Sứ (sau được thay thế bởi ông Mohammed Amor)

- Nepal: Ông Matrika Prasad Koirala, Đại Sứ 

Phái đoàn đến Sài Gòn ngày 24-10-1963 lúc 0 giờ 30 tại sân bay Tân Sơn Nhứt, được ông Phạm Đăng Lâm, Tổng Thư Ký bộ Ngoại Giao đón tiếp. Phái đoàn tuyên bố với báo chí về mục đích của họ là “điều tra về các sự kiện liên quan đến những lời tố cáo chính phủ Việt Nam Cộng Hòa vi phạm nhân quyền trong quan hệ với cộng đồng Phật Giáo tại đây.”

Phái đoàn dự trù làm việc trong vòng 2 tuần, nhưng mới được 1 tuần thì công tác bỏ dở vì chính quyền bị lật đổ trong cuộc đảo chánh ngày 1-11-1963.

(8) Cuộc đảo chánh 1 tháng 11-1963 được các tướng lãnh chuẩn bi rất kỹ lưỡng. Cuộc đảo chánh được sự đồng ý của người Mỹ, nhưng không do người Mỹ điều khiển như hồi tháng 8. Cuối tháng 8, Mỹ thúc giục các tướng lãnh làm đảo chánh, nhưng việc không thành vì các tướng lãnh chưa đủ thời gian chuẩn bị và lực lương còn yếu kém.

Ngày 27 tháng 10 lúc 7 giờ sáng tại phi trường Tân Sơn Nhứt, Tổng Thống Diệm lên máy bay đi Đà Lạt, có mời Đại Sứ Cabot Lodge đi theo. Trong phái đoàn tiễn đưa ông ở phi trường có Tướng Trần Văn Đôn là một trong các tướng lãnh chủ chốt cuộc đảo chánh, nhưng đến phút chót vẫn được ông Diệm tin cậy. Lợi dụng cơ hội này, ông Đôn hỏi riêng ông Lodge là Trung Tá CIA Conein có thẩm quyền nói thay cho ông Lodge không. Ông Lodge trả lời có. Ông Đôn nói tất cả sự việc xảy ra sẽ do các tướng lãnh Việt Nam thực hiện và điều khiển, người Mỹ không được dính dáng vào. Ông Lodge đồng ý, nhưng ông muốn được biết trước kế hoạch đảo chánh. Ông Đôn hứa sẽ cho ông Lodge biết trước 48 tiếng đồng hồ.

Chiều ngày 28, Tướng Trần Văn Đôn gặp Trung Tá CIA Conein. Theo tài liệu của Mỹ đã giải mật thì:

- Ông Đôn nhắc lại là ông không muốn người Mỹ can thiệp vào dự án của các tướng lãnh. Ông yêu cầu nhân viên Mỹ đừng tiếp xúc với phía Việt Nam nữa, cầu liên lạc duy nhất sẽ là giữa ông và Conein màthôi.

- Conein cho biết là ông Lodge dự tính rời Sài Gòn ngày 31 tháng 10 để về Mỹ một thời gian ngắn, và muốn xem dự án đảo chánh của các tướng lãnh trước khi đi. Ông Đôn nói là trước đây ông hứa cho ông Lodge xem dự án 48 giờ trước, nhưng bây giờ thì không thể được, ông chỉ có thể cho xem 4 giờ trước mà thôi. Ông đề nghị ông Lodge không thay đổi ngày giờ về Mỹ để khỏi gây nghi ngờ.

- Ông Đôn sẽ bay ra miền Trung ngày 29 để bàn những chi tiết giờ chót với các tướng Đỗ Cao Trí chỉ huy vùng 1 chiến thuật và Nguyễn Khánh chỉ huy vùng 2 chiến thuật, lấy lý do là đi trao thưởng huychương.

- Ông yêu cầu Conein có mặt túc trực ở nhà bắt đầu từ tối thứ tư 30 tháng 10. 

- Ông cho biết là Tướng Tôn Thất Đính không tham gia soạn thảo kế hoạch đảo chánh, và bị ông Nhu nghi ngờ. Phe đảo chánh cũng không tin tưởng ở ông Đính, nên lúc nào cũng có những tay chân của phe đảo chánh theo sát ông Đính với lệnh phải thanh toán ông nếu có dấu hiệu gì có thể làm cho cuộc đảo chánh thất bại.

- Ông Đôn cho biết tổng quát các đơn vị sẽ tham gia đảo chánh.

(Sau này sự tham gia tích cực của Tướng Tôn Thất Đính trong cuộc đảo chánh là một yếu tố quyết định thắng lợi. Sở dĩ có sự nghi ngờ lúc đầu vì ông Đính được xem như « con cưng » của ông Diệm).

Trong cuốn hồi ký « Việt Nam Nhân Chứng » của Tướng Trần Văn Đôn (bản tiếng Việt), ông cho biết là cuộc gặp gỡ kể trên diễn ra tại văn phòng người bạn ông là nha sĩ Long. Ông cũng viết là Conein hỏi ông « có cần tiền hay vũ khí gì không. » Ông trả lời « không cần tiền, cũng không cần vũ khí, chỉ cần tinh thần và lòng can đảm, mà những điều đó chúng tôi đã có đủ ». Conein nói « phải cần có tiền để ủy lạo cho gia đình binh sĩ nào bị thương vong hoặc mua thức ăn cho binh sĩ, ông ta nghĩ rằng đảo chánh cũng mất vài ngày.» Sau này có dư luận vin vào sự kiện này để bôi bác các tướng lãnh đảo chánh là đã « ăn tiền của Mỹ để làm đảo chánh ». Ông Đôn có nhắc đến việc này trong hồi ký: « Đúng 1 giờ 30 trưa, ông Conein vào [tổng hành dinh phe đảo chánh trong Tổng Tham Mưu] có mang theo một máy truyền tin đặc biệt để liên lạc với tòa đại sứ Mỹ và bao tiền là ba triệu bạc Việt Nam [khoảng 40.000 đô-la theo giá chính thức, 23.000 theo giá thị trường]. Đảo chánh vừa thành công, trong không khí rộn ràng lúc đó, tôi có tặng cho các bạn một số tiền ủy lạo binh sĩ đơn vị mình mà không đòi làm biên nhận đầy đủ. Đến năm 1971, tôi ra lịnh cho Thiếu Tá Đặng Văn Hoa tìm lục lại các biên nhận về việc chi số tiền ba triệu bạc của Conein thì Thiếu Tá Hoa làm tờ trình và một số các biên nhận. Tôi xin đính kèm theo đây để chứng minh. Tôi không tồ chức đảo chánh để kiếm số bạc như vậy.»

Ngày 29 là một ngày bận rộn tại Washington, sau khi nhận được báo cáo từ Sài Gòn. Một buổi họp với Tổng Thống Kennedy diễn ra lúc 16 giờ 20. Sau khi nghe tường trình, ông Kennedy đồng ý là Đại Sứ Cabot Lodge phải lấy máy bay về Mỹ như đã dự trù, nếu đảo chánh xảy ra trong khi ông không có mặt tại Việt Nam càng tốt. Nhưng ông Kennedy nhận thấy rằng tương quan lực lượng giữa phe đảo chánh và phe trung thành với ông Diệm ngang ngửa nhau, và làm đảo chánh trong điều kiện như vậy là ngớ ngẩn (stupid). Ông nói « Nếu Lodge cùng quan điểm như  vậy, chúng ta phải ra lệnh cho ông tìm cách ngăn những người định làm đảo chánh.»

Trong cuộc họp thứ hai cùng ngày lúc 18 giờ với ít thành viên hơn để soạn thảo điện văn gửi cho Đại Sứ Lodge, ông Kennedy nhắc lại là ông Lodge phải đòi các tướng lãnh chứng minh là họ sẽ thành công, nếu không thì sẽ là một sai lầm to lớn.

« Nếu làm sai, có thể chúng ta sẽ mất hết vị thế của mình ở Đông Nam Á trong một đêm. »

Ngày 30, Tướng Harkins đứng đầu cơ quan quân sự MACV ở Sài Gòn, viết cho cấp trên của ông là Tướng Taylor rằng Tướng Đôn hoặc là nói láo, hoặc là chơi trò « bắt cá hai tay », vì những gì ông Đôn nói với Conein (đảo chánh trước ngày 2-11) ngược lại những gì ông Đôn nói với tướng Harkins (chưa có kế hoạch đảo chánh). Ông cũng cho hay là trong buổi lễ Quốc Khánh 26 tháng 10 vừa qua, trong hai tiếng đồng hồ đứng cạnh hai tướng Dương Văn Minh và Trần Văn Đôn, ông không hề nghe ai nói đến đảo chánh cả. Ông không đồng ý với cách làm việc của Đại Sứ Lodge. Cuối bức điện văn, ông nói: « Dù phải hay không phải, chúng ta cũng đã ủng hộ ông Diệm trong tám năm qua, tôi thấy không ổn khi bây giờ mình lại bỏ ông ấy như thế. Ông ta đã dựa trên mình rất nhiều. Lãnh tụ của các nước khác sẽ nghĩ sao về số phận của họ khi thấy chúng ta đối xử như thế với ông Diệm ? »

Đại Sứ Lodge trả lời Tổng Thống Kennedy khi nhận được lệnh tìm cách ngăn các tướng lãnh định đảo chánh nếu cơ hội thành công không rõ rệt. Ông nhấn mạnh là Tướng Đôn đã nói rõ chuyện đảo chánh là một vấn đề của ngưởi Việt Nam, không phải của người Mỹ. Cách duy nhất để ngưng đảo chánh là cho ông Diệm biết, như vậy thì hóa ra người Mỹ đã phản lại các tướng lãnh đã tin tưởng vào mình. Ông kết luận là người Mỹ có rất ít ảnh hưởng trong việc này. Ông tin tưởng vào sự thành thật của Tướng Đôn và các tướng khác, họ là những người có thể mất mạng khi làm chuyện này. Cuối điện văn, ông cho biết Tướng Harkins có đọc bức điện văn và không đồng ý với ông.

Ông McGeorge Bundy, Cố Vấn An Ninh Quốc Gia của Tổng Thống Kennedy, viết điện văn trả lời Đại Sứ Lodge là ông không chấp nhận nguyên tắc nước Mỹ không có khả năng để hoãn một cuộc đảo chánh, hay khả năng ngăn những người định đảo chánh. Ông ra lệnh cho Đại Sứ Lodge phải tìm cách ngưng diễn tiến chuẩn bị đảo chánh nếu ông xét thấy là không có cơ may thành công. Ông cũng đồng thời ra chỉ thị rất rõ ràng về thái độ của Hoa Kỳ: không được can thiệp để giúp một bên nào cả, « nhưng một khi cuộc đảo chánh đã khởi sự, thì Hoa Kỳ mong cuộc đảo chánh thành công vì quyền lợi của Hoa Kỳ. »

Ngày thứ sáu 1 tháng 11-1963 lúc 13 giờ 30, cuộc đảo chánh bắt đầu. Những cuộc chạm súng mãnh liệt xảy ra quanh dinh Gia Long (dinh Độc Lập lúc đó đang xây cất lại vì bị bom năm 1962) và thành Cộng Hòa là nơi đồn trú của Lữ Đoàn Phòng Vệ Phủ Tổng Thống. Đến chiều tối, phe đảo chánh thắng thế, hai ông Diệm và Nhu dùng xe ra khỏi dinh Gia Long ở cửa sau và đến nhà Mã Tuyên, một thương gia thân cận của hai ông ở Chợ Lớn trú ẩn, sau đó qua đêm ở nhà thờ Cha Tam cũng ở Chợ Lớn.

Tướng Harkins báo cáo với tướng Taylor: « Thay vì báo trước 4 tiếng đồng hồ hay 2 ngày trước khi làm đảo chánh, chúng ta đã được báo trước khoảng 4 phút. » Hiển nhiên là các tướng lãnh không tin tưởng vào sự kín đáo của người Mỹ.

Sáng mùng 2, phe đảo chánh đã thắng thế, hai ông Diệm và Nhu điện thoại cho các tướng lãnh để họ đến đón hai ông ở ngôi nhà thờ ở Chợ Lớn. Một đoàn xe do Tướng Mai Hữu Xuân cầm đầu được phái đến, hai ông Diệm và Nhu được chở đi trong một chiếc xe bọc thép M113, những người đến bắt hai ông giải thích là để bảo vệ hai ông trên đường đi, vì sợ đám đông dọc đường có hành vi bất trắc nếu thấy hai ông. Khi đến tổng hành dinh phe đảo chánh trong Tổng Tham Mưu thì hai ông đã chết, tay còn trói quặt phía sau. Đại Úy Nhung, một tùy viên thân cận của Tướng Dương Văn Minh là người thi hành lệnh ám sát hai ông. Không tướng lãnh nào đứng ra nhận mình là người ra lệnh cả, nhưng ai cũng nghĩ chỉ có thể là ông Dương Văn Minh. Trong kế hoạch đảo chánh không có quyết định hạ sát hai ông Diệm và Nhu.

Ba người đầu não trong cuộc đảo chánh là các tướng Dương Văn Minh, Trần Văn Đôn và Lê Văn Kim.

Đại Sứ Lodge đồng ý với Bộ Ngoại Giao là Mỹ phải ủng hộ và mau chóng công nhận chính quyền mới, nhưng ông nói cũng nên làm cách nào để vài quốc gia bạn công nhận trước Hoa Kỳ.

Ngày 3 tháng 11, chính phủ Mỹ tuyên bố lấy làm tiếc về số phận của ông Ngô Đình Diệm, đồng thời phủ nhận vai trò của Mỹ trong cuộc đảo chánh.

Ngày 5, chính phủ cách mạng lâm thời ra mắt với ông Nguyễn Ngọc Thơ làm thủ tướng (ông Thơ trước đó làm Phó Tổng Thống cho ông Diệm).

Cũng trong ngày 5 tháng 11, tại Paris, Đại Sứ Mỹ Bohlen đến gặp Tổng Thống Pháp De Gaulle (theo lệnh của Bộ Ngoại Giao Mỹ) để thông báo cho Pháp biết là Mỹ sẽ công nhận chính phủ mới ở Sài Gòn, và để dò biết ý của Pháp như thế nào. Nhưng ông được lệnh không được nói gì trong chiều hướng thúc giục Pháp công nhận chính phủ mới.

Trong cuộc gặp gỡ, Tướng De Gaulle có thái độ rất dè dặt đối với các tướng lãnh đảo chánh. Ông cho Đại Sứ Mỹ cảm tưởng là những biến cố vừa xảy ra không làm thay đổi hố sâu ngăn cách giữa Mỹ và Pháp về chính sách đối với Việt Nam Cộng Hòa. Ông Bohlen gửi điện văn cho Bộ Ngoại Giao Mỹ báo cáo rằng Tướng De Gaulle xác nhận « chưa khi nào ủng hộ chế độ của ông Diệm vì ông này không có thái độ đứng đắn đối với quyền lợi của Pháp tại Việt Nam » và « tuy ông tiếc việc ám sát ông Diệm và em ông, nước Pháp không tiếc gì chế độ này cả. » Trong khi đó thì « nước Mỹ đã ủng hộ ông Diệm đến phút chót, cho đến khi ông ấy không còn tin tưởng vào người Mỹ nữa. » Ông De Gaulle tiên đoán là chế độ mới do các quân nhân cầm quyền sẽ leo thang chiến tranh và như vậy sẽ không được lòng dân cũng như chế độ trước. Ông không thấy hy vọng nào cho tương lai bán đảo Đông Dương.

Trong khi đó, hãng thông tấn UPI phổ biến một bản tin từ Washington nói rằng có vài cơ quan Mỹ – nói trắng ra là CIA – tìm cách rỉ tai báo chí rằng một trong những động cơ thúc đẩy cuộc đảo chánh là việc khám phá ra những « bằng chứng » cho thấy ông Nhu liên lạc với lãnh đạo tại Hà Nội để tìm cách thống nhất đất nước dưới ngọn cờ trung lập. Một đại diện của CIA đã dám nói trước mặt Đại Sự Pháp ở Washington rằng ông nghi ngờ có bàn tay của Pháp nhúng vào việc ông Nhu làm.

Ngày 7 tháng 11, nước Anh công nhận tân chính phủ Việt Nam, trước Hoa Kỳ.

Ngày 8, Hoa Kỳ công nhận chính phủ mới (22 giờ 30 ngày 7 tại Washington, 10 giờ 30 sáng ngày 8 tại Sài Gòn).

Ngày 14 tháng 11-1963, một bài báo trên tờ Le Monde của Jean Lacouture tiết lộ: «Chính quyền mới ở Việt Nam ngạc nhiên về sự chậm trễ của chính phủ Pháp công nhận họ».

(i) Thành Cộng Hòa trước kia gọi nôm na là thành “Ông Dem” của Pháp (phiên âm từ “Onzième = thứ 11” vì là nơi đồn trú của trung đoàn 11 bộ binh thuộc địa (11è RIC = Régiment d’Infanterie Coloniale). Các đường Hồng Thập Tự, Thống Nhất và Cường Để ngày nay là Nguyễn Thị Minh Khai, Lê Duẩn và Tôn Đức Thắng.

(ii) Sau này có tượng của Trần Hưng Đạo thay thế và tồn tại tới bây giờ.

(9) Ba người con của ông bà Ngô Đình Nhu còn lại ở Việt Nam là Ngô Đình Trác, Ngô Đình Quỳnh và Ngô Đình Lệ Quyên (đều là em của Ngô Đình Lệ Thủy, lúc đó theo mẹ đang công tác « giải độc » ở ngoại quốc) được chính quyền Mỹ tổ chức gấp rút đưa ra khỏi Việt Nam. Con trai lớn là Ngô Đình Trác lúc đó đang nội trú ở trường Adran Đà Lạt được lực lượng an ninh đến tận trường đưa đi (trước đó 2 năm, tác giả cùng sống nội trú với Ngô Đình Trác trong trường này, lúc đó Trác học lớp 3è tức lớp 9, còn tác giả học lớp Terminale tức lớp 12). Khi đoàn tụ được với các con, bà Nhu sống ẩn đật tại Paris, và cuối đời qua Roma sống. Bà mất năm 2011 tại Roma, thọ 87 tuổi.

(10) Ngày thứ năm 30 tháng 1-1964, Đại Sứ Cabot Lodge gửi điện văn cho Washington lúc 3 giờ 15 sáng báo cáo là Tướng Nguyễn Khánh cho hay (qua Đại Tá Wilson) sẽ có cuộc đảo chánh lúc 4 giờ sáng.

Cuộc đảo chánh xảy ra đúng như dự trù, không đổ máu, gọi là « chỉnh lý ». Đài phát thanh loan đi bản tuyên cáo của Tướng Nguyễn Khánh, tân chủ tịch Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng. Ông tố cáo « một số phần tử vì quyền lợi riêng tư, câu kết với thực dân để trung lập hóa đất nước, dọn đường cho cộng sản nô lệ hóa chúng ta. » Năm tướng lãnh bị bắt là Trần Văn Đôn, Lê Văn Kim, Tôn Thất Đính, Mai Hữu Xuân và Nguyễn Văn Vỹ (ông Vỹ mới bên Pháp về nên bị nghi là thân Pháp, chủ trương trung lập). Sau ba tuần bị giam giữ tại Đà Nẵng, năm ông bị đưa về quản thúc ở Đà Lạt nên báo chị gọi 5 người này là « Tướng Đà Lạt ». Phải chờ đến tháng 10 các ông tướng Đà Lạt mới được trở về làm việc lại.

Tài liệu của Mỹ đưa ra ba lý do khiến cho cuộc chỉnh lý xảy ra:

1. Hai người lãnh đạo là Tướng Dương Văn Minh và ông Nguyễn Ngọc Thơ làm việc chậm quá.

2. Hai ông tướng Khánh và Khiêm nhiều tham vọng cá nhân mà không có chức vụ quan trọng sau khi đảo chánh nên đã làm cuộc chỉnh lý.

3. Có mối lo về giải pháp trung lập và thân Pháp, đặc biệt là Đại Tá Trần Đình Lan mới ở Pháp về và bị nghi là làm việc cho Pháp.

Tướng Khánh họp báo ngày hôm sau 31, ông tuyên bố « quân đội sẽ không khi nào chấp nhận giải pháp trung lập. Chúng ta sẽ không cho phép De Gaulle can thiệp vào nội tình của Việt Nam ». Tướng De Gaulle tuyên bố cùng ngày rằng nếu có sự thỏa thuận để trung lập hóa thì phải có sự tham gia của Trung Quốc.

Trong tài liệu lưu trữ của Bộ Ngoại Giao Pháp ở Paris, có những chi tiết khác về cuộc chỉnh lý theo tin tức do Thiếu Tá Demaison sống ở Sài Gòn góp nhặt qua những tiếp xúc với các nhân vật Việt Nam. Theo Demaison thì CIA của Mỹ đã lập một hồ sơ về « âm mưu trung lập hóa của các phần tử thân Pháp » nhưng chỉ dựa trên những phỏng đoán vì có hai ông từ Pháp về là Tướng Nguyễn Văn Vỹ và Trung Tá Trần Đình Lan bị nghi là theo chủ trương trung lập của Tổng Thống Pháp De Gaulle.

(11) Trong điện văn đề ngày 25 tháng 7-1964, Đại Sứ Mỹ Taylor báo cáo là Tướng Khánh và phe của ông đã cố tình tung ra chiến dịch « Bắc tiến » dù biết rõ là như vậy sẽ gây bối rối cho Hoa Kỳ. Trong một điện văn khác, ông đề nghị Washington gửi thẳng cho Tướng Khánh một điện văn nói rõ Hoa Kỳ viện trợ rất nhiều cho Nam Việt Nam để giúp cho chiến dịch bình định, còn nới rộng chương trình này qua bên kia lằn ranh quân sự là một chuyện khác, chưa bàn tới trong lúc này.

(12) Ngày 2 tháng 8-1964, lúc 15 giờ 40 giờ Sài Gòn, chiến hạm Maddox của Hoa Kỳ đang tuần tiễu trong Vịnh Bắc Bộ cách bờ biển 11 hải lý, báo cáo là bị tấn công bởi 3 tàu của miền Bắc Việt Nam. Tàu Maddox phản công với sự hỗ trợ của máy bay đến từ hàng không mẫu hạm USS Ticonderoga làm đắm một chiếc tàu và làm hư hại hai chiếc kia phải bỏ về bờ.

Tàu Maddox có mặt tại đây trong khuôn khổ của một chiến dịch có tên DeSoto, mục đích là do thám vùng biển quốc tế này. Đồng thời và trong cùng địa hạt, một cuộc tấn công phá hoại hai hòn đảo Hòn Me và Hòn Niêu do lực lượng đặc biệt của miền Nam thực hiện với sự yểm trợ của Mỹ, trong chiến dích bí mật mang tên OPLAN 34A. Hai chiến dịch DeSoto và OPLAN không liên quan gì với nhau. Có lẽ việc tấn công chiếc tàu Maddox là để trả đũa việc tấn công hai hòn đảo nêu trên.

Ngày hôm sau, Tổng Thống Mỹ Johnson tuyên bố đã cử thêm một chiếc tàu thứ hai hỗ trợ cho tàu Maddox, và cả hai sẽ được máy bay chiến đấu hỗ trợ liên tục. Cả hai chiếc được lệnh nếu bị tấn công trong hải phận quốc tế, phải trả đũa không những để đẩy lui mà còn để tiêu diệt địch quân.

Ngày hôm sau 4 tháng 8, lúc trời xẩm tối và thời tiết rất xấu, tàu Maddox báo cáo lại bị tấn công cách bờ 60 hải lý. Nhưng Hà Nội phủ nhận trận tấn công thứ hai này (và sau này điều tra kỹ lại thì kết luận là có lẽ do thời tiết xấu nên có sự nhầm lẫn). Hoa Kỳ quyết định trả đũa.

Ngày 5 tháng 8-1964, máy bay đến từ hàng không mẫu hạm Ticonderoga dội bom các kho trữ nguyên liệu tại thành phố Vinh và một số cơ sở hải quân khác. Đây là trận tấn công đầu tiên của Mỹ vào miền Bắc Việt Nam.

(13) Ngày 28 tháng 8-1964, Hội Đồng Nhân Dân Cứu Quốc do bác sĩ Lê Khắc Quyến, Khoa Trưởng Y Khoa Huế làm chủ tịch ra mắt bằng bản tuyên cáo số 1.

Ngày 2 tháng 9, báo Tranh Đấu cơ quan ngôn luận của tổ chức đăng bản tuyên cáo số 4 đưa ra lập trường chống cộng sản, chống trung lập, chống Pháp, chống sự thao túng của Hoa Kỳ vào các vấn đề nội bộ của Việt Nam, chống những âm mưu của đế quốc dùng Việt Nam như con bài quốc tế, đòi loại bỏ các phần tử tàn dư của « Cần Lao ác ôn » ra khỏi chính quyền (đảng Cần Lao Nhân Vị do ông Ngô Đình Nhu lập ra trước đây).

Trong điện văn ngày 12 tháng 9-1964, Đại Sứ Pháp ở Việt Nam cho biết Hội Đồng Nhân Dân Cứu Quốc không xem mình như một chính phủ, nhưng cũng chỉ xem chính phủ mới ở Sài Gòn như một cơ quan không có nền tảng pháp lý, chỉ có nhiệm vụ giải quyết những việc thường ngày. Họ cũng chống lại một « chính phủ gọi là lâm thời », mà muốn có ngay một chính quyền được dân đề cử, nghĩa là thông qua những «hội đồng nhân dân» trên toàn quốc.Họ cũng chủ trương thành lập những « lực lượng tranh đấu » trong mọi tầng lớp của xã hội.

(14) Ngày 25 tháng 8-1964 xảy ra nhiều cuộc bạo loạn giữa dân Công Giáo và Phật Giáo ở làng Thanh Bồ gần Đà Nẵng, phải dùng đến lính Nhảy Dù để dẹp loạn.

Hậu quả là hai ngày sau tại Sài gòn, người Công Giáo đến từ Hố Nai và các nơi khác quanh Sài Gòn vào trung tâm thành phố biểu tình. Trầm trọng nhất là trước cổng Tổng Tham Mưu, nơi họp của Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng, khoảng 3000 người tụ tập định leo rào vào trong, lính gác nổ súng làm 6 người bị thiệt mạng.

(15) Trong cuốn hồi ký của McNamara, Bộ Trưởng Quốc Phòng Mỹ từ 1961 đến 1968, có tấm hình Tướng Nguyễn Khánh trước đám đông đứng giữa một tướng Mỹ và ông McNamara, hai người này cầm tay ông Khánh đưa lên cao chứng tỏ sự ủng hộ của họ với ông Khánh. Tấm hình chụp hồi tháng 3-1964 trong một chuyến viếng thăm của ông McNamara. Ông này ghi  chú dưới tấm ảnh là « sau này tôi bị ngượng mãi (everlasting embarrassment) vì tấm ảnh này. » Cuốn hồi ký nhan đề « In retrospect, the tragedy and lessons of Vietnam” (Nhìn lại dĩ vãng, bi kịch và những bài học từ Việt Nam), nhà xuất bản Times Book (thuộc tập đoàn Random House), New York 1995.