Cha danh - 26. Xe lửa bò, máy bay bể bánh (Phạm Ngọc Lân)

Lượt xem: 949

‘…Đó là lần đầu trong đời – và cũng là lần cuối cùng – Long trải qua một đêm trong một khách sạn với hai cô gái không quen biết - và cũng sẽ không bao giờ quen biết - nhờ máy bay bể bánh!...’

Suốt thời gian hơn 5 năm sống nội trú ở trường Adran Đà Lạt, Long về nhà một năm hai lần, vào dịp Tết và lúc nghỉ hè.

Thời đó trường của Pháp và các trường dạy theo chương trình Pháp học giống như bên Pháp, niên học chia làm ba tam cá nguyệt. Tam cá nguyệt đầu tiên từ ngày tựu trường đến nghỉ lễ Giáng Sinh và Tết tây, thứ hai từ đầu năm dương lịch đến nghỉ lễ Phục Sinh vào đầu tháng tư, và cuối cùng từ sau lễ Phục Sinh đến nghỉ hè. Nhưng ở Việt Nam, các trường này phải thêm một kỳ nghỉ nữa cũng hai tuần, đó là nghỉ Tết, chia tam cá nguyệt thứ hai ra làm hai đoạn.

Vào nội trú tại trường Adran đúng vào tam cá nguyệt thứ ba niên khóa 1956-57, lúc đó Long học lớp 5ème (tương đương với lớp đệ ngũ ngày xưa hay lớp 7 bây giờ). Thêm hai năm nữa là hết bậc trung học đệ nhất cấp, thi bằng BEPC (Brevet d’Etudes du Premier Cycle, bằng tốt nghiệp trung học đệ nhất cấp), được tổ chức chung cho tất cả các trường theo học chương trình Pháp. Học trò các trường ở Đà Lạt phải đến trường Lycée Yersin (còn gọi là Grand Lycée) (1) là trường trung học công lập của Pháp để thi. Thi viết xong còn phải thi vấn đáp. Thi cầu kỳ như thế mà cái bằng chỉ có « cho vui » thôi, vì dù không đậu cũng vẫn có thể học tiếp bậc trung học đệ nhị cấp, không như bằng tú tài, không đậu thỉ không học tiếp lên đại học được. Vì vậy mà chỉ vài năm sau bỏ bằng BEPC, vì tổ chức thi đã tốn kém mà chẳng ích lợi gì.

Bình thường ra thì học xong bậc trung học đệ nhất cấp, trường Adran hết lớp, học sinh phải qua trường khác học, ở Đà Lạt thì qua Lycée Yersin. Nhưng đúng năm Long học xong thì trường Adran mở thêm bậc đệ nhị cấp nên Long tiếp tục học Adran cho tới thi tú tài II năm 1962. Long còn nhớ rất rõ năm đầu tiên có đệ nhị cấp, lớp Seconde (đệ tam, lớp 10) chỉ có 11 học sinh, trong đó đã có đến 5 « thầy dòng con » rồi. Đó là những thanh niên còn trong thời gian tu hành để trở thành Sư huynh, đã qua giai đoạn nhà tập nên đã mặc áo dòng. 6 thằng con trai mới lớn học chung với 5 « chuẩn sư huynh », không phải chuyện thông thường, có lẽ chỉ trường Adran vào thời điểm đó mới có. Và dĩ nhiên những lớp sau đó cho đến tú tài cũng vậy, học sinh học chung với thầy dòng con. Long có liên hệ rất tốt với những chuẩn sư huynh này, có người sau này không tiếp tục đường tu hành nữa, có người nắm giữ chức vụ quan trọng trong các trường Lasan. Một vài người trở thành bạn thân sau này gặp lại.

Qua hai niên khóa sau, số học sinh các lớp đệ nhị cấp tăng lên nhanh chóng, kể cả học sinh nội trú. Nhưng phải đợi đến niên khóa 1961-62 khi Long học lớp Terminale (lớp đệ nhất, 12) mới có hình chụp chung cả lớp để lưu niệm, và phải qua những năm sau nữa mới in cuốn kỷ yếu (palmarès) như trường Lasan Taberd ở Sài Gòn.

phamngoclan23
Trường Adran, lớp Terminales (lớp đệ nhất, 12) niên khóa 1961-62 (không đày đủ).Tân, Hoa, Sơn, Khải, Thãn, Phát, Ngọc, Thược, Linh, Lân, Trung, Quý, Huỳnh, Phúc, Trung, Hiển, Tôn, Phong

phamngoclan_adran_6162
Trường Adran niên khóa 1961-62. Học sinh nội trú bốn lớp 3ème, 2nde, 1ère, Terminales

Trở lại chuyện học sinh nội trú về nhà mỗi năm bốn lần, riêng Long chỉ về hai lần. Trong hai kỳ nghỉ vào dịp Giáng Sinh và Phục Sinh, Long phải ở lại trường. Cũng may không phải chỉ có Long mà thường có khoảng mươi đứa khác, nhỏ tuổi hơn Long nhiều, cũng không về nhà được nên trường có tổ chức ăn uống cho nhóm nhỏ này. Gia đình mấy đứa này đang đi xa hoặc bận bịu sao đó không đón con về được. Riêng Long thì lý do rất đơn giản : mỗi lần về tốn tiền tàu xe, đối với gia đình Long không phải là món tiền nhỏ, nên Long không về, thế thôi.

Riêng trong dịp nghỉ Phục Sinh năm 1959, thay vì ở lại trường, Long được đi trại ở Nha Trang do hội Thanh Sinh Công trong các trường Lasan tổ chức. Trại viên đến từ các trường Lasan Taberd Sài Gòn, Mossard Thủ Đức, Pellerin Huế, Adran Đà Lạt, v.v… quy tụ trên đồi Lasan phía Hòn Chồng của Nha Trang. Ngọn đồi này có hai nhà tu của dòng Phan-xi-cô và dòng Lasan, đêm lễ Phục Sinh do linh mục Bertin của dòng Phan-xi-cô làm chủ tế, với nghi thức đặc biệt làm « phép lửa» ngoài trời trước khi vào trong nhà thờ, với tiếng hát lễ thánh thiện của các chủng sinh vang cả một góc đồi. Trại còn tổ chức đi chơi đảo Hòn Tre, và xa hơn nữa đi tới biển Đại Lãnh với bãi cát trắng tinh nổi tiếng đẹp ở chân Đèo Cả. Và cũng được xem những đống muối chất thành núi ở Hòn Khói, nơi sản xuất muối biển quy mô lớn.

phamngoclan_bietthu_thanhtam
Biệt thự Thánh Tâm Đà Lạt. Mấy ngày tĩnh tâm với linh mục Gagnon (dòng Chúa Cứu Thế). Hình chụp ngày 20-2-1961. Ngô Văn Hải, Phạm Ngọc Lân, Nguyễn Như Hải, Nguyễn Ngọc Thành, Đỗ Đức Hiển, Đặng Đức Tôn, Huỳnh Kim Chung

Khi ở lại trường trong những kỳ nghỉ Giáng Sinh và Phục Sinh như thế, Long có dịp làm quen với rất nhiều Sư huynh của dòng Lasan từ các nơi về đây nghỉ, vì khí hậu Đà Lạt là nơi lý tưởng cho mọi người đến nghỉ mát. Và vì Long lớn hơn những đứa trẻ khác ở lại trường lúc ấy, nên cuối cùng rất nhiều Sư huynh các nơi khác biết Long, thật ra là biết tên Jean Martin ở trường Adran. Ngược lại, Long không nhớ được tất cả các Sư huynh đến đây nghỉ dưỡng, vì nhiều quá !

Nhưng còn nghỉ hè thì dĩ nhiên phải về nhà hai tháng rưỡi, và nghỉ Tết thì dù thế nào chăng nữa cũng không thể không có mặt cùng với gia đình trong những ngày thiêng liêng nhất trong truyền thống dân tộc.

Ngoại trừ lần đầu được bà ngoại lên Đà Lạt đón về bằng xe đò, những lần sau Long đi một mình và đi xe lửa. Sau hai năm ở Phù Cát, đơn vị của ông Quy cha dượng Long đổi ra Quy Nhơn, và hai năm sau nữa đổi lên Kontum. Ở Kontum phải đi bằng máy bay, vì tuy Đà Lạt và Kontum đều nằm trên cao nguyên, nhưng nếu theo đường bộ thì phải xuống duyên hải, đi dọc bờ biển khá xa rồi mới đi ngược trở lên cao nguyên. Còn ở Phù Cát và Quy Nhơn, Long đi xe lửa. Cũng có một lần đi máy bay khi đã dọn ra Quy Nhơn, và lần đó Long sẽ nhớ suốt đời.

Ga Đà Lạt là một ga nhỏ, nhưng được xem là nhà ga có kiến trúc đẹp nhất của Đông Dương thời Pháp thuộc (cũng như trường Yersin được liệt vào hạng một công trình kiến trúc độc đáo nhất của Pháp thời đó). Đầu máy xe lửa ở đây nhỏ xíu, chạy bằng hơi nước, nước được đun bằng củi đựng trong một cái toa nhỏ kéo sau đầu máy. Sau đó có ba toa chở hành khách, mỗi toa cũng rất ngắn vì đường núi vòng qua vòng lại nhiều, không thể dùng toa dài bình thường được. Đặc biệt hai đầu của toa có chỗ đứng ngắm cảnh cũng là chỗ có bậc thang leo lên leo xuống.

phamngoclan_gadalat
Ga Đà Lạt 1993

daumay_xelua_gadalat
Đầu máy xe lửa đậu ở ga Đà Lạt 1993

Long luôn luôn lấy chuyến xe lửa buổi chiều, khoảng 6 giờ. Rất ít khách đi chuyến này, nên Long có thể thoải mái đi từ toa này qua toa kia, muốn ngồi chỗ nào cũng được. Nhưng thích nhất vẫn là đứng ngoài đầu toa cuối cùng để ngắm cảnh, hai tay chống vào lan can bằng sắt. Cảnh vật rừng núi thật hùng vĩ, gặp đêm trăng thì không những hùng vĩ mà còn thêm huyền ảo… Đặc biệt là khi qua đèo Ngoạn Mục, hết cái hầm ngắn lại đến cái cầu bắc qua thung lũng sâu thẳm, dưới đáy lấp lánh dòng suối bạc dưới ánh

trăng. Con tàu đi thật chậm làm như cố ý cho Long có thì giờ thả hồn vào thiên nhiên bao la bát ngát đẹp mê hồn này (2)

Có những chỗ độ dốc lớn quá, đường sắt phải lắp thêm một đường thứ ba ở giữa hai đường rầy, có răng cưa (crémaillère) để móc vào một bánh xe răng cưa gắn ở đầu máy. Khi đến đoạn đường này, đoàn tàu vốn đã chậm còn phải chậm hẳn lại để cái bánh răng cưa móc vào đường răng cưa một cách êm thắm. Những lúc đó, Long chỉ muốn nghịch ngợm nhấc thanh sắt chặn đường xuống bậc thang ra, nhảy ra khỏi tàu, chạy theo con tàu một đoạn rồi lại nhảy lên lại, chắc chắn không có gì khó khăn. Nhưng muốn là muốn vậy thôi, chứ có khi nào dám thực hiện ý tưởng ngông cuồng đó đâu !

Hết đèo Ngoạn Mục xuống đến đồng bằng, đoàn tàu chạy đến ga Tháp Chàm khoảng 10 giờ đêm. Đây là một ga lớn, cũng là ngã ba đường từ Đà Lạt xuống gặp đường từ Sài Gòn ra. Long phải xuống đây và chờ ở ga đến 1 giờ sáng thì có chuyến xe lửa từ Sài Gòn đi ra Nha Trang và Quy Nhơn. Đây là chuyến tàu với đầu máy chạy dầu, với cả chục toa dài chở hành khách, chưa kể vài toa chở đồ đạc. Một đoàn tàu

«thứ thiệt » nghiến đường sắt hùng dũng lao vào đêm đen, chứ không phải mấy cái toa ngắn chủn hì hục mồ hôi mồ kê nhễ nhại trèo đèo băng suối trên cao nguyên !

Nhưng cũng không còn cái hứng thú đứng ngắm cảnh ở đuôi đoàn tàu nữa. Thứ nhất là ở đầu toa loại này không có chỗ đứng ở ngoài như các loại toa ngắn đi chậm. Thứ hai là đoàn tàu này đông khách, nhất là vào dịp Tết, không có chỗ chen chân, nói gì đến chỗ ngồi hay chỗ… ngắm cảnh ! Nhưng chuyện gì cũng có ngoại lệ, một lần Long được tha hồ ngắm các tháp Chàm trên đường từ Tháp Chàm đến Nha Trang trong những điều kiện hi hữu.

Lần đó vào giai đoạn Tết 59 hay 60, 61 gì đó, tàu Sài Gòn ra không còn đi đêm được nữa vì bắt đầu mất an ninh, nên lúc đến Tháp Chàm đã là buổi sáng. Khi đoàn tàu từ từ tiến vào ga, Long đã thấy hỡi ôi vì đông nghẹt người. Dịp Tết ai đi xa cũng về quê hoặc về gia đình ăn Tết, số lượng hành khách tăng lên gấp bội, sở Hỏa xa cũng như các phương tiện giao thông khác không đủ phương tiện đáp ứng nhu cầu.

Hành khách đứng tràn ra đến cửa toa, không thể đóng lại được nữa. Long hoảng quá, làm sao về Quy Nhơn được đây ? Sau chỉ một phút chần chừ, Long phải làm như mọi người, nhào tới leo lên bậc thang ở cửa để cố chen vào, vai đeo cái túi xách nhỏ. Những người nhanh chân nhất đã lên được đến cửa dù không vào trong được nữa, sau đó có người phải đứng trên bậc thang, tay nắm cái thanh sắt gắn bên thành toa. Long cố chen lên, nhưng chỉ còn chỗ cho một chân trên bậc thang, mà cũng chưa được nguyên bàn chân ! Chân kia lơ lửng trong không trung, một tay bám chặt thanh sắt. Tha hồ hóng gió mát, tha hồ ngắm cảnh! Cũng may mà tàu không chạy nhanh vì nguy hiểm quá, tất cả các cửa toa đều có chùm người đeo như thế…

Dù vậy, Long vẫn thích đi xe lửa hơn là đi máy bay, và có một kỷ niệm khó quên về máy bay khi gia đình đã dọn ra ở Quy Nhơn.

Từ Phù Cát ra Quy Nhơn nghĩa là từ quê ra tỉnh. Gọi là tỉnh, nhưng trong những năm 59, 60, thành phố Quy Nhơn chưa phát triển như sau này khi có quân đội Mỹ qua. Và cũng không thể so sánh với thành phố Đà Lạt thơ mộng được.

Gia đình Long thuê căn nhà mặt tiền đường Tăng Bạt Hổ, xế bên kia đường là trường bà sơ, rất tiện cho mấy đứa em Long đi học. Đường Tăng Bạt Hổ tuy nằm trong trung tâm thành phố (con đường chính là đường Gia Long, song song là Phan Bội Châu rồi đến Tăng Bạt Hổ), vậy mà căn nhà thuê này không có nước máy, nhưng trong sân sau có một cái giếng. Giếng này cũng rất khác giếng ở Phù Cát, hẹp hơn nhưng sâu hơn nhiều, vách xây bằng đá ong, trên miệng có xây thành đàng hoàng, chung quanh tráng xi-măng.

Đặc biệt nhất là có một cây nho leo lên một cái giàn nhỏ ngay bên cạnh giếng. Long đã thấy trong sách vở hình ảnh vườn nho bao la bát ngát bên Pháp, được trồng để làm rượu, đâu có thấy giàn gì đâu ! Sau mới biết là nho làm rượu người ta gọt tỉa cho thành những cây thấp ngay hàng thẳng lối để dễ hái trái nho, nếu để mọc tự nhiên thì nó leo lung tung. Và cho tới khi sống trong căn nhà này Long vẫn tưởng Việt Nam không trồng được nho vì phong thổ và khí hậu không thích hợp, không ngờ cái nhà này lại có một cây. Giàn nho này có trái đàng hoàng, nhưng… chua ơi là chua !

Ông Quy là người Bắc, nhưng rất mê cải lương. Ở đây có điện nên ông nghe đài Sài Gòn với cái radio Philips mang theo từ Đà Lạt. Hồi mua ông nhất định phải mua loại Philips Hòa Lan mới tốt, Philips Pháp không bằng, Long vẫn chưa hiểu sao cùng một hãng chế tạo ở hai nước đều tân tiến như nhau mà lại phân biệt như thế ! Mỗi tối thứ bảy có trực tiếp truyền thanh một tuồng cải lương từ một rạp hát nào đó ở Sài Gòn là ông Quy bắc thêm một cái loa ngoài hàng ba nhà, dân chúng chung quanh đến ngồi nghe chật cả hàng ba, tiếng vỗ tay vang rền mỗi khi nghe Út Bạch Lan hay Hữu Phước xuống xề để bắt đầu một đoạn vọng cổ mùi mẫn… Đúng là một món giải trí thật đơn giản và thật lành mạnh của giới bình dân thời bấy giờ.

Quy Nhơn có một rạp hát cũng dùng làm rạp xi-nê. Mỗi tuần đổi phim mới vào ngày thứ bảy, trước đó hai ngày liền có một chiếc xe hơi nhỏ treo hai tấm bảng quảng cáo hai bên, chạy qua các đường phố, trong xe có một người đánh trống tùng tùng, và tiếng loa quảng cáo inh ỏi phim sắp chiếu cuối tuần, lâu lâu ngừng lại chỗ đông người để phát tờ chương trình, thật ra là tờ quảng cáo. Đây là một cảnh lạ mắt đối với Long vì ở Đà Lạt không biết có quảng cáo phim kiểu này hay không, dù có chăng nữa Long cũng chưa có dịp thấy tận mắt.

Mùa hè ở Quy Nhơn cũng nóng không thua gì Phù Cát, nhưng nhờ thành phố ngay bờ biển nên khi có gió biển thì đỡ hơn một chút. Ban đêm có nhiều người ở nhà nóng quá phải ra biển ngủ, họ mang chiếu ra trải trên bãi biển có trồng nhiều phi lao. Nhưng dù trời nóng Long cũng lấy xe đạp đi thăm thú quanh vùng, các đường chính trên phố như Gia Long, Cường Để, con đường dọc theo bờ biển, đi về phía nam đến ghềnh Ráng…

Có một lần Long không nhớ rõ vì lý do gì, Long không đi xe lửa mà đi máy bay từ Đà Lạt về Quy Nhơn. Hãng Air Viet Nam thời đó có nhiều máy bay cánh quạt trước kia dùng trong đệ nhị thế chiến, loại DC3 hai máy (còn gọi là Dakota) và DC4 bốn máy. Đường bay Đà Lạt Quy Nhơn dùng máy bay DC3 và đáp xuống Ban Mê Thuột, Pleiku và Kontum trên cao nguyên trước khi đến Quy Nhơn ngoài duyên hải. Máy bay DC3 có đặc tính là khi đậu thì nghiêng hẳn về phía sau, vì hai bánh trước to cao, sau đuôi chỉ có một bánh nhỏ xíu. Vì vậy khi hành khách lên máy bay bằng cửa phía sau, phải vịn tay vào thành ghế để “leo lên” phía trước nếu ghế của mình ở phía trước.

Chỉ cần bước qua cửa máy bay là Long đã bắt đầu cảm thấy khó chịu rồi. Khi máy bay chạy trên phi đạo của sân bay Liên Khương (hồi đó còn gọi là Liên Khàng) cách Đà Lạt 30 cây số, và nhấc đuôi lên trước khi nhấc cả thân lên để cất cánh là ruột gan Long bắt đầu lộn tùng phèo, và chỉ qua vài cái « lỗ hổng không khí » (trou d’air) nữa là những gì trong bao tử bắt đầu tràn ra ngoài ! Khổ nhất là những lúc máy bay hạ cánh và cất cánh vì áp suất không đồng đều trong vùng rừng núi, nên máy bay nhồi lên nhồi xuống kinh khủng. Mà Long phải chịu đựng cảnh hạ cánh xuống Ban Mê Thuột, rồi lại cất cánh để hạ cánh xuống Pleiku, rồi cất cánh bay đi Kontum chỉ cách đó chưa đầy 50 cây số.

Cô chiêu đãi viên đến hỏi thăm chăm sóc tận tình cho Long nhưng cũng chẳng làm được gì cho đỡ bị say sóng. Long ngồi cạnh một nữ sinh mặc đồng phục xanh của trường Couvent des Oiseaux, trông lớn tuổi hơn Long, chắc cô này cũng ái ngại cho anh chàng trông khỏe mạnh mà sao mặt mày xanh mét…

Khi máy bay bắt đầu hạ thấp để đáp xuống sân bay Kontum(3) thì Long đã không còn gì trong dạ dầy, và bụng bắt đầu đau quặn thắt. Vậy mà vẫn giật mình khi máy bay chạm đất ở phi trường Kontum, vì ngay sau đó máy bay bị xóc lên giống như xe hơi chạy nhanh trên ổ gà. Mọi người chưa có thì giờ hoàng sợ thì may quá, máy bay đã ngưng lại ở giữa phi đạo, rồi tắt máy đứng yên tại chỗ. Và phi công cho biết là rất tiếc máy bay đã bị bể bánh lúc đáp xuống, nhưng xin hành khách yên tâm, kiên nhẫn chờ sẽ có xe buýt ra đón vào nhà ga.

Và rồi xe buýt đến đón hành khách tận chân máy bay, và mọi người được dịp ngắm cảnh một bánh máy bay rất lớn phía trước bị xẹp lép trông thật thiểu não ! Long quên cả tình trạng say sóng của mình, nhìn chăm chú vào cảnh tượng có một không hai này, không tưởng tượng được là bánh máy bay có thể bể ! Nhưng rồi nghĩ lại, bánh xe đạp bể được, tại sao bánh máy bay lại không có quyền bể ?

Lúc đó đã xế chiều, phải đợi đến sáng mai mới mang cái bánh máy bay khác đến thay, nên những hành khách chỉ ghé Kontum như Long phải ngủ lại đêm ở đấy đợi hôm sau đi tiếp đến Quy Nhơn, vì không có máy bay nào khác trên tuyến đường hẻo lánh này cả. Kontum thời đó là một thành phố cao nguyên nhỏ xíu, chỉ có một đường phố chính và một khách sạn duy nhứt. Khách sạn không đủ phòng cho mọi người,

phải chấp nhận ở chung phòng. Đêm đó, Long ngủ chung phòng với cô chiêu đãi viên hàng không và cô nữ sinh trường Couvent des Oiseaux. Đó là lần đầu trong đời – và cũng là lần cuối cùng – Long trải qua một đêm trong một khách sạn với hai cô gái không quen biết - và cũng sẽ không bao giờ quen biết - nhờ máy bay bể bánh!

(Còn tiếp)

Phạm Ngọc Lân

Cha vô danh – Chuyện kể cuộc đời một người Việt lai Pháp

Ghi chú:

(1) Đà Lạt thời đó có Petit Lycée (bậc tiểu học) và Grand Lycée (bậc trung học). Hiện nay « lycée » được định nghĩa là trường có 3 cấp lớp cuối của bậc trung học (Seconde, Première, Terminale) tương đương với trường trung học phổ thông ở Việt Nam. Nhưng thời thế kỷ 19 qua đầu thế kỷ 20, bên Pháp có những trường « petit lycée » dành cho các học sinh (thường là thuộc thành phần ưu đãi trong xã hội) học để lên lycée học tiếp đến tú tài (phân biệt với « école primaire », học xong thi bằng tiểu học). Những trường này bị bãi bỏ từ sau đệ nhị thế chiến, và chỉ còn lại trường tiểu học cho tất cả học sinh, nhưng nhiều trường vẫn giữ tên cũ, điển hình là trường Petit Lycée ở Đà Lạt.

(2) Nhà ga Đà Lạt và các chuyến xe lửa này phải ngưng hoạt động vào cuối thập niên 60 vì chiến tranh. Hơn 40 năm sau, có dự án khôi phục một đoạn đường sắt với một đoàn tàu nhỏ cho du khách đi du ngoạn, giống như nhiều nơi bên Âu Châu, điển hình là « le petit train jaune » (đoàn tàu nhỏ màu vàng) trên núi Pyrénées (biên giới Pháp và Tây Ban Nha) đi từ Prades đếnFont-Romeu.

(3) Năm 2007, Long trở lại thăm Kontum, thành phố đã phát triển lớn hơn trước nhiều, nhưng riêng phi trường Kontum không còn nữa, lúc đó dân chúng phơi sắn (khoai mì) trên phi đạo.