CORONA: Tại sao số ca nhiễm Việt Nam thấp? (Tôn Thất Thông/GS Nguyễn Huyên)

Lượt xem: 959

‘…ngành y tế Việt Nam trong những điều kiện của mình, và đã may mắn vượt qua COVID-19 nhờ vào một “dân số trẻ trung” và “sự cứu rỗi tình cờ của thói quen thường ngày” qua “giãn cách xã hội tự nhiên” trong hành vi cư xử có sẵn trong truyền thống phong tục văn hóa xã hội của chính mình…

Phỏng vấn GS TS Nguyễn Sĩ Huyên
Thực hiện: Tôn Thất Thông

Trong lúc các nước phương Tây có hệ thống y tế vững mạnh, số ca lây nhiễm vẫn ở mức trên 100.000. Ở vài nước châu Á phát triển, số ca lây nhiễm cũng nhiều hơn 5.000. Trong lúc đó, Việt Nam với tiềm lực y tế rất hạn chế lại chỉ có trên 260 ca nhiễm và chưa có trường hợp tử vong. Tại sao? Có phải biện pháp cô lập vùng dịch địa phương trong ba tháng qua đã đóng vai trò quan trọng? Hay chúng ta có thể có cách cắt nghĩa khoa học hơn, dựa trên khía cạnh y học và xã hội?

***

Để thêm thông tin hòng trả lời câu hỏi nêu trên, DĐKP đã có vài buổi phỏng vấn, trao đổi với Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Sĩ Huyên, một chuyên gia ngành y có tầm cỡ trong giới y khoa Đức (nơi làm việc và địa chỉ liên lạc xin xem ở cuối bài). Xin hân hạnh giới thiệu với quí độc giả nội dung các buổi phỏng vấn vô cùng lý thú và bổ ích này, hy vọng qua đó quí độc giả sẽ có một cách nhìn đầy đủ hơn, bổ sung vào diễn đàn trao đổi chung quanh vấn đề mọi người đang quan tâm hiện nay.

nguyensihuyen_sinhvien_phamngocthach
GSTS Nguyễn Sĩ Huyên và SV đại học Phạm Ngọc Thạch đến Đức học y khoa năm cuối tại Braunschweig. BS Huyên ở hàng đầu, bên phải. Nguồn ảnh: Peter Sierigk, Städtisches Klinikum Braunschweig.

DĐKP: Xin kính chào GS Nguyễn Sĩ Huyên. Trước hết, thay mặt độc giả DĐKP xin cám ơn GS đã bỏ nhiều thì giờ thu thập tin tức và cho phép chúng tôi được phỏng vấn trực tiếp để chia sẻ với bạn đọc. Trước tiên, xin GS trình bày một cách khái quát tình hình hiện nay và diễn biến trận dịch Corona ở các nước phát triển như Mỹ và châu Âu.

GS Huyên: Đương nhiên, những trao đổi của chúng ta ngày hôm nay về COVID-19 hoàn toàn là lý thuyết dựa trên những sự kiện đã xảy ra, được ghi nhận và công bố chính thức từ các viện nghiên cứu và tổ chức y tế của nhiều quốc gia trên thế giới, ở Đức chủ yếu là những thông tin của Viện Robert Koch, Trung tâm kiểm tra và phòng ngừa bệnh tật của CHLB Đức, Bộ Y Tế CHLB Đức, các Viện Vi Trùng Học của các Đại Học Y Khoa CHLB Đức, Bộ Y Tế Việt Nam, Sở Y Tế Thành phố Hồ Chí Minh, Khánh Hòa và Huế-Thừa Thiên cũng như một số thông tin đại chúng tin cậy về số liệu dân số và thành phần dân số của các quốc gia được khảo sát.

Trở lại câu hỏi của DĐKP, thì những ai thường xuyên theo dõi phát triển của COVID-19 ở các nước Đức, Ý, Tây Ban Nha, Anh và Mỹ sẽ không khó để nhận ra rằng, dịch COVID-19 đã lây nhiễm rất nhanh ở những nước này. Con số tử vong cao hiện nay bởi dịch COVID-19 ở châu Âu và Mỹ được cập nhập hàng ngày qua Website của John Hopkins University. Tuy nhiên, nó không phản ảnh khả năng chuyên môn của những nước này, mà phản ảnh tình trạng bất lực khi bị quá tải về y tế, cho dù họ có nền khoa học cao. Tình trạng đó một phần là cũng do tự họ gây nên, đã chủ quan trong giai đoạn đầu. Trong trường hợp không quá tải, con số tử vong ở Đức tôi nghĩ là gần với thực tế. Dầu vậy, con số tử vong ở Đức và những nơi khác chỉ nói lên sự việc là những bệnh nhân này đã bị nhiễm Sars CoV-2, còn thật sự có chết vì vi-rút Corona hay không thì chưa rõ, bởi những bệnh nhân này thường có sẵn nhiều bệnh nền mãn tính về tim, phổi hay nguy cơ tim mạch đi kèm. Cho đến nay, chưa có nghiên cứu nào làm rõ chuyện này. Qua những biện pháp nghiêm ngặt được áp dụng gần đây, đặc biệt là hạn chế tiếp xúc xã hội trong đời sống cộng đồng, giữ khoảng cách tiếp xúc 1,5-2 mét, vệ sinh rửa tay thường xuyên đã góp phần rõ rệt vào việc làm giảm mức độ lây nhiễm của COVID-19 trong cộng đồng.

DĐKP: Xin Ông cho biết sơ lược diễn tiến Covid-19 trong tương lai. Bao giờ thì chúng ta có thể xem là trận dịch đã chấm dứt?

GS Huyên: Diễn tiến bệnh ở mỗi nước sẽ có sự khác biệt với những đỉnh cao của dịch tùy thuộc vào những biện pháp đã được áp dụng ở mỗi nước sớm hay muộn trong tiến trình ngăn cản lây nhiễm bệnh với những hệ lụy khác nhau về y tế và kinh tế chưa lường hết được. Riêng về mức độ lây nhiễm của COVID-19 nói chung, thì bao lâu chưa có thuốc chủng ngừa bệnh và miễn nhiễm cộng đồng chưa đạt đến 60-70% dân số, thì theo đánh giá của những nhà vi trùng học ở đây, bấy lâu vẫn còn tình trạng tiếp tục lây nhiễm lâu dài.

DĐKP: Mọi chuyên gia dịch tễ đều cho rằng, nạn dịch Covid-19 này còn tiếp tục kéo dài và trở lại theo từng chu kỳ cho đến lúc chúng ta kiếm được vắc-xin thực sự hiệu quả để có thể sử dụng đại trà. Theo Ông, bao giờ thì chúng ta có thể có được tin mừng đó?

GS Huyên: Hiện nay việc nghiên cứu vắc-xin chủng ngừa đang được tích cực tiến hành với một tốc độ nhanh chưa từng có, nhưng chúng ta phải biết rằng, sau khi nghiên cứu thành công, vắc-xin cũng phải được sản xuất công nghiệp, các nhà máy sản xuất cũng phải được trang bị đặc biệt và tất cả những chuyện này cũng cần thời gian. Theo dự đoán của GS Drosten, Viện trưởng Viện Vi Trùng Học của Bệnh viện Đại học Charité Berlin thì chúng ta có thể tính tới thời điểm có được thuốc chủng ngừa đầy đủ cho cộng đồng là khoảng mùa hè năm 2021.

DĐKP: Dù có vắc-xin hay chưa, chúng ta cũng phải tìm cách chữa trị các bệnh nhân đang dương tính. Mặc dù chưa có thuốc đặc trị cho Covid-19, nhưng một số thuốc có sẵn cũng có thể góp phần làm thuyên giảm tiến trình bệnh. Theo Ông, những loại thuốc nào đáng chú ý nhất?

GS Huyên: Trên thực tế đã có nhiều thuốc thử nghiệm điều trị COVID-19, thí dụ như Remdesivir, Chloroquine, Hydrochloroquine cho thấy trong ống nghiệm (vitro) hiệu ứng ức chế tăng sinh của Sars CoV-2 có hiệu quả, nhưng trên lâm sàng thì chưa chứng minh được hiệu quả của nó. Do dó, bao lâu chưa có chứng cớ y học thì tất cả mọi cuộc điều trị với những loại thuốc này đều là Off Label Use hay chỉ dùng trong nghiên cứu. Cho đến nay, chưa có khuyến cáo chính thức của giới Bác sĩ Đức cho sử dụng những loại thuốc này.

Gần đây có những nghiên cứu sử dụng vắc-xin lao BCG chống lại Covid-19 dựa trên những phát hiện nghiên cứu trước đây, rằng BCG làm giảm nồng độ vi-rút ở những bệnh nhân bị nhiễm vi-rút tương tự như SARS-CoV-2. Kết quả còn cần phải chờ đợi.

DĐKP: Ai là nhóm người có nguy cơ lây nhiễm, và diễn biến tiêu biểu của Covid-19 có thể kết luận được chưa?

GS Huyên: Trong 80% trường hợp bệnh được đánh giá là nhẹ, không cần điều trị chuyên biệt, trong 80% này bao nhiêu phần trăm có triệu chứng, bao nhiêu không có triệu chứng (tạm gọi là con số đen) thì không rõ. Theo GS Kim Woo-Ju, chuyên gia Hàn Quốc về các bệnh lây nhiễm thì con số đen chiếm khoảng 20% ở Hàn Quốc. Theo các chuyên gia Đức thì con số đen có thể nhiều hơn 40%. Ngoài 80% thuộc các trường hợp nhẹ đó, còn lại 15% là bệnh nhân cần theo dõi trên lâm sàng và 5% bệnh nặng cần chăm sóc đặc biệt. Cho đến nay, con số tử vong dao động giữa 3,2% và 12,9% không chính xác vì con số bệnh nhân bị nhiễm bệnh thực sự không xác định được. Những bệnh nhân ở tình trạng bệnh nặng, không cứu được, sẽ rơi vào tử vong trung bình khoảng 3 tuần sau khi phát hiện có triệu chứng.

Theo nhà dịch tể học GS Stefan Willich, ĐH Charité Berlin thì thống kê về con số tử vong bởi COVID-19 cho thấy khoảng 2/3 là người lớn tuổi trên 80, 30% ở lứa tuối 60-80 và chỉ có 5% là dưới 60 tuổi (thống kê ngày 1.4.2020 ở Đức). Như vậy, nhóm người trên 60 tuổi và đặc biệt là trên 80 tuổi cần được quan tâm tránh bị lây nhiễm COVID-19. Đương nhiên nhóm người có bệnh nền, nguy cơ tim mạch hay giảm sức đề kháng cũng thuộc về nhóm nguy cơ phải tính đến.

DĐKP: Ông đánh giá thế nào về mức độ trầm trọng của COVID-19?

GS Huyên: Nói đến mức độ trầm trọng của bệnh có nghĩa là phải quan tâm đến hai khía cạnh: tỷ lệ tử vong và di chứng của bệnh. Con số tử vong bởi dịch COVID-19 hiện nay quả thật là một điều đáng lo ngại, và tiếp tục đáng lo ngại, mặc dầu tình trạng tử vong cao trong lúc này chủ yếu xảy ra là do tình huống quá tải về y tế. Con số tử vong thật sự nếu không bị quá tải về y tế thì sao, không ai biết được trong lúc này vì cuộc chiến chống dịch chưa ngã ngũ. Nhưng ở Việt Nam thì bài toán lại hoàn toàn khác, khi ta có được một cái nhìn dưới một góc cạnh khác. Còn về di chứng bệnh, ở đây nghi ngờ có dấu hiệu xơ phổi sau khi bị viêm phổi với Sars CoV-2, nhưng thời gian theo dõi chưa đủ dài để khẳng định chuyện này.

DĐKP: Trong lúc các nước có nền y tế cao như Mỹ, châu Âu và cả châu Á đều ghi nhận số ca lây nhiễm rất cao. Trong lúc đó, Việt Nam với phương tiện y tế hạn chế, lại chỉ có trên 260 người nhiễm (hôm nay, 15.4). Ông cắt nghĩa điều này thế nào?

GS Huyên: Đối với tôi, việt Nam vẫn còn nhiều bí ẩn chưa lý giải hết đươc, nằm cạnh Trung Quốc, cửa biên giới không đóng, trong thời gian khởi đầu xuất phát bệnh ở Vũ Hán vẫn còn nhiều chuyến bay từ Vũ Hán, Nam Hàn và Nhật đến Việt Nam. Mặc dù Việt Nam đã có biện pháp kiểm tra nghiêm ngặt, nhưng làm sao có thể ngăn chận hết được? Đặc biệt là những con số đen thì chắc hẳn không ai xác định được.

Những gì xảy ra ở châu Âu cho thấy lây nhiễm COVID-19 lan rộng rất nhanh, ở Việt Nam trên lý thuyết không có lý do gì không lây nhiễm nhanh như thế, khi những điều kiện lây nhiễm nhìn về góc cạnh địa lý, thương mại, du lịch trong quan hệ xã hội Việt-Trung, thì khả năng lây nhiễm ở VN còn có chiều dễ dàng hơn. Như vậy, thì phải nghĩ đến giả thuyết là COVID-19 đã đến Việt Nam rất sớm, lây nhiễm qua giới trẻ nhưng không gây triệu chứng gì. So sánh với mức độ lây nhiễm ở Ý thì có thể cho phép phỏng đoán được rằng, từ tháng 11.2019 đến nay phải có hàng chục triệu người Việt Nam, phần lớn là giới trẻ đã có khả năng bị lây nhiễm và hồi phục, mang đến một tình trạng miễn nhiễm nhất định trong cộng đồng, và trong một chừng mực nào đó nó đã trở thành rào cản tự nhiên ngăn chặn sự lây nhiễm lan rộng của COVID-19.

DĐKP: Xin phép được ngắt lời. Chuyên gia dịch tể phỏng đoán lây nhiễm chỉ giảm khi 60-70% dân số đã miễn nhiễm. Với Việt Nam, điều đó có nghĩa là 50-60 triệu người. Điều này có thể đạt được trong vòng 5 tháng qua hay không?

GS Huyên: Trên lý thuyết, mức độ lây nhiễm nhanh của COVID-19 đang diễn ra tại châu Âu và Mỹ cho thấy là khả năng này không loại bỏ, đặc biệt là ở Việt Nam với một mật độ dân số cao và lối sống thích tụ tập của giới trẻ. Nhưng trên thực tế, ở Việt Nam chỉ cần đạt 30-40% dân số miễn nhiễm, và đây có lẽ là con số gần với thực tế, là ta đã làm giảm đi được khả năng lây nhiễm đáng kể cho người lớn tuổi, một thành phần hiện nay vẫn còn tương đối ít trong xã hội Việt Nam. Phần lớn người lớn tuổi sống với gia đình, ít tụ tập bên ngoài.

DĐKP: Không những ít ca lây nhiễm, mà số tử vong ở Việt Nam cũng bằng 0, là chuyện hiếm có trên thế giới. Ông cắt nghĩa thế nào?

GS Huyên: Câu trả lời lệ thuộc vào sự việc là ta nhìn dưới góc cạnh nào. Tôi muốn so sánh với Đức vì nước Đức có tổng diện tích đất và dân số không khác biệt với Việt Nam nhiều: Ở Đức cho đến ngày hôm nay, theo thông báo của Robert Koch Institut, Viện kiểm soát, theo dõi và phòng chống bệnh tật của Đức trong thời điểm này có 120.479 người nhiễm bệnh  và 2.673 người chết. Theo RKI, test xét nghiệm COVID-19 được Đức thực hiện cho đến giữa tháng tư là  khoảng hơn 2 triệu người. Ở Việt Nam, tổng kết toàn bộ test xét nghiệm được làm cho đến nay là khoảng 120.000 người. Điều đó có nghĩa là Việt Nam làm quá ít test, cho nên khó xác định là, những người chết nhưng chưa hề được xét nghiệm Covid-19, họ chết do có bệnh nền hay yếu vì cao tuổi hay là gì khác. Nói cách khác, số người đã chết trong thời gian qua là chết tự nhiên hay có liên quan đến COVID-19 hay không, thì không ai biết. Ở Đức thì ngược lại, test dương tính ở nhiều người, nhưng câu hỏi là họ chết vì bệnh nền và nguy cơ tim mạch hay chết vì COVID-19, cũng không có thống kê.

Mặt khác, hai yếu tố quan trọng có thể mang đến sự khác biệt quyết định giữa con số tử vong của Đức hay châu Âu và Việt Nam là sự khác biệt của thành phần người lớn tuổi (trên 60) giữa hai nước và một điểm cũng rất đáng được lưu ý đó là sự khác biệt của thói quen thường ngày trong hành vi cư xử qua phong tục văn hóa xã hội giữa châu Âu và Việt Nam.

DĐKP: Ông là người am hiểu tình hình y tế và xã hội của hai nước Đức và Việt Nam. Ông có nhắc đến 2 yếu tố khác nhau giữa hai nước, trong đó có yếu tố phong tục văn hóa xã hội. Xin Ông cắt nghĩa rõ hơn cho độc giả?

GS Huyên: Nếu ta đã biết thành phần người lớn tuổi (trên 60) có nguy cơ nhiễm COVID-19 và có tỉ lệ tử vong cao như đã nói trên, và tiếp xúc xã hội là nguy cơ lây nhiễm, thì phải nói tình hình hiện nay ở Việt Nam có nhiều “thuận lợi tự nhiên” trong phòng chống COVID-19.

Yếu tố thứ nhất là thành phần người cao tuổi trên 60 ở Việt Nam chỉ chiếm khoảng 10%, và nếu chỉ xét người trên 65 tuổi, thì tỉ lệ đó là 5,5% (thống kê của báo trực tuyến danso.org). Tỉ lệ đó rất thấp so với Đức là 23.37%. Tuổi trung bình của người Việt Nam là 30,9 tuổi, ở Đức 44,4 tuổi, tuổi thọ trung bình ở người Việt Nam 73.6 tuổi, ở Đức 80.9 tuổi.

Yếu tố thứ hai có lẽ có tính quyết định nhiều hơn cho việc giới hạn lây nhiễm trong xã hội Việt Nam và đặc biệt là cho người cao tuổi, đó là thói quen thường ngày trong hành vi cư xử qua phong tục văn hóa xã hội. Giữa châu Âu và Việt Nam có sự khác biệt rõ rệt. Ở châu Âu, chào hỏi nhau thường qua bắt tay, bạn bè thân hay người trong gia đình thì ôm nhau hôn trên má, già và trẻ nói chuyện với nhau rất gần gủi, ít ngăn cách, vì thế sự lây nhiểm từ người trẻ sang người già cũng dễ dàng. Ở Việt Nam, giáo dục gia đình phần đông chịu ảnh hưởng Khổng giáo, đặt trọng sự kính trọng người cao tuổi đặc biệt là bố mẹ, ông bà, cô chú trong gia đình tự nó đã tạo nên một ngăn cách xã hội nhất định tồn tại sẵn trong sinh hoạt gia đình và xã hội. Thêm vào đó, ngôn ngữ của người Việt Nam qua việc bắt buộc thường xuyên định vị cái tôi của mình, ví dụ là em, là con hay là cháu trong giao tiếp với người cao tuổi cũng tạo thêm một ngăn cách xã hội nhất định. Ngôn ngữ châu Âu không có rào cản tương tự như thế (ngay cả tiếng Trung Hoa cũng chỉ có “ngộ nị” để nói về ngôi thứ). Ở Việt Nam, ít khi có những cuộc thảo luận cởi mở giữa già và trẻ trong gia đình. Ngoài ra, người cao tuổi ở Việt Nam thường đã nghĩ hưu sau 60 tuổi, phần lớn họ lui về đời sống gia đình, ít tham gia sinh hoạt cộng đồng. Đó là những yếu tố làm cho nguy cơ lây nhiểm đến người già cũng giảm đáng kể.

DĐKP: Theo ý Ông, Việt Nam nên làm gì lúc này với tình hình Covid-19 ngày càng phức tạp?

GS Huyên: Việt Nam trong thời điển này đang ở trong tình trạng “cách ly xã hội hoàn toàn” từ ngày 1.4.20 – 15.4.20 theo nghị định của Thủ tướng chính phủ Nguyễn Xuân Phúc. Chắc chắn là việc làm này cùng với những biện pháp tầm soát, kiểm tra, theo dõi và cách ly có mục tiêu đã được thực hiện trước đây là những biện pháp cho thấy có hiệu quả trong việc ngăn chận sự lan rộng của COVID-19 không chỉ ở Việt Nam mà cũng ở nhiều nước khác. Cái khó trong lúc này cho nhiều quốc gia là làm sao ra khỏi tình trạng cách ly này, trở lại sinh hoạt bình thường để kinh tế phục hồi sớm mà vẫn tránh được tình trạng dịch không bộc phát nghiêm trọng trở lại.

Cho đến nay ở Việt Nam, chúng ta không biết rõ bao nhiêu người thật sự đã bị lây nhiễm (kể cả con số đen) và đã lành bệnh, đã có kháng thể. Thật dễ hiểu là, mọi bài tính dựa trên dự đoán về con số lây nhiễm thực sự sẽ không thể chính xác. Do đó, để làm rõ chuyện này, thì việc tiến hành lấy mẫu theo phương pháp thống kê ngẫu nhiên để làm test kháng thể, để cập nhập tình trạng miễn nhiễm Sars CoV-2, là một việc hết sức cần thiết, nó sẽ phản ảnh tốt hơn về tình trạng lây nhiễm. Test chẩn đoán phát hiện COVID-19 (thí dụ PCR) vẫn giữ một vai trò quan trọng trong việc xác định có bệnh để có biện pháp cách ly hiệu quả. Nhưng test kháng thể sẽ cung cấp cơ sở khoa học trong việc hoạch định biện pháp cho tương lai, nhất là vền mặt kinh tế và xã hội.

DĐKP: Thời gian này, người ta, nhất là Đức dường như muốn xét nghiệm kháng thể một cách đại trà. Xin Ông giải thích thêm về loại xét nghiệm này. Nó có ích lợi gì trước mắt cho việc chống dịch hay không?

GS Huyên: Trong điều kiện bình thường, trung bình 7-10 ngày sau khi bị nhiễm vi-rút Sars CoV-2, nếu không có biến chứng phức tạp, thì cơ thể được xem là miễn dịch vì đến thời điểm đó, cơ thể đã sản sinh đầy đủ kháng thể chống lại vi-rút. Người có test kháng thể dương tính có nghĩa là đã bị bệnh, đã lành bệnh và đã được miễn dịch. Để có một kế hoạch tối ưu, cân bằng giữa y tế và kinh tế xã hội: cho phép nền sản xuất hoạt động trở lại, đồng thời vẫn kiểm soát được sự lây lan, người hoạch định chính sách có thể dùng test kháng thể để biết rõ hai tình huống:

1.  nếu tình trạng miễn nhiễm thấp: thì đó là sự cảnh báo cho việc lây nhiễm sẽ tái phát nếu những biện pháp hạn chế tiếp xúc xã hội không còn nghiêm ngặt nữa. Đây cũng là thời điểm mà chính phủ và chuyên gia về y tế cần phải có biện pháp cân nhắc lợi hại quân bình, bảo vệ sức khỏe người dân mà không để kinh tế rơi vào tình trạng suy sụp.

2.  nếu tình trạng miễn nhiễm cao: thì đây là một điều lý giải hợp lý cho những dự đoán mà chúng ta đã trao đổi trên: người Việt Nam nhiễm COVID-19 rất sớm, lan rộng ở giới trẻ rất nhanh và trung bình 7-10 ngày sau khi bị nhiễm bệnh thì miễn dịch. Sự miễn dịch tự nhiên ở nhiều người trẻ và ở người dân nói chung đã trở thành rào cản tự nhiên ngăn chận việc lây nhiễm lan rộng. Trong điều kiện này, thì ta có thể an tâm cho sự tái lập lại sinh hoạt xã hội bình thường. Nhưng như vậy, không có nghĩa là dứt lây nhiễm mà chỉ cho thấy là mức lây nhiễm giảm dần xuống và nằm trong vòng kiểm soát đươc. Do đó, những biện pháp hạn chế tiếp xúc xã hội vẫn cần phải được áp dụng nghiêm túc tiếp tục như:

  • - Giữ khoảng cách tiếp xúc 1.5-2m (đặc biệt đối với người lớn tuổi).
     
  • - Không nhất thiết phải đeo khẩu trang khi ra đường, chỉ đeo khi nào bản thân có những yếu tố nguy cơ cao (các bệnh tim phổi mãn tính, nói chung các bệnh có liên quan đến giảm sức đề kháng, hay đang nhiễm Virus…).
     
  • - Giữ gìn vệ sinh rửa tay thường xuyên.

Theo dự đoán của nhà Vi trùng học Drosten thì test kháng thể sẽ có để khám mghiệm rộng rãi ở Đức trong vòng 6-8 tuần lễ đến. Một vấn đề có thể phải nghĩ đến là test có khả năng cho dương tính chéo với những bệnh Coronavirus đã xảy ra trước đó. Nhưng điều đó chỉ là vấn đề về tổ chức.

Nhân dịp này, tôi cũng muốn nói thêm trong lúc chờ đợi có vắt-xin chủng ngừa, ta nên nghiên cứu để có biện pháp chủng ngừa thụ động Sars CoV-2 trong những trường hợp cần thiết bằng cách tiêm chủng qua việc lấy kháng thể chống Sars CoV-2 từ người đã lành bệnh. Ở đây, chúng ta thấy thêm sự lợi ích của test kháng thể để xác định người nào đã nhiễm bệnh, đã lành và đã có kháng thể.

DĐKP: Trước khi chấm dứt, xin Ông phát biểu một kết luận ngắn chung quanh chủ đề này, và thông điệp nào mà Ông muốn gởi đến mọi người ở Việt Nam.

GS Huyên: Trước hết, tôi xin cám ơn DĐKP đã cho tôi có cơ hội trao đổi với DĐKP và bạn đọc về COVID-19. Theo tôi, COVID-19 ở Việt Nam là một bức tranh rất mới về COVID-19, mang một màu sắc lạc quan khác hơn ở châu Âu. Bức tranh COVID-19-Việt Nam là kết quả của những nổ lực của ngành y tế Việt Nam trong những điều kiện của mình, và đã may mắn vượt qua COVID-19 nhờ vào một “dân số trẻ trung” và “sự cứu rỗi tình cờ của thói quen thường ngày” qua “giãn cách xã hội tự nhiên” trong hành vi cư xử có sẵn trong truyền thống phong tục văn hóa xã hội của chính mình.

Một điểm cuối cùng mà tôi muốn nói đến, đó là trong tình trạng “cách ly xã hội hoàn toàn” hiện nay, người trẻ phải ở nhà thay vì sinh hoạt ngoài xã hội. Trong điều kiện và phong tục Việt Nam với đời sống đại gia đình, 3 thế hệ trong cùng một nhà, thì nguy cơ lây nhiễm trong gia đình, đặc biệt là cho người lớn tuổi là rất lớn. Trong thời gian qua, số người trẻ bị lây nhiễm không có triệu chứng ở một nước đông dân như Việt Nam chắc chắn là không ít. Trong tình trạng thường xuyên ở nhà hiện nay, họ sẽ là những nguồn lây nhiễm cho người trong gia đình mà nếu không may thì lây cho ông bà, cha mẹ họ, hay nói chung là người lớn tuổi trong gia đình. Do dó, việc giữ gìn vệ sinh, chủ yếu là rửa tay thường xuyên và giữ khoảng cách tiếp xúc (1.5-2 m) đặc biệt là với người lớn tuổi ngay trong đời sống sinh hoạt gia đình thường ngày là một chuyện hết sức cần thiết, cần được ý thức, nhắc nhở và lưu tâm thường xuyên trong gia đình.

DĐKP: Thay mặt độc giả, xin chân thành cám ơn Ông.

Tôn Thất Thông phỏng vấn GS Nguyễn Sĩ Huyên

Nguồn: diendankhaiphong.org/corona-tai-sao-so-ca-nhiem-o-viet-nam-thap/

GS TS Nguyễn Sĩ Huyên:

Phó Chủ nhiệm Khoa Nội Tim Mạch, Hồi sức cấp cứu, Chủ nhiệm khoa Y học giấc ngủ tại Bệnh viện HELIOS St. Marienberg, Thành phố Helmstedt, Germany. Phó Khoa Khoa Y Việt Đức, Đại Học Y Khoa Phạm Ngọc Thạch HCMC, Dương Quang Trung 2, P12, Q.10, Ho Chi Minh City, Vietnam Website: www.pnt.edu.vn Giáo sư danh dự của Đại Học Y Khoa Huế Huy chương danh dự của Hội đồng Bác sĩ Tiểu Bang Niedersachsen Huy chương danh dự của Thành phố Hồ Chí Minh Chủ tịch Hội Tim Mạch Đức-Việt
German-Office: Langer Kamp 6, D-38350 Helmstedt, Germany
Tel.:+49 5351 141471, Mobil: +49 17682650366, Email: dvfk@gmx.de, w.dvfk.org

GS TS Nguyễn Sĩ Huyên hiện trong Ban điều hành phụ trách điều phối các hoạt động hợp tác đào tạo giữa đại học y khoa Phạm Ngọc Thạch và đại học y khoa Mainz của Đức nhằm mục đích đào tạo sinh viên nghành y của Khoa Y Việt Đức (KYVĐ), phần đầu ở Việt Nam và năm cuối thực hành được đào tạo trực tiếp tại Đức. Sinh viên KYVĐ được đào tạo theo qui trình đào tạo y khoa của đại học y khoa Mainz và phải vượt qua mọi kỳ thi chuyển giai đoạn của viện khảo thí quốc gia Đức như sinh viên Đức. Đây là một chương trình đào tạo y khoa đầu tiên được Đức công nhận là tương đương.

*****

Bản tiếng Anh

CORONA pandemics: What is really going on in Vietnam?

Interview with Prof. Si Huyen Nguyen, PNTU HCMC
Interviewed by: That Thong Ton, DĐKP Magazine

In the current corona situation, especially in the western countries, the Vietnam phenomenon is submerged. The low number of people with Sars-CoV-2 who are tested positive in Vietnam and no deaths from COVID-19 do taken scientists around the world  aback, they can hardly believe these numbers. In the fight against COVID-19, Vietnam mainly pursues a policy with strict personal control, individual isolation and quarantine measures with selective implementation of the Sars-CoV-2 tests. Bearing in mind the high number of unreported and symptom-free people, these measures can certainly not be the only explanation that the spread of COVID-19 could and can be effectively controlled. Indeed, it has to be emphasized that a high mortality rate did not occur in Vietnam compared to  Europe and USA. In this regard, we have had a conversation with Prof. Nguyen from the Pham Ngoc Thach University HCMC and did find  highly interesting new aspects in the field that we would like to share with you. The interview is reproduced below.

***

About Prof. Dr. Si Huyen Nguyen:

Vice Dean of Vietnamese German Faculty of Medicine (VGFM), Pham Ngoc Thach University Ho Chi Minh City (PNTU HCMC), Dương Quang Trung 2, P12, Q.10, Ho Chi Minh City, Vietnam. Website: www.pnt.edu.vn, http://kyvd.pnt.edu.vn/

HELIOS St. Marienberg Hospital, Department of Cardiology, Intensive Care Medicine and Sleep Medicine, 38350 Helmstedt, Germany
Honorary professor at the University of Hue / Vietnam
President of German Vietnamese Association of Cardiology. Email: dvfk@gmx.de, www.dvfk.org
German office: Langer Kamp 6, 38350 Helmstedt, Tel. 05351-141471

***

DĐKP: Good morning, Professor Nguyen. First of all, we would like to thank you very much for taking time to conduct this interview with us. Would you firstly give us a brief overview of the current situation and the development of the corona pandemics in industrialized countries such as USA and Europe?

NGUYEN: With regular monitoring of the development of COVID-19 in Germany, Italy, Spain, the United Kingdom and the United States, it is certainly not difficult to see that the COVID-19 pandemics has spread very rapidly in these countries. The current high death rate from the COVID-19 pandemics in Europe and the United States is updated daily on the John Hopkins University website. However, it does not reflect the medical expertise of these countries, but rather the difficulty of an overburdened health care system in responding appropriately to such situations, even if they have a very high scientific background. Unfortunately, it must be noted that in most countries the danger of this pandemics was underestimated in the early stages. Germany seems to be different. The development of the COVID-19 in Germany has been so far well controlled. In my opinion, the death rate  in Germany is realistic. Nevertheless, the death rate (in Germany and elsewhere) only shows that these patients were infected by Sars-CoV-2, but whether they actually died from the corona virus or not is not clear. Usually these patients  have a high degree of comorbidity such as high blood pressure, diabetes mellitus, chronic heart or lung diseases or diseases  associated with an immune deficiency. So far there are no investigations about it. In any case, the strict preventive measures which have been implemented recently [in particular the avoidance of social contacts as well as the maintenance of a contact distance of 1.5 to 2 meters and hygienic measures such as regular hand washing] have effectively contributed to slowdown the spread of COVID -19.

DĐKP: How is the Covid-19 developed in the near future? When can we expect the end of the pandemics?

NGUYEN: The progression of COVID-19 in various countries differs from the peak of the epidemics, depending on the measures which were taken sooner or later in the respective country to constrain the spread of COVID-19. The resulting health and economic consequences for the involved countries are currently not predictable. Regarding the development of COVID-19, it can already be pointed out that the progression of COVID-19, as long as a specific vaccine is not yet available, can only be stopped by an immunity of around 60-70% of the population, according to well-known epidemiologists and virologists.

DĐKP: Would you tell us when an effective mass vaccine could be available?

NGUYEN: Vaccine research is currently advancing at unprecedented speed. Nevertheless, the vaccines ultimately have to be manufactured using appropriate technology, and all of this takes time. According to Professor Drosten, director of the Institute of Virology at the Charité University Clinic in Berlin, we could possibly expect an effective vaccine for the broad population by summer 2021.

DĐKP: In fact, we don’t have any vaccines at the moment. However, we still need to find a way for treating infected patients. Are there any medicines that can be used for this purpose?

NGUYEN: In fact, there already has been an experimental use of drugs to treat COVID-19, such as Remdesivir, chloroquine, hydrochloroquine, which effectively inhibit Sars-CoV-2 reproduction in vitro. However, their effectiveness has not yet been clinically demonstrated, based on evidence. As long as there are no evidence-based studies exist in this area, any treatment with these drugs is carried out either off-label use or for scientific reasons. Currently, there are no official recommendations in Germany for the use of these drugs.

Recent studies with BCG tuberculosis vaccines against Covid-19, based on previous research, show that BCG lowers virus levels in patients infected with a virus similar to SARS-CoV-2. But we are still waiting for detailed information.

DĐKP: Who belongs to the group of people at risk and what is the possible course of a COVID-19 infection?

NGUYEN: A mild course of the disease is seen in 80% of cases. No special treatment is required. It must be pointed out that we do not know the proportion of symptomatic to asymptomatic patients in this group (the so-called unreported cases) . According to Professor Kim Woo-Ju, a South Korean infectious disease expert, this figure is about 20% in South Korea, and according to German experts, these unreported cases could be higher. Furthermore, about 15% of the patients are in a condition requiring clinical observation, 5% of the patients nead intensive medical treatment. The number of deaths currently varies between 3.2% and 12.9% (ratio of deaths to infected patients with a positive test). But this is inaccurate, since the number of really infected patients is in fact unknown. Patients who are seriously ill and cannot be rescued with intensive medical care die at mean about 3 weeks after the beginning of symptoms.

According to the epidemiologist Professor Stefan Willich from the University of Charité Berlin, the statistics on deaths from COVID-19 (status in Germany on 1.4.2020) show that about two thirds occurred in older people over 80 years old, 30% in the age group between 60 and 80 years and 5% in the age group under 60 years. Therefore, the age groups of people over 60 and especially over 80 years should be given special protection against COVID-19 infection. Of course, people with chronic diseases including cardiovascular or lung diseases or patients with an immunodeficiency syndrome in general are belonging.

DĐKP: How do you assess the danger of COVID-19?

NGUYEN: When talking about the danger of an illness, two factors have to be considered: the mortality and the consequences of the illness. The current death toll from the COVID-19 pandemics is indeed a matter of concern and remains worrying, although the current high mortality rate in the affected countries mainly occurs in cases where the health system is overburdened. Regarding the consequences of the disease, there are suspicions of a number of different inflammatory organ diseases, including gastrointestinal, neurological, cardiac and nephrogenic, as well as the possible development of pulmonary fibrosis after pneumonia with Sars-CoV-2.At present, however, the time for post case investigations is not long enough to be able for assessments of these cases. What is the real number of fatalities without overloading medical care systems? No one can answer at the moment, since the “fight against the virus” is not yet accomplished. An interesting example is the course of the COVID-19 in Vietnam, which, unlike in the western countries, surprisingly does not seem so dramatic. We should definitely take a closer look at this phenomenon from a different perspective.

DĐKP: While countries with highly developed health care system, such as  USA, most European countries and many countries in Asia, have a very high number of infected people, Vietnam with limited medical care system has for today, on April 25, 2020, only 270 people who are tested positive or infected. How do you explain that?

NGUYEN: For me, some measures were difficult to understand: despite the direct proximity to China, the border was not really closed, during the time of the outbreak in Vu Han, normal regular air traffic from Wuhan, South Korea and Japan to Vietnam did continue. Although Vietnam has carried out strict personal control measures, due to the high number of unreported cases (untested infected people with no symptoms) the situation could not be fully controlled.

In Europe the COVID-19 infection has spread very quickly. Theoretically, there is no reason why the COVID-19 in Vietnam should behave differently. With geographical proximity to China, extensive trade, social contacts and mass tourism from China, Vietnam even exposes ideal conditions for the rapid spread of COVID-19 infection.

Based on this consideration, it can be assumed that COVID-19 came to Vietnam very early, predominantly infected the young population and thus spread unreportedly through these population without significant symptoms compared to the rate of infection in Europe, especially in Italy, and in the United States. It seems to be possible that since December 2019 millions of Vietnamese, mainly young people, have been infected with Sars-CoV-2 and have already healed, which may have led to a certain broad immunity of the population and therefore (to some extent) to  a natural barrier for the spread of COVID-19.

DĐKP: Please allow me to interrupt you. According to epidemiological estimates, the spread of COVID-19 would only decrease if the general immunity in the population had reached the 60-70% mark. That would be approximately 50-60 million persons in Vietnam. Could we have reached this level in the past 5 months?

NGUYEN: Theoretically, the rapid spread of COVID-19 in Europe and the United States shows that we cannot exclude this possibility, especially because of the high population density and high mobility of young people in the public life. In reality, I estimate that an immunity of 30-40% of the population in Vietnam – and this could probably be the number that comes close to reality – would be enough to significantly reduce the infection rate for older people. The percentage of older people in Vietnam is relatively small. Moreover, most elderly people also tend to live in seclusion, mostly in the family, and tend to be less involved in public life.

From the Dutch study of the Netherlands [Reuters, Word New April 16, 2020] it was estimated that possibly 3% of the population in the Netherlands had already produced antibodies against Sars-CoV-2. This means that the number of unreported cases is around 500,000, 17 times higher than the official number of people who are tested positive, which at the time was around 30,000. I think with these numbers, which are probably still underestimated, it can be imagined how fast the COVID-19, with a replication factor of 2-3, (i.e one infected person infect 2-3 more people), could have spread in Vietnam, if the infection chains would have not started at the end of January 2020 – as in Europe – but rather  earlier, i.e around December 2019.

DĐKP: Not only there are few infections, also the number of deaths in Vietnam is zero, which is hard to understand. How do you explain that?

NGUYEN: The answer is quite interesting if you look what it’s happen from different perspectives. I would like to take Germany as an example for comparison. Germany has a land area and population density that are very similar to Vietnam. I would like firstly to provide some important data from Germany and Vietnam to clarify the situation. According to the Robert Koch Institute, the central institue of the federal government in the field of disease monitoring and prevention, 152,438 people were infected in Germany at the time of April 25, 2020 and 5.500 died. The Sars-CoV-2 test has been carried out in Germany until April 19, 2020 on 2.072.669 people [see RKI]. To date in Vietnam, a total of around 213.000 tests (as of April 29. 2020, see Wiki) have been carried out. This limited test performance means that people who die from their underlying diseases or age-related illnesses in Vietnam do not know whether the death is related to COVID-19 or not.

I am simply assuming that some deaths from COVID-19 are suspected. In Germany, on the one hand, the test is positive for many people, but it is also a question of whether they died because of their underlying illnesses or COVID-19.

On the other hand, here in Vietnam, in my opinion, two factors play an important role that could have had a decisive impact on the difference between the death rate in Germany or Europe and in Vietnam, respectively. On the one hand, there is the enormous difference in the proportions of  population above the age of 60 and, on the other hand, the socio-cultural difference between Europe and Vietnam in everyday dealings with each other. The socio-cultural behavior in everyday life can be seen to a certain extent as a European or Western form of less protected behavior and a Vietnamese form as  more “contra corona”.

DĐKP: These are interesting theses! Could you please explain it in more details?

NGUYEN: If we know that people over 60 years of age, as mentioned above, have increased mortality from COVID-19 infection and social contact increases the risk of infection, we may assume that people in Vietnam simply have “natural protective benefits” from their everyday life against COVID-19.

The first benefit is that, in Vietnam the percentage of people above 60 is about 10% (in other reports the portion of people above 65 is 5.5%, respectively). This figure is very low compared to Germany at  23.4%. The average age of the Vietnamese is 30.9 years, in Germany 44.4 years, life expectancy in Vietnam is 73.6 years, in Germany 80.9 years. The population in Vietnam rose from 54 million in 1980 to 97 million in 2020. It should be noted that up to 90% of the Vietnamese population is currently in an age range in which death rate due to COVID-19 is rare.

Such “phenomenon” as in Vietnam can also be seen in some other countries with few COVID-19 fatalities. They have similar demographic structures, e.g. even in a populous country like India.

The second benefit is decisive for limiting the spread of COVID-19 in society, particularly for the elderly. There is a difference in everyday behavior between Europeans and Vietnamese, influenced by socio-cultural traditions and customs. In Europe there is a common behavior: you often shake hands when greeting, close friends or family members hug and kiss on the cheek, open conversations between young and old people are as a matter of course. In Vietnam there is rather a “contra corona behavior“: through family education, which is largely influenced by Confucianism, there is a high respect for older people, especially for parents, grandparents, aunts and uncles in the family itself, which spontaneously leads to a certain social, physical distance to older people. This kind of gap has always been an old tradition, in both family and social life. There is also a certain language barrier, which also tends to promote additional social distancing. The form of greetings in the Vietnamese language constrains himself as little siblings, children or grandchildren in the communication with older people, and vice versa, as a big uncle, uncle or aunt, parents in the communication with young people. This barrier forces the young people to accept their “lower” position in the hierarchical structures prevailing in the society. In Vietnam, open conversations between old and young people  are less common. In addition, people in Vietnam usually retire after the age of 60. They tend to live in seclusion with their family, and participate less in activities in public life.

DĐKP: What do you think Vietnam should do now with the increasingly complicated situation of COVID-19?

NGUYEN: Vietnam is in a state of “total social isolation” since April 01st, 2020, as Prime Minister Nguyen Xuan Phuc announced. This drastic measure and the previously targeted screening, testing, surveillance and quarantine measures have proven effective, not only in Vietnam but also in many other countries to prevent the spread of COVID-19. This time could be used to identify the sources of infection and to keep down them effectively by consistently tracking the infection chains, in particular isolation, surveillance and quarantine measures.

The difficulty for many countries is currently how to get out of this situation in order to return to normal social activities and to recover the economic damageas soon as possible, simultaneously to be prepared for another severe COVID-19 outbreak.

So far we do not know how many people really have been infected. Calculations based on predictions without this knowledge are inaccurate. Therefore, in order to better understand this situation, it is important to carry out a wide-ranging investigation using antibody tests – this may at random in the beginning – in order to better understand the current immunological status against Sars-CoV-2 and thus the extent of the infection.

 

DĐKP: We know that Germany intends to carry out antibody tests in the general population. Would you please explain us the importance of such testing?

NGUYEN: Under normal conditions with SARS-CoV-2 infection it can be assumed that a humanbeing, according to the RKI, should be considered immune to this disease in at mean 7 to 14 days after have been infected with the Sars-CoV-2 virus. Sufficient antibodies against the virus have been formed during this period. A positive antibody test means that you have already gone through the disease and have now developed sufficient immunity to this disease. The results of the antibody tests would lead us to two situations:

1.  If the immune status in the population is low, this is a warning that the infection will recur when the measures to limit social contacts are no longer strict. Also during this time government and health care professionals need to perform mutual policies for balancing the protection of people’s health and the prevention of an economic recession.

2.  If the immune status of the population is high: This would be a reasonable explanation for the hypotheses we mentioned above: COVID-19 should have arrived in Vietnam very early, would have spread very quickly among young people, making them immune on average after 7-14 days. The natural immunity that is spreading among many young people represents in turn a natural obstacle for further spread of COVID-19. Under these conditions, normal social activities could be permitted under certain precaution. However, this does not mean that COVID-19 has been eliminated, it only shows that the level of infection is gradually decreasing and under control. Therefore, policies to limit social exposure must continue to be strictly observed, e.g.

. Contact at a distance of 1.5-2 m (especially towards older people).

. Hygienic measure with frequent hand washing

. Wearing (non-medical) masks is particularly effective when as many people as possible wear these masks, especially in closed rooms. Everyday non-medical masks cannot protect high-risk groups and older people if the mask carrier is noteless infected, with little or no symptoms. Therefore, besides everyday masks, the most important issue  is the compliance to the above mentioned contact distancing!

According to Prof. Drosten, virologist at the Charité University Berlin, it can be assumed that antibody tests may be available for general examination in Germany in the next 6-8 weeks. A problem that needs to be considered is a possible cross-reaction with other coronaviruses from previous diseases.

There is also the possibility of obtaining antibody serum for passive immunisation from people who have become immune after COVID-19.

DĐKP: Before we end this very interesting conversation with you, we should be very grateful for a short summary. Which messages would you like to give for Vietnam?

NGUYEN: First of all, I am very grateful to DĐKP for giving me the opportunity to talk to you and your readers about COVID-19. In my mind, the course of COVID-19 in Vietnam lets one’s imagination run in a different light , which seems to allow an optimism in this sometimes hopeless fight against COVID-19.

The successes achieved so far in the fight against Covid-19 in Vietnam are on the one hand undoubtedly the result of the efforts of the Vietnamese health authority, which operates comparatively with limited resources, and on the other hand they can also be attributed to unexpected factors in this connection: the demographic structure created by wars in the past and the social, in particular physical distance in everyday dealings, which is caused by traditional behavior in any case.

One last point I want to talk about and which is very close to my heart: In the state of “complete social isolation” in the context of Vietnamese society with large family life including three generations in the same house, the risk of the infection spreading in the family, especially for the elderly, is enormous. The number of infected asymptomatic young people in a densely populated country like Vietnam is certainly still not small. Under these circumstances, the risk of infection for family members may be dangerously high, although the incidence of COVID-19 transmission in a family is surprisingly low, only 15% according to a trial in Germany. But it is extremely important to maintain hygienic standards, mostly washing the hands frequently and keeping in mind the contact distance (1.5 to 2 m), especially towards older people, in daily life as well as within the family. Families should be aware of this on a regular basis.

ĐĐKP: On behalf of the readers thank you very much for your effort.

Source: diendankhaiphong.org/corona-pandemics-what-is-really-going-on-in-vietnam/

***

Prof. Dr. Nguyen Si Huyen is currently the coordinator for the training of the students of the Vietnamese German Faculty of Medicine (VGFM) in the practical year at the Braunschweig Clinic, Wolfsburg Clinic, Wolfenbüttel Clinic and the Duchess Elisabeth Hospital Braunschweig. The VGFM is the result of a cooperation between the University Medical Center of Johannes Gutenberg University Mainz (JGUM) and Pham Ngoc Thach University (PNTU) Ho Chi Minh City (HCMC) and was founded on March 30, 2013 in HCMC. It is operated as a “joint venture” in HCMC in Vietnam. The VGFM students study medicine according to the curriculum of the JGUM and take the same exams of the IMPP (Institute for Medical and Pharmaceutical Examination Questions) as for their German students. It is the first medical degree in Vietnam to have an equivalent German medical degree.