Cha danh 24. Nội trú (Phạm Ngọc Lân)

Lượt xem: 1340

‘…Long vẫn thích đi trong rừng hơn. Hít thở không khí trong lành của thiên nhiên, nghe thông reo vi vu khi có gió thoảng, nghe chim muông ríu rít trên cành. Và khám phá những hoa rừng lạ mắt, có khi nhỏ xíu thật dễ thương…’

Nói đến nội trú, người ta liên tưởng ngay đến những đứa trẻ thiếu tình thương của cha mẹ vì không được sống thường xuyên trong gia đình, chỉ được về nhà trong dịp nghỉ hè và nghỉ lễ. Có hai trường hợp thông thường nhất: một là cha mẹ quá bận công việc, hay phải đi làm xa không chăm lo được con cái nên phải gửi vào nội trú, hai là cha mẹ sợ con hư vì sống trong một môi trường có nhiều bạn bè rủ rê lêu lổng ăn chơi nên “tống” vào nội trú. Cũng có vài lý do khác ít gặp hơn, thí dụ như gia đình nghĩ rằng cho con vào nội trú để nó rèn luyện bản thân, sớm tập tính tự lập. Mẫu số chung của tất cả những trường hợp trên là các gia đình đều khá giả. Nếu không làm sao có đủ tiền cho con vào nội trú ở một trường trên xứ Đà Lạt mát mẻ lý tưởng cho việc học hành này!

Và vì thế những đứa bé phải vào nội trú thường có tâm lý “bị đi đày”! Nhưng không phải tất cả. Thời gian Long sống trong trường Adran kiểm nghiệm thấy nhiều loại phản ứng khác nhau của các bạn mình khi vào nội trú.

phamngoclan_adran01
Hình chụp nhân ngày rước lễ trọng thể trong đạo Công giáo, năm 1956, trước khi tác giả vào nội trú.
Phong cảnh rừng thông ngay cổng trường Adran. Trong hình có một bạn học cùng lớp tác giả, năm sau đi tu, sau này trở thành Tổng Giám Mục địa phận Sài Gòn (tác giả giấu tên, nhung chúng tôi tìm hiểu thì được biết đó là Tổng Giám Mục Bùi Văn Đọc)

Trường hợp của Long không nằm trong một khuôn mẫu nào cả. Cậu bé 13 tuổi biết rõ những khó khăn của gia đình mình, biết rõ là bình thường ra không có cách gì cậu vào được nội trú trong một trường được xem như “trường con nhà giàu” như trường Adran. Nên Long không lo lắng là cuộc sống tập thể rồi đây thế nào, mà chỉ nghĩ đến điều quan trọng hơn cả, đó là mình rất may mắn. Trước mắt là may mắn hơn đàn em của mình giờ đây không biết tương lai học hành sẽ ra sao.

Long nhận thấy quả thật nhiều bạn đi vào nội trú với tâm lý bị bó buộc chứ không muốn thích nghi – hoặc thích nghi một cách khó khăn – với hoàn cảnh sinh hoạt mới này. Đang sống trong gia đình với bố mẹ anh chị em, rời bỏ khung cảnh quen thuộc ấm cúng đó để bước vào một lối sống tập thể, với kỷ luật nghiêm minh của nhà trường, đòi hỏi nhiều thích nghi lắm chứ! Và cũng làm cho đứa trẻ phải rèn luyện tính tình để có thể thích nghi. Nếu như gia đình Long không phải di chuyển ra Phù Cát thì Long sẽ không phải vào sống trong nội trú, và có lẽ cá tính của Long sau này cũng sẽ khác đi phần nào, và như thế có lẽ suốt cuộc đời chàng cũng sẽ khác. “Khác” không có nghĩa là tốt hơn hay xấu hơn, hay hơn hay dở hơn, chỉ là khác thôi…

Các bạn nội trú của Long phần đông ở Sài Gòn lên, cũng có số ít từ các tình khác đến. Ở nhà các bạn ấy có đầy đủ tiện nghi, thường là có phòng riêng, ở nội trú phải nằm trong một phòng ngủ lớn với mấy chục cái giường kê thành dãy dài. Ở nhà chọn bạn mà chơi, trong nội trú phải nằm giữa hai đứa không chọn lựa, hên thì gặp thằng bạn hiền, xui gặp đứa chuyên môn chọc ghẹo hay ăn hiếp cũng phải chịu.

Trong phòng học cũng vậy, phòng ăn cũng vậy, các chỗ ngồi được chỉ định nên không thể chọn bạn mình thích để ngồi gần.

Ở nhà sáng ra thức dậy thời gian co giãn, có thể ngủ nướng thêm một chút cũng được, ở đây sáng ra tiếng chuông điện réo lên đinh tai nhức óc, không bật dậy ngay kéo màn về phía đầu giường sẽ bị Sư huynh phụ trách phòng ngủ đến lôi cổ dậy! Thời gian đánh răng rửa mặt thay quần áo làm giường cũng có hạn, đứa nào bản tính lề mề chậm trễ là khổ lắm, cứ phải lôi thôi lếch thếch cuống quýt chạy theo bạn bè vừa đi vừa cài khuy quần! Đà Lạt xứ lạnh nhưng gần phòng ngủ là phòng rửa mặt chỉ có một hàng vòi nước lạnh trên một bồn nước xây dài theo tường, mùa đông sáng ra nước lạnh buốt, rửa mặt thì tỉnh táo ngay, nhưng đánh răng súc miệng thì ê cả răng!

Ở nhà ăn uống những món hợp khẩu vị do bà hay mẹ hay người bếp nấu nướng, vào nội trú nhà bếp cho ăn cái gì phải ăn cái đó, ngon hay dở cũng phải ăn!

Nhưng Long nhớ nhất là nhà tắm. Trường xây cất từ đầu thập niên 1940 nên trang bị rất thô sơ. Suốt tuần trẻ con chơi đùa mồ hôi mồ kê nhễ nhại, nhưng chỉ được tắm vào chiều thứ năm và chiều thứ bảy, vì phải có nước nóng mới tắm được, xứ lạnh mà! Mà nước nóng thì chỉ nấu một tuần hai lần trong lúc tắm thôi. Khu nhà tắm gồm mấy chục cái phòng tắm cá nhân không có cửa, có cái vòi hoa sen trên đầu. Học sinh khá đông nên cũng phải tắm hai hay ba đợt mới xong. Tắm ở đây là một cuộc chạy đua với đồng hồ, chậm thì sẽ còn xà-bông trên người ráng chịu!

Nước không phải do mình vặn ra, mà do một Sư huynh phụ trách phòng tắm vặn một cái khóa cho nước chảy vào các vòi hoa sen đồng loạt. Thật ra là phải vặn hai khóa, một cái nước nóng và một cái nước lạnh. Gặp người không khéo tay thì lúc lạnh quá, lúc nóng quá, bọn trẻ con được dịp làm ồn, la to ơi ới để Sư huynh điều chỉnh lại! Nước được vặn ra lần đầu rất nhanh chỉ để thấm ướt người, sau đó tắt đi để xát xà-bông, lần thứ hai nước để lâu hơn để tắm gội cho hết xà-bông, nhưng đứa nào chậm trễ chưa hết xà bông cũng đành chịu, phải lấy khăn lau đi. Nội kiểu tắm này thôi, nhiều bạn đã cảm thấy sống nội trú là quá khổ, vì ở nhà lúc nào cần thì tắm, đâu phải chờ một tuần hai lần tắm vội vội vàng vàng như thế này!

Riêng chuyện ăn uống thỉ Long cũng khổ sở như nhiều bạn khác, vì nhà bếp nấu cho cả trăm miệng ăn nên bếp “đại táo” khó có thể ngon được. Lần đầu trong đời Long được “ăn cơm Tây”, ngồi bàn với đĩa nông, đĩa sâu, dao ăn, muỗng nĩa, ly uống nước. Thịt, cá, rau, bánh mì, đầy đủ cả, nhưng ăn không ngon miệng. May mà ở tuổi đang lớn, ngon dở gì Long cũng ăn tuốt, không ăn chẳng lẽ chịu đói!

Nhưng có một lần được ăn cháo cá thu. Long còn nhớ như in trong đầu, dù không nhớ chính xác năm nào, khoảng 1958 hay 59 gì đó. Lúc đó có một dịch cúm ở Đà Lạt, trẻ con bị cúm nhiều lắm. Hình như là dịch cúm đầu tiên và khá nặng, lan tràn rất nhanh, các trường học phải đóng cửa ba bốn ngày liền. Học sinh nội trú trường Adran phải ở trong phòng ngủ, giờ ăn nhà bếp đem vào một nồi cháo cá thu nóng hổi thơm phức, mỗi đứa được một tô ngồi ăn ngay trên giường! Thật là khoái, đã không phải đi học còn được ăn cháo cá!

Đó là trường hợp hi hữu không khi nào xảy ra nữa. Mỗi bữa đều phài ăn “cơm Tây” nên Long rất thèm những món bà ngoại nấu nướng ở nhà, theo kiểu ngoài Bắc ngày xưa. Phần nhiều là những món đơn giản mà sao ngon thế! Đậu phụ (đậu hũ) rán (chiên) phồng lên, vớt ra đang nóng nhúng vào chén nước mắm có hành lá cho nước mắm thấm vào và không còn vị nước mắm sống nữa mà có một vị rất đặc biệt. Rau muống luộc chấm tương (tương kiểu ngoài Bắc) (1), nước luộc rau vắt chanh, hoặc đánh cà chua (ngoài Bắc dùng quả sấu nhưng trong Nam không có) ngon tuyệt! Và còn biết bao thứ thịt kho, cá kho, tôm rim, dủ các món canh, món xào, gia đình giàu nghèo gì cũng có thể chế biến thật ngon nếu khéo tay một chút.

Nhưng cũng có những món thật cầu kỳ, đòi hỏi kinh nghiệm và khéo léo mới thành công. Long khoái nhất là món tiết canh vịt, bà ngoại làm rất ngon, và Long luôn có tham gia tí chút vào công việc này. Con vịt sống mua về phải cắt tiết, đó là chuyện đầu tiên cần kinh nghiệm. Long có nhiệm vụ tay trái cầm hai cánh con vịt sát với thân, tay phải cầm hai chân dốc ngược con vịt lên, bà ngoại tay trái nắm đầu con vịt, tay phải nhổ một mảng lông tơ trên cổ. Ngay trước khi cắt tiết bằng con dao bài sắc, bà ngoại luôn luôn nói câu “Tao hóa kiếp cho mày” để gỡ tội sát sinh cho mình, coi như việc giết con vịt chỉ là để cho nó được “hóa kiếp”, không làm kiếp vịt nữa mà sẽ làm kiếp gì đó hay ho hơn… Những giọt tiết đầu tiên cho vào cái đĩa nhỏ, sau đó mới hứng vào cái bát có sẵn một ít nước mắm. Những giọt tiết cuối cùng cũng cho vào cái đĩa nhỏ, phần tiết đầu và cuối này đông lại ngay.

Sau đó Long có một nhiệm vụ rất đơn giản nhưng có tầm quan trọng “chiến lược”! Làm sai là không có tiết canh ăn. Đó là việc đem bát tiết cất vào trong “gác-măng-dê”. Cầm hai tay, đi rón rén, sao cho cái bát đựng tiết có nước mắm phía dưới không được rung rinh. Một cử động mạnh là tiết sẽ bắt đầu đông lại và món tiết canh cũng sẽ chỉ còn là một giấc mơ! Việc “hãm” tiết không cho nó đông có người dùng chanh, có người dùng nước mắm, nói thì đơn giản thế, nhưng phải có kinh nghiệm mới biết bao nhiêu chanh hay bao nhiêu nước mắm là vừa. Và suốt thời gian hãm tiết như thế, không được đụng mạnh và cái tủ để bát tiết.

Thời gian làm xong con vịt để có đĩa tiết canh khá lâu. Phải làm lông, bộ lông để riêng ra bán cho mấy bà chuyên đi mua lông vịt (lông gà thì vứt đi không bán được). Rồi làm lòng, luộc vịt, luộc lòng, thái lòng thật nhỏ ra bày trong một đĩa sâu. Lòng gồm có gan, tim, mề, ruột non, mà phần ruột non làm rất lâu mới sạch được. Riêng gan một phần thái miếng to mỏng để riêng ra sẽ bày lên trên đĩa tiết canh. Sau đó là đến “thời điểm của sự thật” (l’heure de vérité): lấy bát tiết ra xem nó còn lỏng hay không. Nếu nó đông rồi thì tiêu tùng món tiết canh, đĩa lòng đành phải dùng để nấu canh miến. May là ở nhà Long rất ít khi bị thất vọng như vậy. Thông thường là mang bát tiết ra vẫn cỏn lỏng nguyên như lúc mới cắt tiết, thêm vào một ít nước luộc vịt (gọi là nước dùng hay nước “suýt”, nhiều hay ít cũng là do kinh nghiệm), dùng đũa đánh lên trộn đều tiết với nước mắm và nước dùng, rồi đổ ngay lên đĩa lòng đã chờ sẵn. Sau đó bày lên trên mấy miếng gan đã để riêng, mấy lá húng quế và lạc rang (đậu phọng) giã sơ cho vỡ ra thôi. Phải chờ thêm mươi mười lăm phút tiết mới đông hẳn, “long chân” mới ăn được.

Đây là món của người lớn, con nít không được ăn, riêng Long được xem như “lớn” nên cũng được hưởng một miếng to, ngon ơi là ngon!

Nói vậy không có nghĩa là sống nội trú chỉ có những điều bó buộc, những chuyện không vừa ý. Bù lại cũng có nhiều cái hay lắm chứ!

Trước tiên là việc rèn luyện tính tình để thích nghi với cuộc sống tập thể cũng là thích nghi với xã hội sau này.

Ngoài ra còn được hưởng những sinh hoạt rất bổ ích cho cá tính từng người, điển hình là thể thao và văn nghệ. Đó là nói chung cho các trường nội trú, nhưng trường Adran thời Long học thiếu hẳn phần văn nghệ. Ngay lớp nhạc cũng không có, nói chi đến tổ chức biểu diễn văn nghệ. Không có lớp nhạc, dĩ nhiên cũng không có ban nhạc, trong khi ở Sài Gòn, trường Taberd cũng của dòng Lasan lại nổi tiếng về sự phát triển bộ môn này. Lớp nhạc và ban nhạc của Taberd đào tạo được nhiều người sau này dù không phải nhạc sĩ chuyên nghiệp cũng có “nghề tay trái” làm cho cuộc sống phong phú hơn. Phải nói trường Taberd Sài Gòn kỳ cựu (có từ năm 1874) và quan trọng hơn trường Adran Đà Lạt nhiều.

Chỉ đến niên khóa 1959-60 trường Adran mới bắt đầu phôi thai sinh hoạt văn nghệ với một buổi trình diễn có quy mô vào giữa năm học. Sở dĩ có sự thay đổi này là do công lao của Sư huynh Pierre, lúc đó là Bề trên của Scholasticat, một phần của tu viện LaSan từ Nha Trang(2) chuyển lên Đà Lạt, trong đó các “chuẩn Sư huynh” (được học trò tặng cho danh hiệu “thầy dòng con”) học cùng với học sinh khác trong ba lớp cuối cùng bậc trung học (và trên Đại học Đà Lạt). Năm đó Long học lớp Seconde (tương đương lớp 10 hiện nay) cũng tham gia tích cực vào buổi trình diễn trong một vở hài kịch ngắn từ thời trung cổ Pháp. Kịch chỉ có hai diễn viên, một “thầy dòng con” đóng vai một anh chàng và Long đóng vai một… cô nàng! Trường chỉ có con trai học có cái khổ là cứ phải lấy con trai đóng vai con gái!

Sau này khi Long đã rời trường sau khi đậu tú tài năm 1962, trường Adran tiếp tục phát triển rất thành công phần văn nghệ khởi đầu từ buổi trình diễn năm 1960 này.

Riêng về nhạc, tuy không có lớp nhưng cũng bắt đầu từ năm Long học Seconde, anh chàng được một thầy dạy Sử địa là Sư huynh Hyacinthe đặc biệt chiếu cố, biết Long thích nhạc và có khiếu, nhưng không có điều kiện học nhạc cụ nên tình nguyện dạy riêng cho Long về hòa âm. Đó là những nền tảng quý báu giúp cho Long sau này phát triển thêm kiến thức trên con đường âm nhạc của mình. Sư huynh Hyacinthe rất nghệ sĩ, ông chơi violon rất hay nhưng ít khi có dịp chơi đàn này, mà chỉ chơi harmonium trong nhà nguyện trong giờ lễ thôi. Thời đó Long được giải thích là trong nhà thờ không được chơi đàn dây nhưviolon, piano, guitare… mà chỉ được chơi nhạc cụ dùng hơi như đàn orgue, đàn harmonium hoặc kèn.

May mà nay các cấm đoán đó đã không còn.

phamngoclan_adran02
Hài kịch ngắn « Farce du jambon » trong buổi trình diễn văn nghệ ngày 16-1-1960.
Hai diễn viên là « chuẩn Sư huynh » Thế và tác giả.

Long cũng nhờ ở nội trú mà phát triển thêm một khía cạnh khác mà khi ở nhà chắc chắn không thể thực hiện được, đó là thể thao. Đặc biệt trường Adran có nhiều sân bóng rổ, trong giờ chơi lúc nào cũng đông đúc, kể cả nội trú lẫn ngoại trú. Nhưng giờ chơi chỉ có 20 phút buổi sáng và 20 phút buổi chiều, nên học sinh ngoại trú chỉ chơi cho vui thôi, còn học sinh nội trú sau giờ học buổi sáng và buổi chiều còn giờ chơi khá dài nên có thể tâp dượt có quy củ hơn. Từ đó lập thành đội bóng rổ của lớp, và nhiều đội của trường xếp theo tuổi, đi thi đấu với các trường khác, đặc biệt là trường Yersin.

Long cũng chơi bóng rổ và từ khi vào nội trú cũng tham gia các đội, nhưng chưa đủ kinh nghiệm để chơi trong đội tuyển của trường. Chỉ sau này khi nhà trường mở thêm các lớp đệ nhị cấp(3), lúc đó phát triển thêm bộ môn bóng chuyền, Long trở thành một cầu thủ bóng chuyền trong đội tuyển của trường. Và năm học lớp Math Elem (lớp 12 ban toán) niên khóa 1961-62, Long tham gia nhiều cuộc thi đấu do thành phố tổ chức với khá nhiều thành công.

phamngoclan_adran03
Đội bóng chuyền Adran 1961.
Nguyễn Văn Mậu, Nguyễn Thanh Quang, Nguyễn Chí Thành, Trương Ngọc Phương, Trần Tuấn Kiệt,
Nguyễn Phan Phát, Nguyễn Thanh Sơn, Phạm Ngọc Lân. Hai Sư huynh Jules và Alfred.

Trường cũng tổ chức chiếu phim đêm thứ bảy cho học sinh nội trú và vài học sinh ngoại trú sống ngay gần trường. Phim được chiếu trong nhà chơi (préau) của trường, phải treo một tấm màn bằng vải trắng có đính mấy cái khuyết để gắn vào những cái khuy trên một xà lớn của nhà chơi. Long không nhớ cơ duyên nào khiến cho Long lại lãnh nhiệm vụ gắn cái màn này với hai bạn khác đóng vai phụ. Chẳng là cái xà nhà cao quá, nhà trường chỉ có cái thang không đủ dài để dựa vào cái xà này, nên phải có hai bạn đứng hai bên giữ cái thang thẳng đứng để Long leo lên gắn cái màn này. Chắc có lẽ lúc đó Long nhỏ con và thuộc loại liều, điếc không sợ súng nên mới dám leo lên cái thang lơ lửng giữa trời như thế! Suốt mấy năm trời leo thang kiểu đó chẳng bị ngã lần nào, sau này khi đã lớn tuổi, Long cũng quen mui điếc không sợ súng như thế, leo thang không cẩn thận bị thang trượt đổ xuống mấy lần, may mà chưa gãy xương!

Hồi đó Long nhớ nhất là những phim do tài tử nổi tiếng hài hước của Pháp là Fernandel đóng, trong loạt phim về Don Camillo, vai một linh mục ở một giáo sứ bên Ý luôn luôn phải đương đầu với ông thị trưởng Peppone thuộc đảng cộng sản Ý. Đầu thập niên 60 cũng là thời kỳ đang lên của cô đào nóng bỏng Brigitte Bardot, nhưng dĩ nhiên học sinh nội trú không khi nào được nghe nói đến những phim của cô đào này cả, nói gì đến việc xem được thân hình nảy lửa của BB trong « Et Dieu créa la femme »! (4)

Nhưng trong các môn giải trí tổ chức cho học sinh nội trú, Long thích hơn cả là các buổi đi picnic sáng đi chiều về. Gần thì có thác Đa Tân La, suối Bồng Lai (không đi thác Prenn hay hồ Than Thở vì ở đấy thường có du khách), xa hơn có Suối Vàng, thác Gougah, Pongour… Hai thác hùng vĩ này trên đường đi Sài Gòn từ đầu thập niên 60 không còn vào đó chơi được nữa vì chiến tranh, hai thác nằm trong khu vực không an toàn. Mỗi lần đi xa như thế, chiều về khi xe ca đến gần cổng trường lại có một đứa khởi xướng «tù… » kéo dài, rồi cả bọn lại tiếp tục « tù, tù… », làm như từ sáng tới giờ được sống tự do, nay lại sắp vào tù !

phamngoclan_adran04
Trường Adran. Du ngoạn thác Pongour Đà Lạt, 1959.
Tác giả với Sư huynh Léopold và hai bạn Đỗ Đức Hiển, Trần Phước Tuấn.

phamngoclan_adran05
Trường Adran 1961-62. Du ngoạn suối Bồng Lai Đà Lạt ngày 04-03-1962.
Tác già với Đỗ Thanh Phong.

phamngoclan_adran06
Trường Adran 1961-62. Du ngoạn suối Bồng Lai ở Đà Lạt ngày 04-03-1962. Ngô Văn Hải, Đỗ Đức Hiển, Đặng Đức Tôn, Nguyễn Thiện Lương, Hoàng Sơn, Phạm Ngọc Lân, Đỗ Thanh Phong, Alain Nguyễn Văn Tất.

Đặc biệt nhất là có một lần trường tổ chức đi chơi đến chân núi Langbian, sau đó bạn nào có đủ sức được hướng dẫn leo lên đỉnh cao nhất của dãy núi này. Long phải theo một con đường mòn trong rừng rậm còn ướt đẫm sương, đường lên dốc đều đều, có nơi phải bám vào rễ cây leo lên. Gần đến đỉnh thoát ra khỏi rừng âm u là một cảnh nắng chan hòa, trước mắt là đỉnh núi trọc ở độ cao 2169 mét, ngọn núi cao nhất trong vùng cao nguyên quanh Đà Lạt.

Mấy chục năm sau, trong một chuyến về thăm quê hương năm 2007, Long có dịp trở lại núi Langbian, nghe nói bây giờ có đường xe lên tới tận đỉnh núi. Vào trong khu du lịch, thuê xe loại nhỏ dùng để leo dốc dễ dàng, Long lên tới đỉnh núi và vô cùng ngạc nhiên vì từ cái đỉnh đó, Long có thể chụp hình một đỉnh cao hơn ngay bên cạnh ! Thì ra cái đỉnh 2169 mét vẫn còn nguyên vẹn như xưa, còn cái đỉnh có đường cho xe lên là ngọn núi bên cạnh, chỉ cao hơn 1900 mét thôi. Muốn lên cái đỉnh cao vẫn phải leo trèo qua con đường mòn với người hướng dẫn. Long mừng là ít nữa cũng còn một nơi thiên nhiên vẫn còn được bảo tồn nguyên vẹn, chưa bị khai thác cho nhu cầu du lịch như bao nơi khác.

phamngoclan_langbian
Ngọn núi cao nhất 2169 mét (núi nhọn bên trài) của lâm viên Langbian,
chụp năm 2007 từ ngọn núi bên cạnh.

Học sinh nội trú còn một thú vui khác là ngày chủ nhật được « đóng bộ » và ra phố từ sáng đến chiều nếu có người do cha mẹ ủy thác con mình (correspondant) đón ra. Long không khi nào được ra ngoài ngày chủ nhật vì không có người nào đón mình cả. Sau này khi lên các lớp lớn không cần ai đón nữa, Long cũng không ra ngoài phố ngày chủ nhật vì không có tiền để ăn uống, thà là chấp nhận sống khắc khổ trong nội trú còn hơn đi ra ngoài nhìn các cửa hiệu mà không mua được gì cả.

Những buổi đi ra phố (sortie) ngày chủ nhật này là dịp để các học sinh nội trú ăn uống theo ý thích của mình. Cũng là dịp để gặp bạn bè khác, hay đơn giản là dạo phố cho vui mắt. Những học trò không ra phố ngày chủ nhật thì buổi chiều có tổ chức một buổi đi dạo khoảng hai tiếng đồng hồ, thường là đi qua những đường mòn trong rừng quanh trường. Xa nhất là đi đến suối Cam Ly, đi đường tắt qua làng xóm để tránh không đi ngoài lộ, nhưng cũng phải qua vài khúc đường cái. Trên con đường gần đến Cam Ly (và cũng gần trường Couvent des Oiseaux trên đồi) có một ngôi biệt thự nhỏ, ngoài cổng có vẽ 6 nốt nhạc, đó là các nốt « đô mi si la đô rê ». Nếu đọc lên theo tiếng Pháp sẽ là «domicile adoré» có nghĩa « nhà yêu quý ».

Long vẫn thích đi trong rừng hơn. Hít thở không khí trong lành của thiên nhiên, nghe thông reo vi vu khi có gió thoảng, nghe chim muông ríu rít trên cành. Và khám phá những hoa rừng lạ mắt, có khi nhỏ xíu thật dễ thương. Đặc biệt nhất là có một loại dây leo có trái to bằng quả trứng, vỏ xanh nhưng khi chin thì bắt đầu chuyển qua tím, gọi là trái mác mác, tiếng Pháp thời đó gọi là “pomme-liane” có mùi rất thơm, vị chua hơn ngọt nhưng cũng ngon. Đi dạo lúc nào cũng để ý xem có mác mác không, mà ít khi gặp được quả chín. Hai chục năm sau khi mới qua Pháp, Long thấy trong một siêu thị một trái tím da bắt đầu nhăn nheo, trông giống trái mác mác nhưng Long nghĩ không thể nào có chuyện lạ vậy được, vì giá rất đắt, đắt hơn nho táo nhiều, làm sao có thể là trái cây trong rừng chỉ có trẻ con tìm hái ăn! Bán tín bán nghi, Long cũng mua một trái duy nhất về ăn cho biết, thì anh chàng ngã ngửa vì đúng là trái mác mác thời thơ ấu của minh, mà sao bên Pháp lại đắt thế! Tên Pháp của nó bây giờ là “fruit de la passion”, tiếng Anh là “passion fruit”!

Phạm Ngọc Lân
Cha vô danh – Chuyện kể cuộc đời một người Việt lai Pháp

Ghi chú:

(1) Tương Bắc được chế biến từ đậu tương (còn gọi là đỗ tương) và gạo nếp, qua một quá trình lên men, phải khéo léo mới chế được tương ngon. Trong ca dao có câu « Dưa La, cà Láng, nem Báng, tương Bần, nước mắm Vạn Vân, cá rô đầm Sét » để chỉ các địa danh nổi tiếng về một thức ăn ngon. Trong câu này có làng Bần (Hưng Yên) nổi tiếng về tương. Tương Cự Đà (Thanh Oai) cũng rất nổi tiếng. Riêng về nước mắm Vạn Vân, những người yêu thích nhạc của Đoàn Chuẩn đều biết nhạc sĩ nổi tiếng này là con của ông Đoàn Đức Ban sáng lập ra hãng nước mắm Vạn Vân nổi tiếng tử thập niên 30.

(2) Tu viện Lasan trên đồi Lasan gần Hòn Chồng Nha Trang thời đó có Petit Noviciat và Noviciat cho các thiếu niên và thanh niên đi tu dòng Lasan. Học hết Noviciat được mặc áo dòng tiếp tục học lên Scholasticat trước khi trở thành Sư huynh ra dạy các trường Lasan. Niên khóa 1959-60, phần Scholasticat ở Nha Trang dọn lên Đà Lạt trong một khu nhà gần trường Adran. Lúc đó Bề trên của Scholasticat là Sư huynh Pierre Trần Văn Nghiêm. Sau này Sư huynh Pierre trở thành Khoa trưởng Phân khoa Sư Phạm của Viện Đại Học Đà Lạt

(3) Trường Adran cho đến năm 1959 chỉ có tiểu học và trung học đệ nhất cấp (trung học cơ sở). Học sinh sau đó phải qua trường Yersin hoặc một trường khác học tiếp đệ nhị cấp 3 năm để thi tú tài. Bắt đầu từ niên khóa 1959-60, trường mở thêm các lớp đệ nhị cấp. Vừa đúng lúc tác giả học hết đệ nhất cấp nên ở lại học tiếp lên, không phải tìm trường khác học.

(4) Dịch sát nghĩa là “Và Chúa tạo nên người đàn bà”, phim ra đời năm 1956 của nhà đạo diễn “đợt sóng mới” Roger Vadim, chồng đầu tiên của Brigitte Bardot.