Cha danh - 25. Cóc Phù Cát (Phạm Ngọc Lân)

Lượt xem: 842

‘…Long suy nghĩ thêm tại sao ông bà mình ngày xưa lại nói “Con cóc là cậu ông Trời…”, và càng khâm phục khả năng kỳ diệu của loài vật biết định hướng để tìm về chốn cũ…’

vinhhoi_phucat
Vĩnh Hội, Phú Cát

Nghỉ hè 1957, lần đầu tiên Long trở về nhà trong cuộc đời nội trú của mình. “Trở về” không đúng hẳn vì trước đó Long đã ở Phù Cát (1) bao giờ đâu! Nhưng vẫn là trở về, theo nghĩa là về với mái ấm gia đình.

Bà ngoại của Long đích thân từ Phù Cát lên Đà Lạt đón cháu. Thật tình mà nói thì ở tuổi 13, một thằng con trai bình thường cũng có thể xoay xở đi một mình được, nhưng Long được bà và mẹ lo lắng quá sức, sợ con cháu mình bị “bơ vơ giữa chợ đời đen bạc” nên bà ngoại mò lên tận nơi đón cháu về cho chắc ăn!

Hai bà cháu đi xe đò Đà Lạt – Nha Trang, qua Cầu Đất, xuống đèo Đơn Dương đến thị xã Đơn Dương (thời Pháp có tên là D’ran) trước khi đổ dốc đèo Ngoạn Mục (Bellevue) để xuống đến đồng bằng ở Krông Pha. Lúc đó chưa có đập nước Đa Nhim, chưa có hai ống dẫn nước từ trên núi xuống nhà máy thủy điện ở đồng bằng. Đèo Đơn Dương tương đối ngắn, khoảng 5 cây số, còn đèo Ngoạn Mục ngoằn ngoèo trên 20 cây số. Và đúng với cái tên của nó, đèo Ngoạn Mục quả thật đẹp. Nhưng Long cũng chẳng để ý gì đến vẻ đẹp hùng vĩ của thiên nhiên, vì xe đò bắt đầu vòng qua vòng lại trong đèo là ruột gan cũng bắt đầu lộn tùng phèo trong bụng. Long bị cái bệnh bẩm sinh “say sóng” hoành hành, dù chỉ là xe đò, chưa nói gì đến máy bay hay tàu thủy!

Con đường từ chân đèo đi thẳng đến Tháp Chàm và Phan Rang, sau đó quẹo trái theo quốc lộ 1 dọc theo bờ biển về hướng bắc để đến Nha Trang. Đến nơi đã xế chiều, hai bà cháu tìm đến nhà một người cháu của ông Phó sinh sống ở đây từ thời bà ngoại với ông Phó lưu lạc từ bên Lào và Xiêm về. Bà ngoại vẫn kể là hai ông bà phải qua xứ người tìm cách làm ăn, nhưng rồi thất bại đành quay về lại Việt Nam. Đến Nha Trang hai ông bà định ở lại đấy, bà ngoại xoay ra làm bánh dày bánh giò đem đi bán, nhưng rồi cũng không sống nổi lại phải bỏ Nha Trang vào Sài Gòn, may mà ở đấy tìm được công ăn việc làm nên cuộc sống ổn định được một thời gian trước khi quay trở về quê cũ ngoài Bắc.

Hai vợ chồng người cháu ông Phó ở đây cỡ tuổi với mẹ của Long, nhưng thằng bé 13 tuổi phải gọi bằng anh chị vì vai vế sao đó Long không rõ, chỉ biết là người ta lớn mà mình gọi bằng anh, bằng chị ngượng miệng quá! Không biết bà ngoại thân tình thế nào ngày xưa mà được anh chị này đón tiếp rất ân cần, cơm nước thịnh soạn.

Qua sáng hôm sau lại ra bến xe đò lấy vé đi Quy Nhơn. Lần đầu tiên Long đi qua những vùng đất quê hương này, nên rất chăm chú nhìn phong cảnh và nhớ những tên lạ như đèo Rù Rì khi vừa ra khỏi Nha Trang về phía bắc, hay đèo Cù Mông trước khi đến Quy Nhơn. Và những thị xã có tên quen thuộc hơn như Ninh Hòa (xe đò ghé lại ăn nem), Tuy Hòa cát trắng, Sông Cầu nổi tiếng dừa ngon… Phong cảnh dọc theo bờ biển thật nên thơ, lần đầu Long thấy nhiều cây dừa như thế.

Đến Quy Nhơn trời đã tối, ở đây không có ai là bà con cho mình tá túc nên hai bà cháu ăn qua loa ngay bến xe rồi thuê ghế bố có cái màn (mùng) ngủ tại bến luôn. Long còn một hình ảnh in sâu trong ký ức: đêm đó có lúc thức dậy đi tiểu phải ra cái bãi phía sau bến xe, trời tối đen như mực nhưng không xa lắm lại có nguyên một vùng trắng mờ ảo, trông rất ma quái, không biết là cái gì. Chắc vì vậy nên cứ nhớ mãi hình ảnh đó, tuy chẳng có gì quan trọng cả. Sáng ra, hai bà cháu trở lại đó xem thì ra là mặt nước của một con sông rất rộng vì đã chảy đến sát cửa biển.

Phù Cát chỉ cách Quy Nhơn hơn 30 cây số về phía bắc, hai bà cháu leo lên một chiếc xe đò nhỏ chỉ chạy loanh quanh trên đoạn đường này. Gọi là xe chở khách cũng không đúng, mà xe chở hàng cũng không phải. Loại xe thùng, phía sau có hai hàng ghế dài theo hai bên hông, ở giữa là khoảng trống để chất hàng hóa thúng mủng của khách, phần đông là những bà đi buôn bán quanh đấy. Xe chạy một lúc lại ngừng cho khách lên xuống, chẳng cần bến gì cả, ngoại trừ ở Đập Đá, một quận khá lớn nằm khoảng nửa đường đến Phù Cát. Vì vậy mà phải mất gần 2 tiếng đồng hồ để đi hơn 30 cây số. Nếu tính theo đường chim bay thì từ Đà Lạt đến Phù Cát chưa tới 300 cây số, vậy mà bà ngoại và Long phải đi hai ngày hai đêm mới tới nơi! Tình trạng giao thông trong vùng này cuối thập niên 50 là như vậy.

Cuối cùng thì chiếc xe cà rịch cà tàng ngừng lại bên lề quốc lộ 1 dưới một bóng dừa. Chẳng phải bến đậu xe, chỉ là bà ngoại Long la to cho ông tài xế nghe để ông tấp vào lề. Hai bà cháu mới bước xuống đã nghe tiếng reo to từ xa phía trong “Anh Long về!” thế là cả đám em chạy ra xúm xít, mẹ của Long cũng theo ra. Chỉ có ông Quy đang đi làm không có nhà. Lại có một màn nước mắt của mẹ… Long không hiểu sao lúc chia tay cũng khóc, mới xa con có ba tháng, bây giờ con về, cũng khóc!

Từ ngoài đường phải đi qua sân của người chủ đất cho thuê mới đến sân nhà mình. Long vui mừng thấy khu đất rộng rãi, căn nhà mái lá vách đất còn mới trông cũng khang trang. Quanh nhà chỉ có hai hàng xóm là nhà của bà chủ đất sát quốc lộ, và một căn nhà khác trên một khu đất rộng phía sau. Chung quanh toàn ruộng sắn (khoai mì) trên đất cát khô, ngoại trừ phía trước nhà có một ruộng lúa có nước. Miếng đất ông Quy thuê để cất nhà trước kia cũng là ruộng sắn nên không có cây cối gì cả, trong khi hai nhà hàng xóm có nhiều cây dừa rợp mát. Phải nói là bóng mát rất quan trọng ở vùng này, vì trời nắng nhiều hơn mưa, khí hậu khô và nóng, và khi có gió Lào từ đất liền thổi về phía biển thì lại càng nóng dữ hơn.

Căn nhà không lớn lắm, nhưng ba bề chung quanh nhà làm thêm một hàng ba rộng, có mái lá, không có vách nhưng được che mưa nắng bằng những tấm phên bằng tre đan, treo sát dưới mái. Bình thường trời nắng thì phên được chống lên nên càng thấy cái nhà rộng hơn, ban đêm hoặc khi mưa mới hạ phên xuống. Hàng ba chung quanh nhà có lẽ còn quan trọng cho cuộc sống hằng ngày hơn trong nhà, ở đấy có mắc bốn cái võng để nằm nghỉ và ngủ trưa. Ngoài ra còn hai cái chõng tre, vừa dùng làm nơi ngồi ăn quanh cái mâm đồng to, vừa để nằm nghỉ. Và không thể thiếu một bộ “xa-lông” gồm bốn cái ghế bành và một cái bản tròn, tất cả bằng tre đan trông cũng khá tươm tất.

Lần đầu tiên Long được nhìn tận mắt thế nào là nhà vách đất, thế nào là mái nhà tranh, thế nào là cái chõng tre. Mái nhà gọi là “tranh” nhưng thật ra ở vùng này dùng lá dừa hay lá cọ, trong khi vùng khác dùng rơm rạ hay cỏ tranh được “đánh” thành từng tấm buộc vào kèo bằng tre. Sườn nhà là những cây gỗ chỉ to hơn cổ tay lấy trong rừng trên dãy Trường sơn, nhưng rất chắc. Vách nhìn bề ngoài cũng nhẵn nhụi như tô xi-măng nhưng thật ra chỉ là đất mịn trét lên một cái vách đất bên trong, vách này làm bằng đất bùn trộn với rơm đắp lên cái khung bằng tre đan. Cửa ra vào, cửa sổ cũng bằng tre. Nền nhà là đất nện. Mẹ của Long rất kỹ trong việc giữ gìn sách sẽ, nền nhà lúc nào cũng quét sạch bằng cái chổi xể, có khi phải vẩy nước trước khi quét cho khỏi bụi.

Tất cả nhà toàn làm bằng vật liệu tự nhiên như đất, tre và lá nên khi bước vào nhà, Long cảm thấy mát dịu rất dễ chịu, tuy ngoài trời đang nắng nóng.

Chõng tre thì có khung bằng cây tre già tròn, phía trên có nhiều thanh ngang cũng bằng tre, trên đó trải một tấm làm bằng những thanh tre nhỏ và dài được buộc lại ghép sát vào nhau thành một tấm cuộn lại được. Trên tấm tre này có khi trải thêm chiếc chiếu nằm cho êm hơn, nhưng không cần thiết. Ở Đà Lạt Long nằm nệm quen rồi, nên tưởng tượng nằm cái chõng tre này chắc đau lưng lắm. Nhưng chỉ qua vài ngày nằm quen rồi Long mới thấy là mặt chõng không đến nỗi cứng như mình tưởng, mà ngược lại, rất tốt cho cơ thể.

Điện không có, dùng đèn dầu, đèn dầu nhỏ xíu (gọi là đèn Hoa Kỳ) (2), đèn dầu loại vừa, loại lớn, thêm cái đèn bão cũng dùng dầu lửa, rất hữu ích khi cần xách ra ngoài vì gió thổi không tắt. Ngoài ra, ông Quy còn sắm được cái đèn “măng-sông” sáng rực, ban đêm treo ngoài sân, phía dưới để thau nước, vừa sáng cả cái sân mọi người bắc ghế ra ngồi hóng mát trước cửa nhà, vừa là một cách để diệt đủ thứ côn trùng bay quanh ngọn đèn rồi nhào xuống chậu nước vì thấy ánh đèn phản chiếu vào đấy. Cái đèn măng-sông này chỉ một mình ông Quy thắp thôi, vì ông nói đèn này phải cẩn thận kẻo nguy hiểm. Phải bơm cho hơi dầu lửa bốc lên, sau đó phải biết cách châm lửa thật khéo, sơ ý đụng vào cái măng-sông (tiếng Pháp là manchon) nó sẽ rách ngay, vì qua lần đốt đầu tiên, nó đã cháy thành tro nhưng vẫn giữ nguyên hình dáng một cái ống nhỏ chụp xuống. Chính cái tro đó sáng lên khi được đốt tới một nhiệt độ nào đó. Cái “măng-sông” nếu cẩn thận dùng được rất lâu, mỗi lần phải thay mua cái mới khá đắt tiền.

Không có điện để chạy cái radio mang theo từ Đà Lạt, nhưng cha dượng của Long thích nghe nhạc nên ông sắm cái máy quay đĩa bằng dây thiều, đĩa dày và nặng loại 78 “tua”. Cái đầu thật to có cắm cây kim, hạ cái đầu xuống cho kim chạy trên mấy cái lằn trên đĩa hát, đĩa quay được là nhờ có dây thiều (còn gọi là dây coóc). Đơn sơ như thế, không có điện gì cả, vậy mà sao vẫn phát ra tiếng ca cải lương mùi mẫn của Út Bách Lan, hay là tiếng hát “Ông lái đò” của Hùng Cường, thật là kỳ diệu! Cứ vài bài lại phải thay kim, hà tiện không thay kim luôn thì đầu kim cùn, làm cho đĩa mau bị rè…

Trong hơn hai tháng nghỉ hè, Long có một cuộc sống khác hẳn với cuộc sống nội trú trong trường ở Đà Lạt. Đây là cuộc sống của người dân quê, ít nữa cũng là một phần cuộc sống thật của dân địa phương, vì dù sao gia đình Long cũng đã trải qua những tiện nghi của cuộc sống thành thị. Từ khi Long 4 tuổi, cậu bé sống ở Hà Nội rồi Sài Gòn rồi Đà Lạt. Tuy có sống mấy năm ở quê ngoại là làng Hà Hồi và ở nơi tản cư là Phú Thọ và Phúc Yên, nhưng Long còn bé quá không nhớ gì, chỉ nghe người lớn kể lại thôi. Bây giờ 13 tuổi, chàng trai mới lớn cảm nhận được thế nào là cuộc sống của đa số dân quê Việt Nam. Đối với chàng, sống ở đây là một cách “nghỉ hè” thật sự, theo nghĩa là sống theo một lối khác, như người đi nghỉ hè ngoài biển hay trên núi. Từ trước đến nay, “nghỉ hè” đối với Long chỉ là không đến trường nữa, nhiều giờ rảnh ở nhà chơi, chứ có khi nào đi đâu ra khỏi nhà để biết đến một cách sống khác đâu!

Bây giờ sống trong nhà tranh vách đất, ngủ trưa trên võng, đêm ngủ chõng tre, ăn cơm cũng trên chõng tre, ngồi xếp bằng chung quanh cái mâm đồng, lúc đầu Long thấy rất lạ nhưng chỉ vài ngày là quen dần. Trong sân có đào một giếng nước cách nhà độ mươi thước, giếng mới đào khi cất nhà, không xây, và lạ lùng là xứ khô cằn mà chỉ 4 thước đã có mạch nước rất dồi dào. Trên giếng còn cất một cái chòi mái tranh che mưa nắng. Long lãnh nhiệm vụ mỗi ngày xách nước từ giếng cung cấp cho nhà bếp và nhà tắm. Hai cái thùng sắt tây vuông 20 lít (thùng dầu lửa cũ) có đóng cái thanh ngang bằng gỗ để xách, hai tay hai thùng như thế, một cách tập tạ không cần tạ! Long cũng muốn thử gánh nước như mấy người gánh thuê trong các xóm bình dân ở Sài Gòn, xếp hàng ở vòi nước công cộng rồi gánh về các nhà tư nhân. Nhà Long cũng có đòn gánh và hai cái móc bằng sắt thay cho đôi quang dùng để móc vào tay xách của thùng. Phải thử rồi mới biết là không phải dễ, thứ nhất là phải bước đúng nhịp nhún nhảy của đòn gánh, thứ hai là phải thời gian lâu da của vai mới chai lại, lúc đầu da bị đòn gánh cọ vào xây xước ra, đau lắm. Cho nên chỉ thử vài lần cho biết, Long quay trở lại lối xách “tập tạ” mỗi tay một thùng.

Gầu để kéo nước giếng cũng đặc biệt, không phải là một thùng sắt tây nhỏ như sau này Long thấy dùng ở các nơi khác, mà là đan bằng tre, có miệng tròn với một thanh ngang để buộc dây kéo nước, nhưng thành của gầu nhỏ dần để hóp lại phía dưới, không có đáy bằng. Đặc biệt là có một lớp dầu ráii trét lên tre đan, vừa bảo vệ tre, vừa bịt hết các khe làm cho gầu giữ nước không bị rò rỉ. Loại gầu này rất nhẹ so với thùng sắt tây, đỡ phí sức khi kéo nước, nhưng cũng có cái bất tiện là thả xuống mặt giếng nó nổi trên mặt, phải giật dây khéo léo cho nước tràn vào gầu. Vì vậy cái gầu nhà Long dùng có buộc thêm ở một đầu thanh ngang một cái khóa bấm đồng cũ, đầu đó nặng hơn nên khi xuống đến mặt giếng chiếc gầu sẽ chìm đầu đó xuống để nước vào dễ dàng.

Nước xách từ giếng vào đổ trong mấy cái “ang” bằng đất nung chứa nước trong bếp và nhà tắm. Ở vùng này gọi là “ang” cũng như vùng khác gọi là chum, là vại… Long học được nhiều tiếng địa phương lạ tai, và dần dần cũng quen với giọng nói của người Bình Định.

Và để sống “đúng kiểu” thì ở đây không có nhà vệ sinh như ở thành thị, mà có ruộng khoai mì bao la bát ngát, sẵn sàng nhận mọi loại phân bón thiên nhiên! Long đã từng nghe bà và mẹ nói “đi đồng” ở quê ngoài Bắc, nhưng vẫn thắc mắc là ruộng khoai mì khô ráo thì đã đành, nhưng ruộng lúa có nước thỉ làm sao? Thắc mắc mà không hỏi nên vẫn hoàn thắc mắc! Dù sao gia đình Long cũng làm một cái “chòi vệ sinh” trên một gò mối cách khá xa nhà. Gọi là “chòi” vì nó đơn giản là một cái chòi mái lá vách phên, cửa cũng phên, bên trong có hai tấm ván bắc trên một cái hố. Vùng này nhiều gò mối, ngày xưa là tổ của loại mối đất, lâu ngày thành một cái gò đất cứng và cao hơn chung quanh, không trồng trọt gì được. Nhưng Long bất đắc dĩ lắm mới dùng cái chòi này, “đi đồng” vẫn gần gũi thiên nhiên hơn…

Long sống trong khung cảnh đó trong 4 lần về, hai lần vào dịp Tết được nghỉ hai tuần, và hai lần vào dịp hè được nghỉ 2 tháng rưỡi. Lần đầu chỉ có chiếc xe đạp bé xíu từ thời còn ở khu khách sạn Việt Nam, Long nâng cái yên và tay lái lên cao hết cỡ, đạp xe đi khám phá làng xóm chung quanh bằng những con đường mòn quanh ruộng khoai mì. Các xóm nhà có cây dừa, ngoài đường có cây gòn, người ta dùng bông gòn làm gối, làm nệm, nếu trái gòn chín trên cây mà không hái thì nó bung ra cả triệu hạt có lông nhẹ bay khắp vùng. Ở đây người ta không sống quy tụ gần nhau thành những thôn lớn như ở ngoài Bắc, mà chỉ vài cái nhà gần nhau thôi. Khi Long đạp xe qua các xóm nhà này, bọn con nít gọi nhau chạy ra xem chuyện lạ, một thằng mặt Tây lai (ở vùng này chắc chưa đứa nào thấy trẻ con lai) cưỡi một chiếc xe đạp có bánh nhỏ xíu, mấy đứa la to với giọng Bình Định “bi lớn mà cỡi xe bi to!” (lớn vậy mà cưỡi xe chỉ to có chừng đó).

Long để ý thấy trong vùng rất ít đàn ông thanh niên, sau này mới biết là thời kỳ trước 1954 vùng này và các vùng chung quanh đều do Việt Minh kiểm soát, nên sau hiệp định Genève rất đông trai tráng trong hàng ngũ Việt Minh tập kết ra Bắc. Trong hai nhà hàng xóm của Long, bà chủ nhà sống trong căn nhà gần quốc lộ gọi là Dì Năm không chồng con gì cả, sống với bà mẹ già. Rất có thể chồng dì Năm cũng tập kết ra Bắc, nhưng không ai hỏi nên cũng chẳng biết. Lúc ra đi tập kết, ai cũng nghĩ hai năm sau sẽ trở về đoàn tụ khi có tổng tuyển cử. Nhà phía sau là một trường hợp đặc biệt vì cả hai vợ chồng trẻ vẫn ở đấy với hai đứa con thơ. Chồng tính tình hiền lành, làm ruộng lúa có nước trước mặt nhà gia đình Long. Lần đầu trong đời Long chứng kiến cảnh cày bừa bằng bò (không thấy trâu trong vùng này), nhớ mãi anh chồng điều khiển bò bằng những tiếng “ha! ha!” chẳng biết làm sao mà con bò hiểu, hay thật!

Dầu rái là nhựa lấy từ cây dầu rái (Dipterocarpus alatus, Dipterocarpaceae) một cây cao 40-50 mét mọc trong rừng. Nhựa dùng quét lên tàu thuyền để che chở lớp gỗ bên ngoài chịu đựng nắng mưa và nước mặn, rất tốt.

Dì Năm có nghề làm nón lá, gọi là “chằm nón”. Phải dùng cái khuôn làm bằng những thanh gỗ nối với nhau trên đỉnh nón, trên các thanh này có đường rãnh để đặt các vòng nhỏ xíu bằng tre vuốt tròn, sau đó đặt lá lên và may lá vào các vòng tre. Long qua ngồi xem Dì Năm may mà phục quá, phục cái khéo léo đã đành, mà phục hơn nữa là tính kiên nhẫn, không biết bao lâu mới may xong một cái nón mà bỏ mối cho những con buôn chẳng được bao nhiêu tiền.

Dì Năm còn có một tài khác hiếm có và làm cho Long càng phúc lăn: dì hát rất hay, không phải hát tân nhạc, cũng không phải hát cải lương, mà là một điệu nhạc riêng của vùng Bình Định nghe cũng mê như cải lương nhưng cũng khác với cải lương miền Nam. Điệu hát này Long nghe nói là hát “bài chòi”. Một lần vào dịp Tết, Long dẫn các em ra một bãi trống không xa nhà lắm xem người ta chơi bài chòi. Trong bãi có nhiều cái chòi được dựng lên, giống như chòi canh ruộng. Người chơi leo lên cái thang nhỏ ngồi trên đó. Có người rút quân bài và xướng lên là quân gì, nhưng xướng theo kiểu “hát bài chòi” có bài bản đàng hoàng tùy theo quân bài rút ra là quân gì, có cả ban nhạc cổ truyền phụ họa nghe rất vui tai. Long nghĩ đến kiểu chơi “Loto” của tây phương, nhưng chơi loto đâu có mục hát hay như bài chòi!

Dì Năm cũng hát kiểu đó, và có vài lần Long được nghe dì hát với mấy người nhạc sĩ đến chơi vào buổi tối. Long chắc chắn trước đây dì phải là ca sĩ trong một đoàn ca hát chuyên nghiệp mới hát hay và đúng nhịp phách như thế.

Hàng quà ở đây không có như trong thành phố, dĩ nhiên, nhưng cũng có một món đặc biệt mà Long rất thích, đó là mạch nha. Có những người bán dạo mạch nha đựng trong lon, đến mời tận nhà. Nghe nói đây là mạch nha nổi tiếng mang từ Quảng Ngãi vào. Long bắt đầu quen với những địa danh trong vùng, từ Đập Đá đến Phù Cát rối lên Phù Mỹ, Bồng Sơn, Tam Quan, Quảng Ngãi, tuy chưa được đến những nơi này bao giờ, nhưng các địa danh đó vẫn tiềm ẩn đâu đó trong ký ức tuổi thơ của mình.

Điều làm cậu bé 13 tuổi ngạc nhiên nhất là nếu có 10 lon sữa bò (lon không, dĩ nhiên) còn sạch sẽ là đổi được một lon mạch nha, khỏi phải mua. Không ngờ ở thời buổi đó và ở địa phương đó, cái lon lại quý đến thế! Vì đối với Long, mạch nha màu óng ả như mật, quấn vào que tre mút ngọt dịu, phải bao nhiêu công trình mới làm ra được từ mầm lúa, vậy mà chỉ tương đương với 10 cái lon, loại lon con nít ở Đà Lạt vẫn dùng để chơi đá lon!

Có một hàng rong khác Long cũng không thấy ở thành phố, đó là ông bán chiếu dạo. Chiếu được xếp lại cẩn thận làm hai bó để đứng, ông bán chiếu có cây đòn đặc biệt xỏ vào hai bó chiếu hai đầu và gánh đi rao bán. Người bán chiếu mang tiếng là người bán hàng nói thách hạng nhất, không ai bằng, không biết lời đồn đại này có đúng không! Ở Việt Nam thời đó ai chẳng nói thách, mua bán phải mặc cả là chuyện bình thường, không những bình thường mà còn “bắt buộc” là đằng khác!

Một kỷ niệm khác với Long là những chuyến xe lửa xuyên Việt đầu tiên chạy qua đường sắt song song với quốc lộ 1, cách quốc lộ khoảng vài trăm thước. Đứng trong nhà thấy rất rõ khi có xe lửa chạy qua vì đường rầy được đắp cao hơn ruộng chung quanh, và không có nhà cửa cây cối gì che lấp cả. Mỗi ngày có vài chuyến tàu ngắn, đầu máy chạy hơi nước nhỏ kéo theo năm ba cái toa cũng nhỏ. Phải chờ đến năm 1959 mới khánh thành đường sắt từ Sài Gòn đến Đông Hà, được tu bổ lại vì trong thời chiến tranh trước 1954, đoạn từ Quy Nhơn về phía bắc bị đứt đoạn từng khúc. Đoàn tàu gọi là “xuyên Việt” này có đầu máy Diesel chạy dầu kéo theo hơn chục cái toa. Đầu máy và toa đều dài chứ không ngẳn chủn như mấy cái tàu “chợ” vẫn thấy trước đó. Tất cả nhà Long đổ ra sân xem đoàn xe lửa chạy qua, cả con nít ở trong làng xa quốc lộ cũng chạy ra xem đoàn xe lửa mới này. Đứa nào cũng cố đếm xem có bao nhiêu toa tất cả, sau đó cãi nhau inh ỏi vì đứa nói có 13 toa, đứa nói 12, đứa nói 16… “Đếm toa xe lửa”, thật là trò giải trí ngây ngô và lành mạnh chẳng khi nào còn thấy trong các xã hội tân tiến nữa.

Lần đầu tiên về gia đình ở Phù Cát, Long chỉ có chiếc xe đạp nhỏ xíu, là một món đồ chơi mang theo từ Đà Lạt, nhưng về sau ông Quy sắm chiếc xe đạp lớn bình thường, nên Long có dịp đi chơi xa hơn. Dọc quốc lộ 1 cách 5 cây số về phía bắc có một cái cầu bắc qua con sông nhỏi, ngay sau đó có một cái chợ họp ngay hai bên quốc lộ. Cứ năm ngày lại có một “chợ phiên” họp, tính ngày theo âm lịch. Thí dụ mùng 1, mùng 6, 11, 16 v.v… Tháng thiếu chỉ có 29 ngày thì cuối tháng bốn ngày đã họp lại, thay vì năm. Chợ phiên chỉ họp ở những làng tương đối lớn, người bán hàng đến từ các địa phương trong vùng, không phải chỉ là người trong làng mà thôi. Các làng tổ chức để thay phiên nhau họp chợ phiên, làng này họp mùng 1 thì là kia họp mùng 2, làng nọ mùng 3, v.v… và cứ thế năm ngày họp một lần.

Thời đó tác giả nhớ chính xác con sông cách nhà 5 km về phía bắc, nhưng không nhớ tên con sông. Nay tìm tài liệu trên mạng thấy có con sông La Tinh là ranh giới huyện Phù Cát phía nam và huyện Phù Mỹ phía bắc, với cây cầu trên quốc lộ 1 là cầu Vạn Thiên, xưa có tên là cầu Phù Ly, chắc là con sông này.

Long lại học được một điều rất quan trọng, đó là vai trò của âm lịch trong cuộc sống ở làng quê. Theo truyền thống của Việt Nam từ xưa, âm lịch dựa vào chu kỳ của mặt trăng là nền tảng cho các công việc của nhà nông. Từ đó, ở thôn quê, các sinh hoạt khác cũng phải theo âm lịch, điển hình là cách tổ chức chợ phiên, cứ 5 ngày họp một lần, bất kể đó là ngày chủ nhật hay thứ năm, thứ bảy… Tuần lễ bảy ngày của phương tây mang đến dùng trong chính quyền, trong thành phố, trong trường học… nhưng nhà nông chẳng cần chú ý đến!

Long rất thích đạp xe đến chợ phiên, chẳng phải để mua gì, mà là để xem tận mắt cách sinh hoạt của người dân, và xem các thức ăn thức uống đồ dùng bày bán ở đây. Và ngược lại, Long cũng là một “con vật lạ” thỏa mãn tính tò mò của dân địa phương, nhiều người từ trước đến giờ chưa thấy một thằng bé tây lai nào cả.

Long rất nhớ cây cầu và con sông nhỏ ở đầu chợ vì có một câu chuyện ngộ nghĩnh, câu chuyện khó tin nhưng hoàn toàn có thật, ngộ nghĩnh đến độ in sâu trong ký ức của Long cho đến mãi sau này.

Căn nhà tranh vách đất có đặc điểm là không những dùng cho người ở, mà lâu lâu có những khách nho nhỏ không mời vẫn cứ đến. Một hôm mẹ Long khám phá ra là dưới gầm giường trong nhà có mấy con cóc, chắc là muốn tìm chỗ mát mẻ tránh nắng gay gắt trời mùa hè. Mẹ sai Long chui vào bắt vứt đi. Việt Nam có câu ca dao “Con cóc là cậu Ông Trời, Ai mà đánh nó thì trời đánh cho”, chắc có lẽ muốn bảo vệ loài cóc vì nó giúp ích ăn mấy thứ côn trùng có hại chăng? Trong khi con ếch thì tha hồ ăn thịt, còn con cóc thì lại “không được đánh”!

Long lấy cán chổi khều mấy con cóc ra, dùng hai ngón tay nắm lấy hai vai từng con cho vào cái hộp giấy, mang ra ngoài ruộng khoai mì, rồi thả cho cóc nhảy đi, trong đầu nhớ câu dọa dẫm “ai mà đánh nó…” Vài hôm sau lại vẫn có cóc trong gầm giường, Long lại phải ra tay một lần nữa. Nhưng rồi vài ngày sau lại vẫn có cóc trong gầm giường. Long suy nghĩ, như vậy chắc là vẫn mấy con cóc hôm trước “ngựa quen đường cũ” trở lại chăng? Lại còn rủ thêm bạn bè nữa chứ! Làm sao nhận ra được cóc nào với cóc nào? Long bèn mang vứt ở cái ruộng xa thật xa.

con_coc

Lần này nghĩ là chắc ăn rồi, ăn ngon ngủ kỹ. Nhưng vẫn không ăn thua, gầm giường mát mẻ vẫn thu hút đám cóc, lần này tất cả 6 con. Bà Quy nổi giận vì bà quen có uy với đám con đông đúc của bà, thế mà không trị được mấy con cóc này sao? Nhưng bà vẫn nghĩ đến lời dọa dẫm trong ca dao nên nói với Long bắt cóc mang vứt xuống sông tận trên gần chợ, cách đó 5 cây số.

Long khều 6 chú cóc ra, lấy sợi dây đỏ buộc cả 6 con thành một chùm. Dây đỏ này vốn dùng buộc vào lạp xưởng để treo lên từng cặp, khi ăn lạp xưởng thì giữ dây lại có khi cần đến. Và đây là lúc cần đến mấy sợi dây đỏ này, Long buộc xong mấy con cóc treo toòng teng trên tay lái xe đạp, đạp 5 cây số đến chiếc cầu. Chàng ngừng xe đạp giữa cầu, tựa xe vào thành cầu, lấy chùm cóc ra vứt cả chùm xuống dòng nước. Và nhìn nước cuốn đi…

Về nhà báo cáo với mẹ “hoàn thành nhiệm vụ”! Bà Quy thở phào nhẹ nhõm, lần này bà đã trị được đám cóc “cậu ông Trời” này rồi.

Vài tuần sau, một hôm bà lại gọi Long bảo có một con cóc lại nằm trong gầm giường. Long lấy cán chổi khều ra. Lưng nó vẫn còn sợi dây đỏ buộc lạp xưởng!

Từ đó Long suy nghĩ thêm tại sao ông bà mình ngày xưa lại nói “Con cóc là cậu ông Trời…”, và càng khâm phục khả năng kỳ diệu của loài vật biết định hướng để tìm về chốn cũ…

(Còn tiếp)

Phạm Ngọc Lân
(Cha vô danh – Chuyện kể cuộc đời một người Việt lai Pháp)

Ghi chú:

(1) Phù Cát là một huyện thuộc tỉnh Bình Định (thời thập niên 50 là một quận), cách thành phố Quy Nhơn hơn 30 km về phía bắc. Khi quân đội Mỹ bắt đầu đổ bộ ào ạt vào miền Nam từ năm 1965, Phù Cát được chọn để làm một căn cứ không quân, với một phi trường khá quan trọng. Hiện nay, phi trường Phù Cát phát triển thêm, được dùng cho cả dân sự lẫn quân sự.

(2) Đèn Hoa Kỳ được gọi như vậy là do người Mỹ khi đến Trung Quốc trong thế kỷ 19, muốn bán dầu lửa đốt đèn, họ tặng không cho người dân cái đèn dầu nhỏ, sau đó họ làm giàu nhờ bán dầu. Do xuất xứ của nó nên người ta gọi đèn này là dèn Hoa Kỳ.