Cha danh - 30. sinh viên Đắc Lộ (Phạm Ngọc Lân)

Lượt xem: 1348

‘…Trước kia sống nội trú trên Đà Lạt, chàng chẳng biết gì về « nhóm Caravelle », còn đảo chính năm 1960 và dội bom dinh Độc Lập năm 1962, Long cũng chỉ nghe nói qua vậy thôi, có để ý gì đến chính trị đâu…’

Ngày thứ bảy mùng 2 Tết năm con Mèo 1963, Long dắt xe đạp đi qua cổng trung tâm Đắc Lộ số 161 đường Yên Đổ(1) Sài Gòn.

cuxa_sinhvien_daclo01
Trung tâm Đắc Lộ 161 Yên Đổ Sài Gòn, thập niên 60 (hình lấy trênmạng Internet).
Ngôi nhà trong hình là khu vực của thư viện Đắc Lộ, cổng vào trung tâm ngay bên trái
của ngôi nhà này. Cư xá sinh viên Đắc Lộ nằm sâu phía trong trung tâm.

Qua một cái sân rộng, ngay bên phải là tòa nhà dùng làm thư viện, đi hết sân đến một vườn cỏ có mấy tấm rào cản bằng gỗ sơn trắng ngăn chia ranh giới của cư xá với phần còn lại của trung tâm. Ở đấy đã đợi sẵn hai sinh viên đàn anh, là chủ tịch và tổng thư ký của tập thể sinh viên cư xá. Sau phút hân hoan chào mừng và thân mật thăm hỏi, Long được dắt ra phía sau chỗ nhà xe cất xe đạp, sau đó được phụ khuân đồ đạc – chẳng có gì nhiều, cái va-li nhỏ và cái cạc-táp cũ – lên lầu 1. Ghé qua phòng làm việc của cha Giám đốc Henri Forest chào trình diện, rồi dẫn đến phòng của Long đầu hành lang. Phòng 3 người, mỗi người một cái giường, một cái bàn, một cái ghế và một cái tủ. Lầu 2 cũng tương tự. Có phòng 3 người và phòng 2 người, « lính mới tò te » ở phòng 3 người, từ từ « lên » phòng 2 người. Nhà tắm chung, nhà vệ sinh chung ở giữa ngôi nhà vừa khánh thành 3 năm trước, nên tất cả còn mới, gây cảm giác thoải mái cho chàng sinh viên chân ướt chân ráo bắt đầu cuộc sống trong một môi trường hoàn toàn mới lạ.

cuxa_sinhvien_daclo02
Ngôi nhà chính của cư xá sinh viên lúc mới khánh thành năm 1960.
Cổng vào ngay chỗ cây đa. (hình lấy từ kỷ yếu 50 năm cư xá Đắc Lộ)

Cư xá sinh viên Đắc Lộ của các linh mục dòng Tên, một dòng nổi tiếng về kỷ luật. Ngay trong buổi gặp gỡ đầu tiên với Cha giám đốc khi xin vào cư xá, ông đã nhấn mạnh đến điểm này. Kỷ luật tự giác, mình phải tự chấp nhận để rèn luyện bản thân, không ai theo dõi để phạt mình cả. Trên lầu 1 và 2 phải tuyệt đối im lặng, đó là nơi để ngủ và học, không đàn đúm tâm sự ăn uống nhậu nhẹt trong phòng. Đã có nhà ăn riêng, và một cái « bar » mở cửa suốt ngày để ngồi uống nước, nghe nhạc, tán dóc. Tầng trệt có một phòng lớn với ghế bành vừa làm chỗ ngồi đọc sách báo, tán gẫu, vừa làm phòng họp khicần.

Mỗi tối chủ nhật có buổi họp lúc 8 giờ, không ai được vắng mặt ngoại trừ lý do bất khả kháng như sinh viên y khoa phải trực bịnh viện. Mỗi ngày phải về trước 10 giờ đêm, trừ thứ bảy 12 giờ đêm và chủ nhật 8 giờ tối vì phải có mặt trong buổi họp.

Lỡ về trễ thì sao ? Cổng trung tâm ở ngoài đường đã khóa, phải bấm chuông (leo rào không được đâu, tường cao lắm !) bác già gác cổng ra mở và đưa cho một cái thẻ đỏ. Qua hôm sau phải tìm cách gặp Cha Forest trong phòng làm việc của ông trên lầu 1 ngay cầu thang lên để giải thích tại sao về trễ. Không có trừng phạt gì cả, nhưng phải giải thích… và nghe khuyên răn. Có thể nói đa số đều ớn cái thẻ đỏ này    lắm!

Buổi họp tối chủ nhật rất quan trọng vì chủ trương của dòng Tên khi lập ra cư xá sinh viên không phải chỉ để giúp cho họ có nơi ăn ngủ học hành, mà còn có mục đích đào tạo ra một tầng lớp trí thức có tinh thần lãnh đạo (leadership). Châm ngôn của sinh viên cư xá là « Esto vir », một câu tiếng la-tinh tạm dịch là « hãy là người », nói cho văn hoa có thể dùng chữ Hán « Thành nhân ». Dòng Tên vẫn có truyền thống như thế xưa nay, ở mọi nơi mọi chốn họ hiện diện. Ở Vatican có nhiều linh mục, giám mục dòng Tên  nắm giữ những chức vụ quan trọng trong «chính phủ » Vatican. Các trường trung học của dòng Tên ở các nước chỉ nhận những học sinhgiỏi.

Buổi họp bắt đầu bằng những « nhận xét của Cha Giám đốc », nói nôm na là bị ông « chỉnh » những hành vi không tốt trong tuần. Không khi nào kể tên ai ra, nhưng tên nào có vi phạm thì cảm thấy chột dạ, thế thôi. Rồi đến một buổi thuyết trình về một đề tài liên quan đến rèn luyện cá tính, kèm theo sau là trao đổi của sinh viên về đề tài đó. Đến 10 giờ tối buổi họp chấm dứt, mọi người kéo nhau ra bar uống nước (chỉ có nước ngọt, không có rượu bia), kể cả Cha Giám đốc, và cùng nhau hàn huyên rất thân mật và thường là có đàn hát. Khi có sinh viên mới vào thì bắt buộc phải có một tiết mục gì đấy để « ra mắt ».

Rèn luyện bản thân còn thể hiện qua những việc nhỏ nhặt nhưng xảy ra thường ngày nên không kém quan trọng. Thí dụ việc ăn cơm trưa và tối. Bàn ăn 4 người, phải đủ 4 người nhà bếp mới dọn một mâm cơm Việt Nam. Bản kỷ luật ghi rõ là phải đến phòng ăn và ngồi vào bàn cho đủ 4 người, không chọn người ngồi ăn với mình, không rủ bạn trước khi vào phòng ăn. Cốt để luyện tính hòa đồng với mọi người, dù là người mình không hợp tính. Tương tự như thế, mỗi đầu năm học mới có mục đổi phòng, Cha Giám đốc lập sẵn một danh sách các phòng, không ai được quyền chọn bạn cùng phòng với mình.

Cư xá còn là nơi của riêng sinh viên trú ngụ, có nghĩa là người ngoài không ai được vào. Mỗi năm chỉ có một ngày gọi là « Lễ Phụ Huynh » là sinh viên được mời phụ huynh và bạn bè vào thăm nơi ăn chốn ở của mình. 364 ngày còn lại, nếu có khách đến thăm phải tiếp ở phòng khách nằm ngoài khu cư xá. Đối diện với thư viện, có một dãy phòng dùng để tiếp khách, và cũng dùng để sinh viên dạy kèm học sinh, kiếm chút tiền còm.

Giải trí của sinh viên cũng được chú trọng đúng mức. Sân phía ngoài dùng cho bóng chuyền và bóng rổ, phía trong bên cạnh bar có một phòng rộng một bên mở ra vườn, kê một bàn bi-da (billard) và hai bàn ping-pong (bóng bàn). Trên lầu của bar và nhà bếp là phòng chơi nhạc, trong những giờ quy định được phép chơi nhạc thì cũng ồn ào lắm !

Long đang ở trọ đường Trần Quang Diệu nối dài, nay vào cư xá dĩ nhiên cảm thấy quá thoải mái so với trước kia. Đối với chàng, chấp hành kỷ luật tự giác là chuyện hiển nhiên vì chàng đã quen với lối sống tập thể trong hơn 5 năm nội trú ở Đà Lạt rồi. Chàng cũng nhanh chóng hòa đồng với mọi người, có thể nói sau này những bạn thân nhất đều xuất thân từ thời gian sống chung ở đây. Người bạn cùng phòng đầu tiên tên là K. có máu đam mê xe gắn máy, hồi đó chưa có Honda của Nhật, chỉ có Mobylette của Pháp, xe Sachs của Đức, hay xe Puch của Áo, chưa nói đến Vespa hay Lambretta thuộc loại « cao cấp » hơn mà rất ít tên trong cư xá có được. K. đưa Long đến giới thiệu với anh Chín sửa xe gắn máy ở khu Chợ Đũi, anh này lâu lâu có người gửi xe cũ nhờ bán giùm. Mà Long thì đang dành dụm để tìm mua một chiếc xe gắn máy thay cho xe đạp. Chàng không ngại đạp xe, nhưng có cái phiền là trời Sài Gòn lúc nào cũng nóng nên đạp đến nơi nào cũng bị mồ hôi ướt áo, đôi khi cũng phiền người đối diện!

sinhvien_daclo
Sinh viên cư xá Đắc Lộ niên khóa 1963-64
(hình chụp trong ngày Lễ Phụ Huynh 18-1-1964)
Cha Forest và Thầy Tremblay áo trắng.

sinhvien_daclo_phuchung
Sân bóng chuyền của cư xá sinh viên Đắc Lộ, 28-03-1965. Đấu giao hữu với sinh viên cư xá Phục Hưng. Đội Đắc Lộ áo trắng : Hà Văn Khánh, Robert Phạm Ngọc Thuần, Hoàng Trọng Mộng, Phạm Ngọc Lân, Huỳnh Kim Chung, Bùi Quang Hiền, Nguyễn Ngọc Long.
Bên phải là linh mục Henri Forest
,giám đốc cư xá Đắc Lộ, bên trái là một linh mục Dòng Tên khác.

Sáng ngày thứ ba 11 tháng 6 năm 1963, Long trên đường đến chỗ anh Chín vì K. cho biết có cái xe  gắn máy của ai đó gửi bán. Khu Chợ Đũi nằm ở khúc đường Lê Văn Duyệt và Hồng Thập Tự, Long đi từ đường Phan Đình Phùng đến, tính gặp Lê Văn Duyệt quẹo trái, trước khi đụng Hồng Thập Tự(2) là đến tiệm tiệm sửa xe nằm sâu trong con hẻm bên trái đường.

Đạp xe chầm chậm trên đường Phan Đình Phùng dưới bóng mát của tán lá hai hàng cây lớn, đến ngã  tư Bà Huyện Thanh Quan thì phải ngừng lại vì kẹt xe. Xa xa phía trước thấp thoáng có màu vàng của áo cà sa. Chàng nghĩ bụng chắc kẹt xe vì có biểu tình của Phật Giáo. Dân Sài Gòn bắt đầu làm quen với những cuộc biểu tình trên đường phố, gọi nôm na là « xuống đường » của các phe tranh đấu Phật Giáo chống chính quyền của Tổng Thống Ngô Đình Diệm.

Long vừa chân ướt chân ráo về Sài Gòn, bù đầu học hành và tạo dựng cho mình cuộc sống mới, nên chẳng để ý gì đến những cuộc xuống đường này, và mù tịt về những biến chuyển chính trị. Nhưng dù muốn dù không cũng có nghe nói về những cuộc tranh đấu của Phật Giáo xảy ra từ tháng 5-1963, bắt đầu từ Huế, lan qua các tỉnh miền Trung, và nay vào đến Sài Gòn.

Tổng Thống Ngô Đình Diệm theo đạo Công Giáo và rất sùng đạo. Lại thêm ông anh cả là Tổng Giám mục Ngô Đình Thục có ảnh hưởng lớn trên cả gia đình, theo truyền thống đại gia đình ở Việt Nam. Giáo dân Công Giáo chưa đến 10% dân số, nhưng Giáo hội Công Giáo có tổ chức chặt chẽ nên có những buổi lễ được tổ chức rầm rộ, có khi với sự tiếp tay của chính quyền địa phương.

Long còn nhớ một buổi lễ khó quên ở Đà Lạt năm 1959, lúc đó Long 15 tuổi đang học lớp 3è (tương đương lớp 9) trong trường Adran. Trong suốt thời gian hơn 5 năm sống nội trú ở đây, duy nhất một lần đó có một « biến cố lạ » nên Long nhớ mãi. Các học sinh nội trú các lớp lớn trong trường ban đêm được chở ra khu đồi Cù bên bờ hồ Xuân Hương để dự một buổi lễ kính Đức Mẹ Maria, trong dịp Đại hội Thánh Mẫu toàn quốc. « Đồi Cù » là mấy ngọn đồi thấp cỏ xanh mướt có điểm vài khóm thông đây đó, ngay bên bờ hồ Xuân Hương thơ mộng, có lẽ ngày xưa dùng làm sân đánh golf nên gọi là đồi Cù. Thập niên 50 và 60 không còn là sân golf nữa mà là một thắng cảnh nên thơ ngay trung tâm thành phố, nơi hò hẹn của trai thanh gái lịch Đà Lạt dắt tay nhau đi dạo trong thiên nhiên. (3)

Đêm đó đồi Cù đông nghẹt người, ngoài các đoàn thể Công Giáo còn dân chúng tò mò đi xem một quang cảnh chưa từng có ở Đà Lạt. Mỗi người cầm một ngọn nến lung linh, tiếng đọc kinh và tiếng hát vang lên trong đêm thanh vắng dưới ánh sao tạo nên một khung cảnh vừa thánh thiện vừa huyền ảo. (4)

Nhưng hình ảnh in sâu trong ký ức của Long là những nữ sinh trường các bà mẹ Couvent des Oiseaux, mà ban tổ chức xếp đặt đứng ngay bên cạnh học sinh của trường Adran. Trong đêm thanh vắng, dưới ánh nến bập bùng, chàng có cảm tưởng đang được chiêm ngưỡng các thiên thần giáng thế ! Sẽ chẳng khi nào lại có dịp ban đêm được đứng cạnh những cô bé dễ thương như thế nữa. Long vừa ngắm nhìn, vừa thấy thương hại vì trời tháng hai ban đêm ở Đà Lạt khá lạnh mà bộ đồng phục của trường Couvent là chiếc váy đầm màu xanh đậm, các nàng bắt đầu run rẩy…

Long trở về với thực tế cảnh kẹt xe trên đường phố Sài Gòn thật khác với cảnh đồi cù dưới ánh sao trong ký ức của mình. Chàng mang xe đạp lên lề đường tiến gần thêm tới ngã tư Lê Văn Duyệt định quẹo trái về phía Hồng Thập Tự thì thấy rõ hơn các áo cà sa vàng đang quây thành vòng tròn ở ngã tư, tiếng tụng niệm đều đều vang lên át cả tiếng ồn ào của thành phố.

Các nhà sư tham gia biểu tình thuộc thành phần bất mãn với chính quyền vì họ xem như Phật Giáo bị phân biệt đối xử với Công Giáo. Giọt nước làm tràn ly là lệnh gỡ những cờ Phật Giáo đã treo trước cửa nhà và ngoài đường phố Huế trong mấy ngày chuẩn bị đại lễ Phật Đản ngày 8 tháng 5 vừa qua, nghe nói là theo lệnh của chính Tổng thống Ngô Đình Diệm, do lời yêu cầu của Tổng Giám mục Ngô Đình Thục, để áp dụng một nghị định nào đó cấm treo cờ tôn giáo và đảng phái ở nơi công cộng. (5)

Nhưng trầm trọng hơn cả là vụ nổ buổi tối ngày 8 tháng 5 trước đài phát thanh Huế ngay đầu cầu Trường Tiền khi có cuộc tập họp của Phật tử trước cửa đài phát thanh. Vụ nổ làm 8 người thiệt mạng(6). Theo chính quyền thì vụ nổ do Việt Cộng khủng bố, phe Phật Giáo thì quả quyết là vụ nổ gây ra do quân đội mang lính tráng và xe bọc sắt đến đàn áp biểu tình. Cũng có nguồn dư luận cho rằng vụ nổ là do CIA đang tìm cách phá hoại chế độ của ông Diệm mà Mỹ bắt đầu không muốn ủng hộ nữa. Giải thích này thuộc loại « dễ dãi », có chuyện gì chưa tìm ra sự thật thì cứ đổ cho « xịa » là chắc ăn, chẳng phải CIA toàn năng, muốn làm gì cũng được đó sao ! Long cũng như đa số dân chúng thầm lặng bị đắm chìm trong hỏa mù của tuyên truyền từ mọi phía, chẳng biết đâu mà mò, nên cũng chỉ nghe cho biết mà thôi.

Các cuộc biểu tình bắt đầu từ Huế, tên tuổi của Thượng Tọa Thích Trí Quang được các phương tiện truyền thông trong nước cũng như ngoại quốc đưa lên hàng đầu các bài báo như một khuôn mặt nổi lãnh đạo phe tranh đấu. Biểu tình từ từ lan qua các tỉnh miền Trung rồi đến Sài Gòn, với yêu sách 5 điểm, mà điểm quan trọng nhất là Phật Giáo phải được đối xử giống như Công Giáo, quy định trong dụ số 10, là một dụ còn sót lại từ thời Phápthuộc. (7)

Long còn đang dắt xe từ từ tiến tới trong đám đông kẹt xe, phía trước vẫn thấy các áo cà sa vàng với tiếng tụng niệm đều đều, bỗng nhiên tiếng tụng niệm biến thành một tiếng hét thất thanh hoảng sợ đồng loạt phát ra từ cả trăm người đứng thành vòng, đồng thời một cột khói đen bốc lên từ giữa vòng tròn các nhà sư. Long đã đến khá gần để thấy thấp thoáng một dáng người ngồi im đang ngùn ngụt bốc cháy ngay ngã tư, cùng lúc với một mùi khét kinh hoàng bốc lên làm Long hoảng sợ vội quay xe lại và đạp thật nhanh để thoát khỏi cảnh tượng hãi hùng đó.

Ngày hôm sau, cả thế giới được xem tấm hình của ký giả Malcolm Browne chụp cảnh tự thiêu của Thượng tọa Thích Quảng Đức (8).

-   Mày có đọc báo về vụ tự thiêu hôm qua không ? Kinh hoàng quá!

-   Tao không đọc gì cả, nhưng tình cờ tao qua gần đó và có thoángthấy…

-   Ủa vậy hả ? Chuyện xảy ra như thế nào, kể tụi tao nghe đi. Báo chí nhiều khi không tinđược…

Long đang ngồi với ba bạn Linh, Ánh và Tuấn trên ghế đá dưới gốc cây đa ngay cửa vào ngôi nhà chính của cư xá Đắc Lộ. Cây đa này còn tương đối nhỏ, cũng không biết có phải cây đa, hay cây sung, hay cây đề, cũng không quan trọng lắm. Quan trọng hơn là nó cho bóng mát, và sống trong cây này có con tắc kè (chắc là cả một gia đình tắc kè chứ không phải một con) lâu lâu lại cất lên tiếng kêu rất đặc biệt vang dội cả mấy tầng lầu, tên nào đang ngủ trưa mà nghe nó kêu chắc chắn phải bật dậy như nghe tiếng đồng hồ báo thức!

Linh học Dự bị Y khoa, hồi đó gọi là APM (Année Préparatoire en Médecine) trong khi Long học năm thứ nhất Dược khoa. Hai bạn kia « lão thành » hơn, Ánh học Luật năm thứ hai, và Tuấn sắp xong cử nhân Văn khoa. Tuấn người Quảng Nam, Ánh người Huế, cả hai đều học trung học ngoài Trung, lên Đại học mới vào Sài Gòn. Cả hai theo dõi thời cuộc và chú ý đến chính trị hơn phần đông các bạn khác trong cư xá. Linh quê ở Cần Thơ, chẳng để ý gì đến chính trị, hình như người miền Nam sống dễ dãi trong cảnh thiên nhiên ưu đãi, nên ít thắc mắc chuyện thiên hạ ! Còn Long thì suốt tuổi thơ ấu của mình sống trong môi trường khép kín, chẳng biết gì về những rắc rối của cuộc đời…

Dù vậy 4 người vẫn thân nhau, đó là một ưu điểm trong cuộc sống chung trong một cư xá như Đắc Lộ, không phải chỉ là nơi ăn ngủ mà còn là nơi mỗi người có dịp cọ xát và tìm hiểu về các bạn khác. Họ có thể rất khác nhau về điểm này điểm nọ, nhưng vẫn có cái gì đó vô hình làm cho họ trở thành thânthiết.

Cư xá Đắc Lộ của dòng Tên, đương nhiên là có khuynh hướng chung là ủng hộ Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Long được các bạn vào trước kể là đã có lần đích thân ông Diệm đến dự thánh lễ ngày chủ nhật trong nhà nguyện của cư xá. Nhưng dòng Tên có tinh thần đào tạo con người bằng cách cho họ có cơ hội tiếp xúc và tìm hiểu những luồng tư tưởng khác nhau. Vì vậy sinh viên Công Giáo trong cư xá chỉ là thiểu số. Và sinh viên có những khuynh hướng chính trị khác nhau. Sau này sẽ thấy có người trong các phong trào chống đối chính quyền, có người còn bí mật theo Mặt Trận Giải Phóng, mãi sau này mới biết.

Như nói trên, hai bạn lớn tuổi hơn Long là Tuấn và Ánh đều không thờ ơ với chính trị. Cả hai đều lớn lên trong một môi trường gia đình dấn thân vào chính trị và cách mạng. Nhưng họ có suy nghĩ khác nhau về những gì đang xảy ra.

Đối với Ánh, ông Diệm là cứu tinh của những người Việt Nam không chấp nhận sống dưới chế độ cộng sản. Về nước chấp chánh năm 1954 trong tình thế vô cùng bi đát, ông đã dẹp được loạn và biến miền Nam thành một vùng trù phú. Dĩ nhiên ông phải nhờ vào viện trợ của Mỹ, nhưng không thể phủ nhận công trình của ông tái thiệt đất nước. Chưa kể sự thành công của việc định cư gần một triệu người di cư trốn chạy cộng sản từ miền Bắc vào. Từ 1955 đến 1960 có thể nói là thời gian thanh bình rất hiếm hoi của miền Nam. Nếu năm 1959 miền Bắc không lấy quyết định thống nhất đất nước bằng vũ lực, bắt đầu đưa quân vào miền Nam và thành lập Mặt Trận Giải Phóng năm 1960 thì chắc chắn miền Nam sẽ phát triển về mọi mặt không thua gì các nước láng giềng saunày.

Nhắc tới Mặt Trận Giải Phóng, Long kể cho các bạn nghe chuyện xe đò chàng đi trên đường Sài Gòn – Ban Mê Thuột bị lùa vào rừng nghe diễn thuyết vào mùa hè năm 1961. Chuyện này khá hi hữu, làm các bạn ngạc nhiên sao anh chàng khù khờ này lại có một kinh nghiệm hiếm hoi là tiếp xúc trực tiếp với du kích. Thật vậy, sau này ít thấy những cảnh lùa vào rừng quy mô như thế nữa, có lẽ chiến thuật của Mặt Trận Giải Phóng đã thay đổi.

Theo Ánh thì miền Nam cần một chính quyền mạnh mới có thể đối phó được với miền Bắc có tham vọng áp đặt chính sách cộng sản toàn trị lên cả nước. Nhưng « chính quyền mạnh » cũng có nghĩa là dân chủ sẽ bị giới hạn, và đó là điểm yếu mà các phe chống đối – kể cả cộng sản – triệt để khai thác, và truyền thông thế giới loan truyền rộng rãi, nhất là từ khi có phong trào chống đối của Phật Giáo, và nay là vụ tự thiêu của Thượng tọa Thích Quảng Đức. Vẫn theo Ánh, chính quyền bị phe tranh đấu Phật Giáo trách là ưu đãi Công Giáo hơn Phật Giáo, điều này thật ra là do vụng về trong cách đối xử nhiều hơn là do dụng ý phân biệt tôn giáo, và Ánh còn nghi là có bàn tay của CIA đằng sau những dư luận chống đối này vì chính phủ Mỹ bắt đầu không muốn ủng hộ ông Diệm nữa, vì ông không muốn Mỹ can thiệp quá sâu vào chính trường Việt Nam. Thêm vào đó lại có tin đồn là ông Nhu còn bí mật tiếp xúc với miền Bắc để mong tìm một giải pháp hòa bình cho cuộc tranh chấp (9).

Tuấn có lý luận khác hẳn. Chính quyền miền Nam muốn đương đầu với chính quyền toàn trị miền Bắc thì phải có sự hậu thuẫn của đa số dân chúng miền Nam, phải làm cách nào để dân chúng ủng hộ hết mình. Đằng này ông Diệm chỉ tin vào gia đình mình và một số người thân cận, điển hình là ông anh Ngô Đình Thục làm Tổng giám mục Huế, ông em Ngô Đình Nhu là cố vấn sống bên cạnh ông, xem như đầu não của gia đình, và ông em áp út Ngô Đình Cẩn làm « vua một cõi » ở miền Trung. Ông Diệm cũng tin dùng người Công Giáo hơn, vì ông nghĩ người Công Giáo có truyền thống chống cộng dứt khoát, nhất là người Công Giáo di cư từ miền Bắc vào, đã trốn chạy cộng sản rồi nên càng chống cộng triệt để hơnnữa.

Đối với Tuấn, chỉ tin tưởng vào gia đình mình và chỉ tin dùng một thiểu số thì đương nhiên là sẽ có bất mãn nảy sinh trong đa số còn lại. Bằng chứng từ đầu thập niên 60 đến giờ, đã có mấy biến cố nghiêm trọng xảy ra mà ông Diệm không rút kinh nghiệm vì ông có đầu óc cổ lỗ sĩ là « cha mẹ của dân » nên không biết uyển chuyển. Đầu tiên là vụ « nhóm Caravelle » đưa ra một bản kiến nghị với 18 chữ ký. Trong một nước dân chủ thì sự kiện này cũng chỉ là một cách hành xử bình thường trong vòng hợp pháp, nhưng lúc đó những người ký tên bị xem như « làm loạn », bị cảnh sát mật vụ hạch hỏi, có người bị giam giữ (10). Rồi đến cuộc đảo chính hụt ngày 11 tháng 11-1960 của Lực lượng Nhảy Dù với Đại tá Nguyễn Chánh Thi và Trung tá Vương Văn Đông (11). Qua năm 1962, hai phi công của Quân đội Việt Nam Cộng Hòa là Phạm Phú Quốc và Nguyễn Văn Cử dội bom dinh Độc Lập, là dinh Tổng thống đồng thời là nơi ông Diệm và hai vợ chồng ông Nhu sinh sống. Cả ba người đều thoát nạn, trong khi dinh bị thiệt hại nặng phải xây cất một dinh mới.

« Và bây giờ đến vụ tranh đấu của Phật Giáo, từ hơn tháng nay chính quyền không tìm cách tìm hiểu và giải quyết một cách ổn thỏa, mà chỉ xem phe tranh đấu như một nhóm quá khích bị Việt Cộng giật dây. Dĩ nhiên là Việt Cộng sẽ lợi dụng phong trào này để làm suy yếu thêm chính quyền, nhưng chính quyền cũng phải tự xét mình xem có cần sửa đổi gì không để giải quyết chứ ! » Đó là câu kết luận của Tuấn.

Đây là lần đầu Long được nghe những chuyện như thế này, lần đầu tiên nghe những luồng dư luận trái ngược nhau. Trước kia sống nội trú trên Đà Lạt, chàng chẳng biết gì về « nhóm Caravelle », còn đảo chính năm 1960 và dội bom dinh Độc Lập năm 1962, Long cũng chỉ nghe nói qua vậy thôi, có để ý gì đến chính trị đâu. Nên cũng chẳng nghĩ là tình hình đang có những biến chuyển nguy kịch.

Nhưng từ giờ trở đi, dù muốn dù không, là một sinh viên ở Sài Gòn, chàng đang bị và sẽ còn bị ít nhiều cuốn hút vào những cơn lốc của lịch sử.

(Còn tiếp)

Phạm Ngọc Lân

Chú thích:

(1) Đường Yên Đổ sau này đổi thành Lý Chính Thắng.

(2) Đường Phan Đình Phùng bây giờ là Nguyễn Đình Chiểu, Hồng Thập Tự là Nguyễn Thị Minh Khai, Lê Văn Duyệt là Cánh Mạng ThángTám.

(3)Sau này, trong thập niên 90, chính quyền địa phương cho một công ty nước ngoài thuê khu đồi cù này để làm sân đánh golf, mặc cho người dân Đà Lạt phản đối vì họ mất đi một thắng cảnh thiên nhiên ngay trung tâm thành phố. Thật vậy, khu vực này được rào kín và chỉ có hội viên chơi golf mới được vào. 

(4) Năm 1959 là năm kỷ niệm 100 năm Đức Mẹ hiện ra ở Lourdes (Lộ Đức, một ngôi làng nhỏ trong núi Pyrénées miền nam nước Pháp). Giáo hội Công Giáo miền Nam thời đó tổ chức Năm Thánh Mẫu và Đại hội Thánh Mẫu toàn quốc trong ba ngày 16, 17 và 18 tháng 2 năm 1959 tại Sài Gòn, dưới sự chủ tọa của Hồng Y Agagianan, đặc sứ của Giáo Hoàng Gioan XXIII. Nhân dịp này có lễ khánh thành bức tượng Đức Mẹ bằng cẩm thạch trắng xứ Carrara, được đặt tạc từ bên Ý mang qua, đến nay vẫn còn trước nhà thờ Đức Bà Sài Gòn. Tượng được đặt trên cái bệ trước đây có tượng của Giám mục Adran tay dắt Hoàng tử Cảnh, dựng lên từ năm 1903, đến 1945 bị hạ bỏ, nhưng cái bệ vẫn còn đó đến 1959 mới có tượng Đức Mẹ dựng lên.

Trong năm này, trên toàn miền Nam tổ chức nhiều cuộc rước kiệu quy mô, riêng ở Đà Lạt có buổi lễ ban đêm trên đồi Cù như mô tả trong bài viết.

(5) Vụ « triệt hạ cờ Phật Giáo » ở Huế xảy ra ngày hôm trước lễ Phật Đản (rằm tháng tư âm lịch, năm 1963 rơi vào ngày 8 tháng 5 dương lịch). Theo nhiều nhân chứng tại chỗ trong đó có linh mục Cao Văn Luận, viện trưởng viện Đại học Huế lúc đó, câu chuyện khởi đầu khi Tổng Giám Mục Ngô Đình Thục trên đường từ La Vang về Huế thấy cờ Phật Giáo treo rất nhiều hai bên đường. Ông gọi Đại biểu Chính phủ Hồ Đắc Khương đến khiển trách, sao đã có nghị định cấm treo cờ tôn giáo và đảng phái nơi công cộng mà nay lại để Phật Giáo treo cờ khắp đường phố. Ông Hồ Đắc Khương không biết phải cư xử ra sao, vì nếu áp dụng nghị định đó vào lúc này, chính phủ sẽ bị xem là đàn áp Phật Giáo. Ông bèn đánh điện về Sài Gòn xin ý kiến. Dinh Tổng Thống xác nhận nghị định vẫn có hiệu lực.

Ông Quách Tòng Đức, Đổng lý Văn phòng của Tổng Thống Ngô Đình Diệm, sau này kể lại rằng khi nhận được điện văn từ Huế, ông trình cho ông Diệm xem thì được trả lời: « Đã có nghị định về việc treo cờ thì cứ việc áp dụng thôi. ». Ông Đức cho biết bình thường thì ông sẽ trình cho ông Ngô Đình Nhu lệnh miệng của ông Diệm để ông Nhu viết thành văn bản, nhưng hôm đó ông Nhu đang ở Đà Lạt, nên ông Đức chỉ trả lời bằng cách lặp lại nguyên văn lời ông Diệm. Khi ông Nhu trở về, biết được tin này, ông nói (vẫn theo lời ông Đức kể) rằng để cho tôn giáo xen vào chính trị rất là nguy hiểm, và phản ứng như thế là một sai lầm lớn của chính quyền. Ông Nhu là người biết uyển chuyển, ông Diệm không để ý đến chuyện cờ Phật Giáo đã treo đầy đường, ra lệnh gỡ bỏ ngay trước ngày Phật Đản là một hành động khiêu khích đối với Phật tử ở Huế.

Nghị định nói trên có từ năm 1958, số 189/BNV/NA/P5, áp dụng từ ngày 12 tháng 5-1958. Một bức thư của Tòa Tổng Giám Mục Sài Gòn xác nhận là nghị định đó chẳng được ai chấp hành cả. Bằng chứng là thời gian trước lễ Phật Đản không lâu, cờ của Vatican cũng được treo la liệt nơi công cộng trong những buổi lễ của Công Giáo mà có ai phản đối đâu!

(6) Có rất nhiều tài liệu về vụ nổ trước đài phát thanh Huế tối ngày 8 tháng 5-1963. Một tài liệu mật của ông Helble, lãnh sự Hoa Kỳ ở Huế gửi cho Bộ ngoại giao Mỹ ngay hôm đó (nay đã giải mật và đăng trong Foreign Relations of the U.S., 1961-63, vol.III, document 112) mô tả đại khái như sau:

« Khoảng 22 giờ 45, một đám đông khoảng 3000 người tụ tập trước đài phát thanh, bao bọc bởi 8 chiếc xe bọc sắt và đơn vị quân đội. Lính nổ súng bắn chỉ thiên để thị oai, sau đó một tiếng nổ lớn trước cổng vào đài phát thanh làm bốn trẻ em và một người đàn bà thiệt mạng. Trong cơn hỗn loạn sau đó có thêm ba nạn nhân nữa.

Đám đông đã có mặt trước đài phát thanh để áp lực với chính quyền phát thanh lại cuốn băng ghi âm buổi lễ Phật Đản vào buổi sáng cùng ngày, như đã có trong chương trình (và như thông lệ những năm trước vẫn làm). Nhưng hôm đó cuốn băng không được phát thanh vì trong buổi lễ có những phát biểu chỉ trích chính quyền. Đám đông được yêu cầu giải tán nhưng không ai tuân hành, sau đó chính quyền dùng vòi nước cũng không giải tán được, cuối cùng kêu gọi đến quân đội, và chuyện đáng tiếc đã xảy ra. »

Trong một bản báo cáo sau đó chi tiết hơn, lãnh sự Mỹ Helble nói thêm là có 7 nạn nhân thiệt mạng tại chỗ, người thứ tám chết sau đó vì vết thương quá nặng. Ông cũng xác nhận trong số đó có hai nạn nhân bị xe bọc sắt cán chết, cả hai đều là trẻ em.

(7) Ngày thứ sáu 10 tháng 5, khoảng 5000 Phật tử tụ họp ở chùa Từ Đàm nghe Thượng Tọa Thích Trí Quang thuyết pháp, có mặt của Tỉnh trưởng Nguyễn Văn Đẳng. Các nhà lãnh đạo Phật Giáo soạn thảo bản tuyên ngôn với 5 nguyện vọng :

1.  Yêu cầu chính phủ Việt Nam Cộng Hòa thu hồi vĩnh viễn công điện cấm treo cờ tôn giáo nơi côngcộng.

2.  Yêu cầu Phật Giáo phải được hưởng một chế độ đặc biệt như các hội truyền giáo Thiên Chúa Giáo đã được ghi trong dụ số10.

3.  Yêu cầu chính phủ chấm dứt tình trạng bắt bớ và khủng bố tín đồ PhậtGiáo.

4.  Yêu cầu cho tăng ni phật tử được tự do truyền đạo và hànhđạo.

5.  Yêu cầu chính phủ bồi thường thích đáng cho những người chết oan vô tội và kẻ chủ mưu giết hại phải bị xétxử.

Dụ số 10 do ông Bảo Đại ký ngày 6 tháng 8 năm 1950 (trước khi ông Diệm về cầm quyền năm 1954), quy định luật lệ về các hội đoàn. Dụ này có điều 44 (là điều áp chót) : « Quy định đặc biệt về các hội truyền giáo Công Giáo và Tin Lành cũng như các hội của người Hoa sẽ có văn bản sau. » Vậy là các hội của Phật Giáo phải chịu quy định của dụ số 10, còn các hội Công Giáo và Tin Lành có những quy định khác. Đó là nền tảng của những bất mãn của Phật Giáo, xem như bị phân biệt đối xử.

(8) Tấm hình do ký giả Malcolm Browne người Mỹ chụp, một phóng viên của hãng thông tấn quốc tế Associated Press. Ông là phóng viên ngoại quốc duy nhất có mặt tại chỗ tự thiêu. Năm 1965, ông viết một bài rất chi tiết về biến cố này, được đăng lại trong tuyển tập « Reporting Vietnam, part 1, The Library of America, 1998 », trang 79:

« [...] Ngày thứ hai 10 tháng 6, tôi đang ngồi trong văn phòng thì có điện thoại của một nhà sư trẻ, Thích Đức Nghiệp, mà tôi quen thời gian gần đây. [...] Ông nói : "Chúng tôi có buổi họp sáng mai lúc 8 giờ, tôi khuyên ông nên tới, có thể có một biến cố quan trọng".

[...] Tôi đến lúc 8 giờ kém 15, đây là một ngôi chùa nhỏ đường Phan Đình Phùng. [...] Nhà sư Thích Đức Nghiệp đến nói nhỏ với tôi : "Tôi khuyên ông nên ở lại đến giờ chót, vì sẽ có một chuyện rất quan trọng xảy ra ".Đúng 8 giờ, tiếng tụng kinh bắt đầu nghe thấy trong loa phóng thanh. [...] Đúng 9 giờ, tiếng tụng kinh chấm dứt. »

Malcolm Browne mô tả rất chi tiết những gì xảy ra sau đó. Các tăng ni – có vẻ đã tập dượt trước những động tác này – xếp hàng hai trên lối đi chính từ chùa ra đường. Nhiều khẩu hiệu bằng tiếng Việt và tiếng Anh được trưng lên, rồi đoàn người khoảng 350 tăng ni bắt đầu cuộc diễn hành. Dẫn đầu là một chiếc xe màu xám với bốn hoặc năm nhà sư ngồi bên trong đi từ từ theo nhịp độ của người đi bộ. Một chiếc xe Jeep trắng của cảnh sát mở đường phía trước cho đoàn biểu tình, khoảng cách đủ  xa để không đụng chạm gì đến đoàn người đi phía sau, chỉ có nhiệm vụ mở đường và giữ trậttự.

Đoàn biểu tình đến ngay giữa ngã tư Lê Văn Duyệt thì chiếc xe xám ngừng lại, giống như bị chết máy. Chiếc xe cảnh sát đã đi quá nửa khúc đường phía trước. Các tăng ni đi bộ từ từ vượt qua chiếc xe xám, và bất thình lình vòng lại thành một vòng tròn lớn quây chung quanh chiếc xexám.

« Bấy giờ đã gần 9 giờ 20. Các nhà sư trong xe bước ra ngoài, một người mở thùng xe và lấy ra một thùng nhựa trắng 20 lít đựng xăng màu hồng. Ba nhà sư đi từ chỗ xe đậu ra trung tâm của vòng tròn, một người để một cái gối nâu xuống đất, và nhà sư đi giữa hai người kia ngồi xuống cái gối, xếp bằng trong tư thế được gọi là thế hoa sen. »

Nhà sư đó là Thượng Tọa Thích Quảng Đức.

« Ba nhà sư trao đổi vài lời. Sau đó hai người kia lấy thùng xăng đổ lên đầu và hai vai của nhà sư ngồi xếp bằng. Hai người lui ra, để lại bình xăng bên cạnh nhà sư ngồi. Tôi đứng cách đó khoảng 7 thước, tôi thấy rõ tay của TT Quảng Đức trên đùi của ông nhúc nhích nhẹ, bật lửa. Trong chớp mắt, toàn thân ông chìm đắm trong một cột lửa lớn. »

[…]

« Lâu lâu một ngọn gió nhẹ thổi qua làm hiện rõ khuôn mặt của TT Quảng Đức. Mắt ông nhắm, nhưng thấy rõ là khuôn mặt ông diễn tả sự đau đớn. Ông vẫn ngồi thẳng, hai tay vòng trên đùi, trong khi cơ thể của ông tiếp tục cháy trong gần 10 phút. Mùi khét của xăng lẫn với mùi thịt cháy lan tỏa trên ngã tư đường như một tấm khăn trùm vô hình.»

Trong khi đó, nhiều nhà sư khác đứng ở bốn góc của ngã tư, cầm khẩu hiệu: « Một nhà sư tự thiêu cho những nguyện vọng của Phật Giáo. » Họ dùng loa phóng thanh giải thích tại sao có vụ tự thiêu này.

Khi xe chữa lửa đến, nhiều nhà sư nằm lăn ra đường trước mũi xe, trong khi nhà sư khác nằm chặn bánh sau của xe không cho xe lui lại.

Tường thuật này của Malcolm Browne phù hợp với nhiều tường thuật khác, nhưng vẫn có bài viết cho rằng ngọn lửa không do chính Thượng Tọa Thích Quảng Đức bật lên, mà do nhà sư đổ xăng lên đầu ông và bật lên. Đây là những dư luận muốn kết án phe tranh đấu Phật Giáo là đã « đốt người » coi như một án mạng chứ không phải là một vụ « tự thiêu».

Malcolm Browne chứng kiến tận mắt, và không có lý do gì để bênh vực bên này hay bên kia cả, nên tường thuật của ông rất khả tín. Ông được giải thưởng Pulitzer về phóng sựnày.

Sau này bà Ngô Đình Nhu trong một lời tuyên bố với báo chí quốc tế, nhắc đến vụ tự thiêu của Thượng Tọa Thích Quảng Đức, bà nói đó là một « bonze barbecue », « một vụ nướng sư ».

(9) Đã có hai cuộc gặp gỡ bí mật giữa ông Ngô Đình Nhu và ông Maneli, đại diện Ba Lan trong cơ quan ICC (International Control Commission, Ủy ban Quốc tế Kiểm soát Đình chiến thiết lập từ sau hiệp định Genève 1954 gồm ba thành phần Canada, Ba Lan và Ấn Độ). Phiên họp đầu vào tháng 8 năm 1963, cuộc họp thứ hai ngày 2 tháng9-1963.

Hồi ký của Maneli nhắc đến cuộc họp với ông Nhu như một độc thoại của ông này. Ông Maneli muốn làm gạch nối giữa ông Phạm Văn Đồng ngoài Bắc và ông Ngô Đình Nhu trong Nam. Ông nhắc đến tuyên bố gần đây của ông De Gaulle (lúc đó là Tổng thống Pháp) và của ông Hồ Chí Minh, nhưng ông Nhu không muốn nói gì về hai lời tuyên bố này.

Theo báo cáo của tòa đại sứ Anh ở Sài Gòn gửi về cho Bộ Ngoại Giao Anh (được tòa đại sứ Anh ở Paris chuyển cho bộ Ngoại Giao Pháp ở Paris), thì ông Maneli chuyển đến ông Ngô Đình Nhu đề nghị của ông Phạm Văn Đồng trao đổi thương mại giữa miền Bắc và miền Nam. Ông Nhu trả lời là những đề nghị đó hiện còn quá sớm để thực hiện, nhưng sau này có thể được xem xét. Theo ông Maneli thì trong buổi gặp gỡ, ông Nhu cũng ám chỉ là trong tương lai, ông muốn miền Nam không quá lệ thuộc vào viện trợ củaMỹ.

Những người thân cận của ông Nhu cũng nói đến một (hay nhiều) cuộc gặp gỡ bí mật giữa ông Ngô Đình Nhu và ông Phạm Hùng là nhân vật cao cấp trong Đảng CộngSản.

Ngày 6 tháng 9-1963, theo lệnh của Đại sứ Mỹ Cabot Lodge, nhân viên CIA của Mỹ đến gặp ông Nhu trong hai tiếng đồng hồ vào buổi chiều. Ông Nhu cho biết ông Maneli tình nguyện làm môi giới giữa hai miền Nam Bắc nhưng ông Nhu từ chối. Ông cũng xác nhận có những gặp gỡ với những người cộng sản trong Nam, mục đích của ông là để tách họ ra khỏi cộng sản miền Bắc. Theo ông Nhu thì chỉ có thể thương thuyết với miền Bắc nếu thắng được du kích trong Nam.

(10) Ngày 26 tháng 4-1960, nhóm « Caravelle » cho phổ biến một lời kêu gọi dân chủ hóa chế độ, với chữ ký của 18 người trong đó có Lê Ngọc Chấn, Trần Văn Văn, Trần Văn Đỗ, Trần Văn Tuyên, Trần Văn Lý, Trần Văn Hương, Nguyễn Lưu Viên, Huỳnh Kim Hữu, Phan Huy Quát, Nguyễn Tăng Nguyên, Nguyễn Tiến Hỷ, Lê Quang Luật, Phạm Hữu Chương, Tạ Chương Phùng, Trần Lê Chất, Lương Trọng Tường, Linh mục Hồ Văn Vui.

Gọi là nhóm Caravelle vì lời kêu gọi được phổ biến cho báo chí trong khách sạn Caravelle đường Tự Do. 

(11) Cuộc đảo chính ngày 11 tháng 11-1960 do một số sĩ quan đơn vị nhảy dù tổ chức, với Đại tá Nguyễn Chánh Thi là khuôn mặt nổi. Thật ra hai người đầu não tổ chức là Trung tá Vương Văn Đông và Nguyễn Triệu Hồng, ông Thi chỉ tham gia vào phút cuối trước khi cuộc đảo chính diễnta.

Cuộc đảo chính thất bại và các sĩ quan tổ chức phải trốn chạy và sống lưu vong ở Cam-Bốt cho đến năm 1963 khi cuộc đảo chính của các tướng lãnh thành công.