Cha danh - 29. Một cuộc sống mới (Phạm Ngọc Lân)

Lượt xem: 703

‘…Chàng thanh niên mới lớn rất hăng hái trong cuộc sống mới, không những học Dược mà còn tìm cách học thêm chứng chỉ Toán Lý Hóa bên đại học Khoa học (MPC = Maths, Physique, Chimie) vì nhất định muốn học « cái gì mình thích »…’

trungtam_daclo_ngaynay

Long cảm thấy tim mình đập nhanh hơn. Chàng cầm cây dù của Thu che cho hai người chạy từ phòng họp qua ngôi nhà lớn là nơi có phòng bào chế của bệnh viện Grall, nơi sinh viên tập sự. Chạy qua cái sân rộng, trời mưa to, cái dù nhỏ, hai người phải nép sát vào nhau, cánh tay cầm dù của Long chạm vào vai Thu qua nhịp chạy của hai người. Cử chỉ đơn giản, nhưng hai làn da đụng nhau qua lớp vải mỏng làm chàng trai mới lớn cảm thấy như có một luồng điện chạy qua toàn thân, và tim đập dồn dập…

Quả thật chàng trai 18 tuổi này, cho tới nay chỉ có bạn học là con trai, sống trong nội trú cũng toàn con trai, nay bỗng nhiên mỗi ngày học và làm việc trong một lớp đa số là phái nữ. Mỗi buổi sáng là công việc bào chế thuốc trong dược phòng của bệnh viện Grall dưới sự hướng dẫn của hai người phụ tá của ông dược sĩ trưởng phòng. Buổi chiều chỉ phải đến khi có học lý thuyết. Làm công việc bào chế, có những việc đơn giản cũng tương tự như làm bếp, chỉ khác là phải cân đo liều lượng thật chính xác vì đấy là những thuốc dùng trong các trại bệnh, không phải chỉ bào chế để học mà thôi. Và vì vậy nên các sinh viên tập sự phải trao đổi và làm việc chung với nhau trong bầu không khí thân mật chẳng khác gì trong một gia đình.

Trong bối cảnh có 17 cô con gái mà chỉ có 3 thằng con trai, « cán cân lực lượng » thấy rõ ngả về bên nào rồi. Long dĩ nhiên bị lép vế, hơn nữa chàng nhỏ tuổi nhất trong đám, nên đối với các bạn nữ sinh viên, chàng chỉ là đứa em út trong nhà. Mà thật vậy, mọi người đều có cảm tình với anh chàng vừa nhút nhát, nhưng cũng vừa sẵn sàng giúp đỡ mọi người khi cần. Đặc biệt là khi phải đụng đến môn toán thì Long thật hữu ích, giảng giải cặn kẽ cho các bạn khi có điều gì khó hiểu; thí dụ nói về pH mà không có căn bản để hiểu rõ logarit thì cũng khó! Vả lại nhiều người thắc mắc tại sao một anh chàng có tú tài toán mà theo học ngành dược?

Long cũng đủ sáng suốt để biết địa vị « em út » của mình trong lớp học, nhưng chàng cũng không thể cưỡng lại được những rung động của con tim lần đầu biết thế nào là sống thực. Ở tuổi của chàng, được tiếp xúc hằng ngày với phái nữ, làm sao tránh khỏi tình cảm nảy nở, dù chỉ là tình cảm một chiều ! Và người mà Long cảm thấy tim đập loạn xạ mỗi khi nói chuyện chính là Thu, với dáng điệu mảnh dẻ của người con gái Việt Nam, và với giọng nói dịu dàng của cô gái Huế. Thu là một trong vài sinh viên trước đây là nữ sinh trường Couvent des Oiseaux, trong khi đa số các bạn khác đều học trường Marie Curie (1). Có lẽ Thu cũng đoán được anh chàng này có cảm tình đặc biệt với mình, nhưng vẫn giữ được vẻ tự nhiên của « kẻ cả ». Vì thế chẳng ngại ngùng khi thấy trời mưa to mà Long không có dù, tình nguyện cho mượn dù để cùng nhau chạy qua sân nước bắn tung tóe!

Long cũng được mọi người chú ý vì chàng không giống ai ở điểm… chàng là Tây lai. Chú ý chỉ vì chàng có diện mạo khác mọi người, không phải vì có cái gì hay hơn hay đặc biệt hơn người khác. Sau này, suốt bao nhiêu năm học ở đại học, có thể nói đây là điều làm cho Long vui buồn lẫn lộn. Tại sao mình lại phải « được » hay « bị » người khác chú ý? Và Long cũng nhận ra một điều là suốt trong những năm dài đại học, Long chỉ biết có một bạn khác cũng có diện mạo lai Pháp như mình. Mà con lai Pháp thời đó ở Việt Nam đâu có ít ! Chứng tỏ những trẻ con lai rất ít có điều kiện để học hành lên đến đại học…

Trong thời gian tập sự ở bệnh viện Grall, có một điểm hiển nhiên là Long khác biệt hẳn với mọi người, không liên quan gì đến chuyện dòng máu Pháp cả. Đó là việc chàng là người duy nhất đi xe đạp. Chàng cũng là người duy nhất ăn mặc xuề xòa, lúc nào cũng vài cái quần kaki thay đổi, vài cái áo sơ mi cộc tay may lấy chẳng giống ai. Nhưng Long chẳng phiền lòng gì về hoàn cảnh của mình, vì đã từ lâu khi còn ở trung học sống nội trú chàng đã như thế, luôn là đứa trẻ con nhà nghèo sống giữa các bạn khác gia đình sung túc hơn, nên quen rồi.

Long đạp xe từ đường Trần Quang Diệu xuống đến nhà thương Grall cũng khá xa, khi trời nóng thì mồ hôi ướt hết áo. Căn nhà chàng ở trọ cũng do Sư huynh Antonin – người thầy đã hướng dẫn Long học Dược khoa – giới thiệu. Đây là nhà của một người cháu của Sư huynh, chú Th. là một quân nhân làm việc ở Tổng Tham Mưu, có vợ và 6 con, đứa lớn nhất 8 tuổi, đứa nhỏ nhất 1 tuổi. Ngay từ đầu Long đã nghĩ đến chuyện sống trong một cư xá sinh viên, và có người bạn đã mách nước để xin vào cư xá Đắc Lộ của cácchadòngTênởđườngYênĐổ.ThờiđóởSàiGònnamsinhviêncócưxáMinhMạngcủachính phủ, và hai cư xá tư nhân được biết nhiều nhất là cư xá Phục Hưng của các linh mục dòng Đa Minh và cư xá Đắc Lộ ; nữ sinh viên có cư xá Trần Quý Cáp của chính phủ và cư xá Thanh Quan của một dòng nữ tu Công giáo. Nhưng ông thầy cũ đang lo mọi việc cho Long không muốn, ông nói « Con sống lâu ngày nội trú ở Đà Lạt trong một môi trường bảo vệ cho con về đạo đức, nay con được thả ra về sống ở Sài Gòn, vào cư xá nếu gặp bạn bè xấu con sẽ dễ dàng hư hỏng. Con nên sống trong một gia đình đạo đức như gia đình chú Th. là tốt hơn. »

Gia đình chú Th. đạo đức thật, chỉ có cái là chú rất độc tài với thím. Nhưng Long cũng nghĩ chuyện gia đình người ta, mình đâu có ăn đời ở kiếp đâu mà lo cho mệt xác, chỉ nghĩ thương cho người đàn bà an phận suốt ngày lo cho chồng và 6 đứa con mà chẳng dám hó hé tiếng nào với chồng khi có chuyện không vừa ý. Cùng với Long có một sinh viên khác cũng do Sư huynh Antonin giới thiệu. Anh này gốc người Nùng, chất phác và dễ thương vô cùng, học văn khoa, sau này mất liên lạc, Long tiếc mãi một người bạn tốt.

Nhà của chú Th. mới xây ở mặt tiền đường Trần Quang Diệu nối dài. Năm 1962 có đường Trương Tấn Bửu cắt ngang đường Ngô Đình Khôi và đường Trương Minh Giảng, đến gần Trương Minh Giảng đổi tên là Trần Quang Diệu, và qua bên kia Trương Minh Giảng có tên là « Trần Quang Diệu nối dài ». Khúc nối dài này hồi đó chỉ có vài trăm mét là hết đường vì bắt đầu là xóm sình lầy chung quanh con kênh Nhiêu Lộc (2) chảy qua cầu Trương Minh Giảng, thời đó nổi tiếng là hôi thối vì bùn lầy nước đọng và bao nhiêu gia đình phải sống tạm bợ trên những nhà sàn ởđấy.

Nhà xây đàng hoàng, trông bề ngoài khang trang, nền nhà lót gạch bông, có lầu nhưng không phải « lầu đúc » mà chỉ lót ván, mái tôn không có trần. Long và anh bạn sống trên lầu, thật ra chỉ dùng để đêm có chỗ ngủ, vì ban ngày nóng không chịu nổi. Ban ngày Long đi học hoặc đi dạy, đến thư viện hoặc chơi thể thao ở sân Phan Đình Phùng, đến nhà bạn học chung hoặc đi lang thang đâu đó…

Khu nhà này mới mở nên có nước máy nhưng là nước câu từ một nhà hàng xóm, có điện nhưng cũng là điện câu. Những nhà hiếm hoi có đồng hồ điện hay đồng hồ nước (chắc là phải quen biết lớn !) là có thêm lợi tức vì cho hàng xóm câu điện, câu nước. Nước câu thì phải có thùng phuy chứa vì không phải lúc nào vòi nước cũng chảy. Thường là ban đêm phải canh để hứng nước cho đầy thùng phuy dùng trong ngày. Điện câu thì phải có cái « xuyệc-vôn-tơ » (survolteur = máy tăng điện thế) nếu không thì ngọn đèn 100 watts cũng chỉ sáng như đèn dầu là cùng. Nhà nào cũng phải có cái máy đó, mà cái máy này thì cũng hao điện như mọi thứ khác, nên có cái nghịch lý mà không ai giải quyết được : vì điện yếu nên cần survolteur, nhưng chỉ hữu hiệu nếu nhà mình có survolteur mà chung quanh hàng xóm không ai có, như vậy nhà mình sẽ có điện mạnh hơn và các nhà chung quanh bị yếu đi. Nhưng vì trong 10 nhà, có 10 cái survolteurs thì điện vốn đã yếu lại càng yếu hơn nữa, vì phải dùng để chạy 10 cái survolteurs đó, bằng chứng là cái máy nóng lên chứng tỏ là hao điện, dù là bên trong chỉ là những cuộn dây đồng!

Có vài nhà « chơi bạo » hơn người, lấy hai sợi dây điện cứng leo lên nóc nhà móc vào hai sợi dây điện đường. Đã có lần báo đăng có người bị điện giật chết vì đứng trên mái tôn lúc trời mới tạnh mưa, loay hoay móc sợi dây điện mới bị sút ra.

Nhưng « nét đặc thù » đáng nói nhất của khu nhà này là không có nhà vệ sinh riêng. Hồi đó muốn có phải đào hầm cầu, mà nhà ở đây không có chỗ nào để đào, và nếu có cũng không đào được vì ngày xưa là đầm lầy. Nhưng có cầu tiêu công cộng trong xóm sình phía trong, và Long lại có dịp khám phá ra một phát minh của người mình đi trước nhân loại trong việc « chế biến chất thải », « gọn, nhẹ, không phung phí ! » Đó là một cái sàn gỗ dài có những lỗ thủng, có mái tôn che mưa, có ván ngăn các lỗ thủng với nhau tạo thành một dãy cầu tiêu, khi có gió thì cũng mát. Cái sàn gỗ nằm trên những cái cọc cắm xuống một cái ao người ta đào để nuôi cá tra. Khi đến mùa tát nước bắt cá đem bán thì nhà cầu phải đóng cửa cả tuần lễ trước để cá tiêu hóa hết thức ăn trong bụng trước khi mang ra chợ. Cá tra nổi tiếng là béo ngậy, nhưng Long chưa dám thưởng thức bao giờ!

Long đã từng được « đi rừng » khi sống trong khu gia binh sau biệt điện của Bảo Đại ở Đà Lạt, đã  từng được « đi đồng » giữa những cây khoai mì lớn rợp bóng mát ở Phù Cát, nên cũng chẳng ngại ngùng gì khi phải «đi cầu cá tra » ở xóm sình lầy vùng kênh Nhiêu Lộc. Nhưng cái mà Long không quen là bên phải bên trái mình đều có người chỉ cách tấm ván ngăn « cho có lệ »… Cho nên trong 5 tháng sống ởđấy, chàng chỉ đến đó rất ít lần, trong những trường hợp « tối khẩn cấp ». Cũng may là ở nơi làm việc, ở trường, ở thư viện, nơi nào cũng có những tiện nghi tối thiểu.

Sau 5 tháng ở trọ trên gác lầu của căn nhà đường Trần Quang Diệu nối dài, dù có cảm tình với gia đình hai vợ chồng chú thím Th. và 6 đứa con, Long cũng dứt khoát quyết định xin vào cư xá Đắc Lộ ở số 161 đường Yên Đổ. Đây là một cư xá mới khánh thành năm 1960 của các linh mục công giáo dòng Tên (3) (Jésuites). Từ thế kỷ 17 đã có các linh mục dòng này sang Việt Nam truyền giáo, sau đó dòng bị Giáo hoàng giải tán. Khi dòng được tái lập, các linh mục dòng Tên không trở lại Việt Nam nhưng phát triển mạnh bên Tàu, cho đến năm 1949 khi Mao Trạch Đông làm chủ lục địa, các linh mục dòng Tên bị trục xuất phân tán ra các nước chung quanh, và cuối cùng trở lại Việt Nam sau mấy trăm năm vắng bóng. Tại Sài Gòn, dòng Tên có một khu đất đường Yên Đổ một phần làm tu viện cho các linh mục sinh sống, một phần làm một thư viện với phòng đọc sách và phòng học, và một phần là cư xá sinh viên Đắc Lộ.

Giám đốc cư xá là linh mục Henri Forest, người Canada, trước kia cũng làm việc ở Trung Quốc và bị cộng sản trục xuất. Ông giỏi tiếng Hoa, nhưng không biết tiếng Việt, cũng không có giờ học tiếng Việt có lẽ vì đã lớn tuổi, nên trong cư xá phải dùng tiếng Pháp để đối thoại với linh mục giám đốc. Và vì vậy nên đa số các sinh viên trú ngụ ở đây đều xuất thân từ các trường Pháp ra.

Long phải nhờ Sư huynh Camille là Thầy Hiệu trưởng trường Adran trong 6 năm cuối Long học tại đấy viết một lá thư giới thiệu kèm với đơn xin. Sư huynh biết rõ Long nên giới thiệu rất nhiệt tình. Nhưng quan trọng không phải là thư giới thiệu, dù bắt buộc phải có, mà là cuộc gặp gỡ riêng với linh mục Giám đốc. Phải làm sao để thuyết phục được cha Forest (có tiếng là khó tính) rằng mình sẽ là một thành phần tốt trong cưxá.

Số chỗ giới hạn có hơn 60, mà mỗi năm cả trăm cái đơn xin vào, nên không phải chuyện dễ. Hơn nữa, sinh viên đã được nhận vào đầu năm học lúc tháng 9 năm 1962, nhưng khi Long xin đã là tháng giêng năm 1963. Vì vậy nên Long rất mừng và càng tin vào « quý nhân phù trợ » khi được nhận vào cư xá Đắc Lộ ngày mùng 2 Tết Quý Mão (4) 1963. Cùng với Long có một bạn khác sinh viên y khoa, cả hai được nhận vào giữa niên khóa đại học vì có hai sinh viên mới ra khỏi cư xá vì được xuấtngoại.

Từ khi vào cư xá Long có điều kiện vật chất học hành dễ dàng hơn. Sau 6 tháng tập sự ở bệnh viện Grall chàng qua kỳ thi cuối tập sự một cách dễ dàng và bắt đầu học lý thuyết tại Đại học Dược khoa lúc đó nằm ở trong một cái vi-la có đất rất rộng giữa đường Công Lý, Hiền Vương và Lê QuýĐôn (5).

Chàng thanh niên mới lớn rất hăng hái trong cuộc sống mới, không những học Dược mà còn tìm cách học thêm chứng chỉ Toán Lý Hóa bên đại học Khoa học (MPC = Maths, Physique, Chimie) vì nhất định muốn học « cái gì mình thích ». Chàng cũng thường xuyên đến sân vận động Phan Đình Phưng tập dượt trong đội tuyển bóng rổ của Viện Đại học Sài Gòn. Và quan trọng hơn cả, chàng đi dạy kèm toán lý hóa tại tư gia để có tiền trang trải chi phí ăn ở, và để dành tiền, tính mua chiếc xe gắn máy thay cho chiếc xe đạp hiện tại. Thời đó những sinh viên dạy kèm toán lý hóa cho học sinh các lớp 10, 11 và 12 của chương trình Pháp rất có giá, vì lý do đơn giản là… hiếm ! Muốn dạy như thế chính mình đã phải học chương trình Pháp, mà sinh viên học ban Toán như Long phần đông đã đi Pháp sau khi đậu tú tài. Vì vậy Long kiếm tiền khá dễ dàng, thường là dạy một nhóm 3, 4 đứa bạn với nhau để chia tiền học.

Lần đầu tiên trong đời, chàng cảm thấy mình sống tự lập vì đã tự túc được về tài chánh, không còn phải nương tựa vào gia đình và học bổng của các Sư huynh, mà ngược lại còn giúp đỡ được gia đình chút ít.

Long từ từ lao mình một cách tự nhiên vào cuộc sống bận rộn của cư dân một thành phố lớn. Sau này nghĩ lại thấy chóng mặt vì không biết trong một ngày chỉ có 24 tiếng mà sao chạy xuôi chạy ngược làm nhiều thứ như thế mà không biết mệt. Nhưng dù bận rộn đến đâu, lâu lâu chàng cũng được hưởng vài khoảnh khắc êm đềm trong những lần hiếm hoi chàng đến nhà thăm Thu vào chiều chủ nhật. Có một lần Thu lấy đàn tranh ra chơi cho chàng nghe. Thu nói tất cả các bạn cô đều học piano, chỉ có cô học đàn tranh, Long có thấy như vậy rồi chê cô không ? Không, chê sao được khi chàng được người bạn gái ngồi chơi đàn tranh cho một mình mình nghe ! Tim chàng đập mạnh, muốn nói mà chẳng ra lời, chỉ nói thầm trong lòng là bản nhạc đàn tranh Thu vừa chơi cũng đẹp như đôi mắt nhung huyền của người chơi đàn.

Cuối năm đó, Thu qua Pháp du học và Long không khi nào gặp lại đôi mắt nhung huyền ấy nữa.

(còn tiếp)

Phạm Ngọc Lân

Cha vô danh – Chuyện kể cuộc đời một người Việt lai Pháp

 

 

Ghi chú:

 

(1) Trường Couvent des Oiseaux của dòng các bà mẹ Visitandines de Saint Augustin, ở Sài Gòn có tên là Regina Mundi, ở Đà Lạt  có  tên  là  Notre  Dame  du  Langbian,  nhưng  thường  gọi  là  Couvent  des  Oiseaux.  Nữ  sinh  được  các  chàng  gọi  là

« Couventine ». Trường Marie Curie là trường nữ trung học công lập của Pháp ở Sài Gòn.

(2) Xóm sình ngày xưa nay đã thành khu phố bình thường. Đường Trần Quang Diệu « nối dài » ngày xưa, nay tiếp tục mở thêm xuống phía nam, băng qua con kênh Nhiêu Lộc. Đường Trương Tấn Bửu nay là Trần Huy Liệu, đường Trương Minh Giảng nay là Lê Văn Sỹ, đường Ngô Đình Khôi (là đường Công Lý nối dài lên Tân Sơn Nhứt sau cầu Công Lý) sau cuộc đảo chính 1963 đổi thành Cách Mạng 1-11. Từ năm 1975 đổi thành Nam Kỳ Khởi Nghĩa, đến năm 1985 đổi tên là Nguyễn Văn Trỗi.chàng chỉ đến đó rất ít lần, trong những trường hợp « tối khẩn cấp ». Cũng may là ở nơi làm việc, ở trường, ở thư viện, nơi nào cũng có những tiện nghi tối thiểu.

(3) Francis X. Winters là một nhà sử học người Mỹ, tác giả cuốn sách « The year of the hare. America in Vietnam, January 25, 1963 – February 15, 1964 » (Athens & London, University of Georgia Press, 1997) kể lại các biến cố chính trị xảy ra tại Việt Nam trong năm Quý Mão 1963. “Hare” là con thỏ rừng. Tại sao năm Con Mèo lại thành năm Con Thỏ Rừng ? Tại vì tác giả dùng âm lịch của Trung Hoa, tưởng là âm lịch Việt Nam cũng thế. Ông không biết là có hai con giáp khác nhau trong hai lịch. Con thỏ của Trung Hoa qua Việt Nam thành con mèo, và con bò thành contrâu.

(4) Đắc Lộ là tên của linh mục Alexandre de Rhodes được phiên âm ra tiếng Việt. Ông thuộc dòng Tên, sinh ra ở Avignon miền nam nước Pháp. Trong mấy kỳ đến truyền giáo ở Việt Nam vào nửa đầu của thế kỷ 17, ông học nói tiếng Việt, và dựa vào công trình của các giáo sĩ người Bồ Đào Nha đến trước, ông soạn ra chữ quốc ngữ dựa vào mẫu tự la-tinh mà ta dùng ngày nay, thay thế cho chữ Nôm là cách viết rất rắc rối dựa vào chữ Hán. Ông không phải là người đầu tiên phiên âm tiếng Việt ra chữ quốc ngữ, nhưng là người đầu tiên soạn bộ từ điển xuất bản năm 1651 có tên la-tinh là Dictionnarium annamiticum, lusitanum et latinum (Từ điển Việt BồLa).

Trung tâm Đắc Lộ được xây cất năm 1959, gồm nhà ở của các linh mục, một thư viện, một cư xá sinh viên, một nhà nguyện. Sau này thêm một trung tâm truyền hình giáo dục. Sau biến cố 1975, chính quyền cộng sản trục xuất các linh mục ngoại quốc trong đó có linh mục Henri Forest giám đốc cư xá sinh viên, tịch thu trung tâm chỉ để lại nhà nguyện và nhà ở của các linh mục Việt Nam. Cuối năm 1980, các linh mục Việt Nam này bị bắt và trung tâm hoàn toàn đóng cửa. Sau đó trung tâm trở thành tòa soạn bào Tuổi Trẻ.

Dòng Tên (tiếng la-tinh là Societas Jesu, nên các linh mục dòng này có ký hiệu s.j. sau tên của mình) do Ignace de Loyola và thánh François Xavier thành lập năm 1539 tại Paris, và được Giáo hoàng Paul III chính thức nhìn nhận năm 1540. Dòng bị Giáo hoàng Clément XIV giải tán năm 1773, và tái sinh năm 1814 theo quyết định của Giáo hoàng Pie VII. Các linh mục dòng Tên nổi tiếng là những người học rộng, tổ chức ngành giáo dục thanh thiếu niên với những trường trung học và đại học danh tiếng, và hoạt động tích cực trong tòa thánh Vatican. Năm 2013, lần đầu tiên một vị giám mục dòng Tên người Argentina được bầu làm Giáo hoàng lấy tên là François (tên ông thánh sáng lập dòng Tên).

Các linh mục dòng Tên có mặt tại Việt Nam từ thế kỷ 17, trong đó có linh mục Đắc Lộ. Khi dòng bị giải tán năm 1773, ở Việt Nam không còn linh mục dòng Tên nữa. Khi dòng tái sinh năm 1814, các linh mục dòng Tên trở về truyền giáo ở Trung Quốc nhưng không trở lại Việt Nam. Năm 1949, Mao Trạch Đông thắng thế ở lục địa Trung Hoa, trục xuất các linh mục dòng Tên, phần đông phải đến Hồng Kông, Ma Cao và Đài Loan. Năm 1957, dòng Tên trở lại Việt Nam theo lời mời của Giám mục Ngô Đình Thục là anh của Tổng thống Ngô Đình Diệm. Ngoài trung tâm Đắc Lộ ở Sài Gòn, dòng Tên cũng lập ra một Đại Chủng viện ở Đà Lạt lấy tên là Giáo hoàng Học viện Thánh Piô X.

(5) Bây giờ là Nhà Văn hóa Thiếu nhi Thành phố.