Cha danh 23 - Những biến chuyển lớn lao (Phạm Ngọc Lân)

Lượt xem: 942

‘…Nhưng mẹ của Long đã trải qua biết bao đảo lộn quan trọng của đất nước, trải qua biết bao gian nan trong cuộc đời mình, nên vẫn bền chí trước thử thách mới này. Có điều bà lại phải lo làm sao cho Long được tiếp tục học hành trong điều kiện tối ưu mà Long đang được hưởng…’

hiepdinh_geneve03
Hiệp Định Genève 1954

Trong khi gia đình Long sống yên ổn ở thành phố Đà Lạt thơ mộng thì đất nước trải qua nhưng biến chuyển kinh thiên động địa ảnh hưởng lâu dài đến tương lai dân tộc và ảnh hưởng trước mắt đến cuộc sống hàng triệu người.

Chiến tranh leo thang ác liệt, nhất là ở miền Bắc. Trận Điện Biên Phủ kết thúc ngày 7 tháng 5 năm 1954 với sự đầu hàng của quân Pháp đánh dấu khúc ngoặt quyết định trên bàn cờ chính trị. Hơn hai tháng sau, ngày 20-7 (thật ra là sáng sớm ngày 21), các cường quốc họp ở Genève chứng kiến ký kết hiệp định đình chiến giữa quân đội Liên Hiệp Pháp và quân đội Nhân Dân Việt Nam. Vĩ tuyến 17, cụ thể là con sông Bến Hải được dùng làm lằn ranh ngăn cách giữa hai bên đối địch (lằn ranh tạm, sau hai năm sẽ tổ chức tổng tuyển cử để thống nhất đất nước). Quân đội Nhân Dân Việt Nam rút về phía Bắc sông Bến Hải, quân đội Liên Hiệp Pháp, gồm cả quân đội viễn chinh Pháp và quân đội Quốc Gia Việt Nam rút về phía Nam. Người dân có 300 ngày để chọn nơi mình sinh sống.

Đó là thời gian để gần một triệu người di cư từ Bắc vào Nam, song song với việc tập kết của quân đội cộng sản trong Nam được đưa ra Bắc (thật ra rất nhiều người ở lại miền Nam, sau này là nòng cốt cho Mặt Trận Giải Phóng). Người di cư không phải chỉ có những người công giáo trong các làng mạc đi theo linh mục hướng dẫn của mình vì không thể sống dưới sự cai trị của cộng sản xem tôn giáo như « thuốc phiện của dân », mà còn rất nhiều người sinh sống ở Hà Nội và các tỉnh thành phía Bắc trốn chạy cộng sản vì họ đã biết hoặc nghe về cách cư xử của cộng sản đối với giai cấp « tiểu tư sản » và trí thức không theo họ. Ngoài ra, những ai đã từng nghe đến diễn tiến của chiến dịch cải cách ruộng đất bắt đầu phát động ở một số địa phương từ năm 1953 thì đều bỏ của chạy lấy người.

Người dân Đà Lạt nếu không đọc báo, không nghe đài phát thanh, sẽ không biết gì về những biến chuyển này. Vì thành phố có được cái may mắn là không bị ảnh hưởng trực tiếp của chiến tranh. Long lúc đó 10 tuổi vẫn vô tư lự, ngày 4 buổi trên đường từ nhà đến trường, từ trường về nhà. Một hôm khi qua nhà thờ Đa Minh là một nhà nguyện nhỏ trong tu viện của các linh mục dòng Đa Minh ngay trên đường Bá Đa Lộc là con đường ngắn dẫn đền trường Adran, thấy có đám đông tụ tập ở đấy, và những người trong tu viện phát cho họ những bọc vải to vác về trên vai. Sau đó Long mới biết đó là những người di cư từ miền Bắc vào, được chính quyền tổ chức sống tạm tại một nơi nào đó trong thành phố, chờ đợi được định cư ở những địa phương chung quanh (1). Họ đến nhà thờ Đa Minh vì ở đây có cơ quan từ thiện của Hồng Thập Tự đã quyên góp được quần áo chăn mền ấm tạm sống qua ngày. Đó là lần duy nhất Long tiếp xúc cụ thể và được thấy tận mắt những người từ miền Bắc vào trong phong trào di cư quan trọng này! Và cậu bé lúc đó mới thấy mình có may mắn đã di cư từ 3 năm trước, nếu không bây giờ gia đình chắc cũng phải đến những nơi tương tự sắp hàng để được vác về một bao quần áo của cơ quan từ thiện…

Thời gian này gia đình Long đã rời khỏi khách sạn Việt Nam dọn đến một căn nhà gỗ thuê của một người bạn cùng đơn vị với ông Quy. Nhà gỗ lợp tôn, không có tiện nghi của nhà gạch xây kiểu Pháp, nhưng tương đối rộng rãi, và nhất là một căn nhà hẳn hoi, với phòng khách, hai phòng ngủ, nhà bếp, nhà vệ sinh, với cái sân nhỏ phía trước, và chung quanh có hàng rào ngăn với hàng xóm. Tóm lại là một căn nhà đúng nghĩa, khác với căn phòng khách sạn trước kia.

Căn nhà nằm trong con hẻm từ sân đá banh đổ xuống dốc là khu mả thánh phía dưới. Cái sân đá banh này nằm trên đường Yersin, cạnh khu cảnh sát, đối diện với tòa thị chính (sau này là thư viện) và trường tiểu học Nazareth của các bà sơ (2). Gọi là sân đá banh cho oai, phải nói là bãi đất trống cho con nít chơi thì đúng hơn, còn sân vận động đúng nghĩa có khán đài đàng hoàng nằm dưới bờ hồ. Ở nhà này, đường đi học của Long giảm bớt được một đoạn so với khách sạn Việt Nam.

Long còn nhớ mãi hình ảnh của những con chim én bay lượn trên sân đá banh những buổi chiều đi học về. Chẳng biết chim én này có bay lượn để báo hiệu mùa xuân hay không, nhưng chắc chắn là nó bay lượn để bắt mồi là những con bọ từ sân cỏ bay lên. Có lần Long thấy một con én dưới đất, chắc vì ham mồi quá nên bị sa xuống đất chứ chim én không bao giờ đậu xuống đất cả. Vi nó không bay từ mặt đất lên được, chân nó nhỏ quá hay ngắn quá không biết, nên lỡ vì lý do gì đó mà sa xuống đất là chịu chết, không tự mình bay lên được như các loài chim khác. Hôm đó Long tới gần con chim trong bãi cỏ, nó sợ quá nhưng chỉ cố nhảy mà không bay lên được, nên Long chụp nó dễ dàng. Không thấy nó bị thương gì cả, vàkhi được tung lên, nó lại bay đi ngon lành. Đó là lần duy nhất Long được kiểm nghiệm nét đặc biệt của chim én. Long nghĩ chắc vì vậy mà chim én hay đậu từng hàng trên dây điện, và cũng thắc mắc là sao nó không bị điện giật, vì đây là dây điện trần mà, đâu có bao bọc gì đâu!

Nhưng từ từ những chuyện vô tư như thế cũng phải nhường chỗ cho những chuyện trầm trọng hơn, khi mà gia đình Long cũng như bao gia đình khác không thoát khỏi ảnh hưởng của những biến động xảy ra trên đất nước mình.

Ảnh hưởng đầu tiên đến với Long dưới dạng một lá thư của Sở xã hội Pháp (Service social). Thư gửi cho bà Quy, mẹ của Long. Đại ý nói là các cơ quan của chính phủ Pháp sẽ rút khỏi Việt Nam, theo các hiệp định đã ký kết giữa hai nước, Pháp trao trả độc lập hoàn toàn cho Việt Nam, quân đội và cơ quan hành chánh của Pháp sẽ rời Việt Nam hạn chót là năm 1956.

Lá thư đại ý nói « Sở xã hội Pháp sẽ không còn tồn tại Việt Nam để lo cho cậu bé Jean Martin được nữa, ngoại trừ bà cho phép chúng tôi mang cậu bé về Pháp tiếp tục lo việc học hành cho đến khi trưởng thành. Nếu muốn, bà cũng có thể theo con cùng đi Pháp, chúng tôi sẽ lo cho cả hai mẹ con. » (3)

Thật là gáo nước lạnh dội lên đầu bà Quy. Từ bao năm nay Long được học ở các trường dạy chương trình Pháp là do Sở xã hội Pháp đài thọ học phí, nay họ không lo nữa thì tiền đâu ra cho Long tiếp tục học ở các trường này? Còn chuyện đi Pháp thì đương nhiên bà gạt ra ngoài tai, bà không khi nào nghĩ là có một ngày người ta lại yêu cầu bà để cho con mình qua Pháp, một thằng bé mới 10 tuổi đầu chưa khi nào xa mẹ, nay lại phải bơ vơ như đứa trẻ mồ côi bên trời Tây xa xôi lạnh lẽo! Không khi nào có chuyện đó được, con bà đẻ ra chứ có phải mồ côi cha mẹ đâu! Còn việc bà đi theo Long qua Pháp cũng không một chút thoáng qua trong đầu bà, bởi vì còn chồng và các em của Long thì sao?

Thế là bà trả lời dứt khoát cho Sở xã hội, bà cám ơn Sở đã lo cho con bà trong những năm qua, từ nay bà sẽ tự lo lấy.

Nhưng lo cách nào đây?

Vài ngày sau, bà Quy vào trường Adran xin gặp Sư huynh Hiệu trưởng, hồi đó là Sư huynh Emilien người Pháp, ông đã lớn tuổi và rất hiền lành, ít thấy một hiệu trưởng nào hiền như ông. Thời đó tại các trường Lasan ở Việt Nam chỉ còn lại rất ít Sư huynh người Pháp, dòng Lasan có tu viện ở Hòn Chồng Nha Trang đã đào tạo được nhiều Sư huynh người Việt nên đa số thầy dạy đều là người Việt.

Bà đem theo lá thư của Sở xã hội, giải thích với Sư huynh Hiệu trưởng là Sở không đài thọ học phí nữa, mà gia đình thì quá nghèo để có khả năng trả học phí cho Long, bà năn nỉ có cách nào trường giúp cho Long được tiếp tục học không. Nếu không bà sẽ phải tìm cách khác để giải quyết và chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến việc học và tương lai của con bà. Sư huynh Hiệu trưởng cũng thông cảm hoàn cảnh của giađình bà, và nhất là Long từ ba năm qua đã chứng tỏ là một học trò giỏi và ngoan. Ông nói là nhà trường cũng có một quỹ học bổng dành cho những đứa trẻ con nhà nghèo mà chịu khó học hành, nên có thể cho Long hưởng cái học bổng đó, thật ra là tiền dùng để đóng học phí. Thế lả Long được tiếp tục học miễn phí.

Mẹ Long quá mừng, cám ơn rối rít Sư huynh Hiệu trưởng. Thế là đột nhiên, Long từ quy chế « con lai được Sở xã hội Pháp chu cấp cho tiền học », nhảy qua quy chế « học trò nghèo được các Sư huynh dòng

Lasan cho học miễn phí »! Đâu đó có ngôi sao may mắn vẫn tiếp tục chiếu vào cung học hành của Long!

Ảnh hưởng thứ hai của thời cuộc trên gia đình Long còn sâu đậm hơn nữa, làm đảo lộn cả cuộc sống không những của Long, mà của toàn gia đình, nhất là việc học hành của các em Long sau này.

Ông Quy cha dượng của Long, đăng lính Ngự Lâm Quân năm 1952 cốt để tránh khỏi bị chi phối bởi lệnh tổng động viên, sẽ phải sung vào các đơn vị chiến đấu trong thời kỳ chiến tranh đang ác liệt. Ngự Lâm Quân là lính « bảo vệ vua », tức là vua Bảo Đại, lúc đó có chức vị là Quốc Trưởng Bảo Đại.

Nhắc lại Hoàng Đế Bảo Đại là vua thứ 13 và cuối cùng của nhà Nguyễn đã thoái vị vào tháng 8 năm 1945 sau khi Việt Minh cướp chính quyền ở Hà Nội, và chấp nhận làm Cố vấn Tối cao cho chính phủ Hồ Chí Minh, nhưng rồi sau đó bị đẩy qua Tàu và lưu vong tại Hồng Kông. Chính phủ Hồ Chí Minh thương thuyết với Pháp để được trao trả độc lập, nhưng Pháp không muốn trả lại Nam Kỳ cho Việt Nam mà lại dựng lên « Cộng hòa Tự trị Nam Kỳ » (4) còn gọi nôm na là « Nam Kỳ quốc », nên hội nghị Fontainebleau (5) thất bại và chiến tranh bùng nổ tháng 12 năm 1946. Qua năm 1947 chính phủ Pháp bắt liên lạc với cựu hoàng Bảo Đại để tìm một giải pháp khác, đi đến hiệp ước Elysées (6) ký kết giữa Tổng Thống Pháp Vincent Auriol và Quốc trưởng Bảo Đại, thành lập Quốc Gia Việt Nam trong khối Liên Hiệp Pháp, trong đó Nam Kỳ được chính thức trao trả cho Việt Nam, điều mà trước đây chính phủ Hồ Chí Minh đã không đòi được.

Ông Bảo Đại về nước năm 1949 làm Quốc trưởng của Quốc Gia Việt Nam. Đầu năm 1954 ông qua Pháp và khi hội nghị Genève đang tiếp diễn, ông trao cho ông Ngô Đình Diệm (7) lúc đó cũng đang lưu vong bên Bỉ chức vụ Thủ Tướng. Ông Diệm về nước chấp chánh ngày 7 tháng 7-1954, gặp sự chống đối của các phe thân Pháp nhưng cuối cùng dẹp được những cuộc nổi loạn tại Sài Gòn để thiết lập một thể chế vững vàng nhờ sự ủng hộ của Mỹ (8). Khi Bảo Đại nghe theo phe thân Pháp triệu ông Diệm qua Pháp với ý định thay thế ông, ông tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý truất phế Bảo Đại năm 1955 và thành lập Việt Nam Cộng Hòa thay cho Quốc Gia Việt Nam. Qua năm sau, một hiến pháp được công bố ngày 26 tháng 10-1956 thành lập Việt Nam Cộng Hòa mà ông là Tổng thống đầu tiên.

Ông Bảo Đại bị truất phế và lưu vong vĩnh viễn bên Pháp, nên Ngự Lâm Quân không còn lý do tồn tại nữa. Các quân nhân trong Ngự Lâm Quân được sung vào các đơn vị mới thành lập. Ông Quy được đưa vào Trung đoàn 40 thuộc Sư đoàn 22, đổi đến Sa Đéc trong châu thổ sông Cửu Long, đánh nhau với quân của các giáo phái(9) lúc đó vẫn còn thành phần quân sự trong tổ chức tôn giáo của mình.

Thế là bà Quy tự nhiên trở thành bơ vơ một mình ở Đà Lạt với mẹ già và 8 đứa con. 10 miệng ăn, chỉ có lương nhà binh của chồng! Đã vậy lại còn phải chia hai nơi, làm sao mà sống?

Từ khi ông Quy đi Sa Đéc, ông chỉ được về phép một lần vào dịp Tết, bà Quy cũng chỉ đi Sa Đéc thăm chồng một lần. Sau khi làm xong nhiệm vụ ở Sa Đéc, đơn vị ông Quy lại phải đổi ra đóng ở quận Phù Cát, phía bắc của thành phố Quy Nhơn ngoài miền Trung. Có những miệng lưỡi xấu xầm xì rằng lính Ngự Lâm trước kia ở Đà Lạt sướng quá bây giờ bị đi đầy cho đáng đời! Và lần này có dấu hiệu sẽ đóng quân ở Phù Cát lâu dài, không phải chỉ đến đấy để hành quân. Thế là ông bà Quy đành phải quyết định đem cả gia đình rời Đà Lạt ra sống ở Phù Cát.

Để chuẩn bị cho việc cả gia đình di chuyển ra đấy, ông Quy thuê một miếng đất bằng phẳng trước kia là ruộng khoai mì và thuê thợ địa phương cất lên một căn nhà tranh vách đất theo kiểu các nhà của đa số dân chúng nghèo địa phương. Nghe ông nói tuy là nhà tranh vách đất nhưng rộng rãi lắm.

Đang sống ở Đà Lạt, một thành phố du lịch nổi tiếng trong cả nước, với đầy đủ tiện nghi cho đời sống hằng ngày, với đầy đủ trường học cho con cái, bỗng nhiên phải đến một nơi xa lạ sống giữa đồng không mông quạnh, không điện, không nước máy, không trường học… Thật là một cuộc đổi đời mà bà Quy không tưởng tượng được, nhưng biết làm cách nào khác ? Một gia đình mà bố một nơi, mẹ một nẻo, tình trạng kéo dài như thế thì không còn là « mái ấm gia đình » nữa. Ngoài phương diện tình cảm đó, có những chuyện thực tế phũ phàng : làm sao có tiền sinh sống nếu gia đình chia hai như thế ? Bà Quy từ khi rời Hà Nội vào Nam không còn đi làm, đông con quá ở nhà lo cho con không xuể, sao còn giờ để làm gì kiếm ra tiền được! Cũng may là có bà ngoại luôn bên cạnh giúp đỡ cơm nước.

Nhưng mẹ của Long đã trải qua biết bao đảo lộn quan trọng của đất nước, trải qua biết bao gian nan trong cuộc đời mình, nên vẫn bền chí trước thử thách mới này. Có điều bà lại phải lo làm sao cho Long được tiếp tục học hành trong điều kiện tối ưu mà Long đang được hưởng.

Thế là một ngày đẹp trời bà Quy lại một lần nữa đến trường Adran xin gặp Sư huynh Hiệu trưởng. Đã gần hai năm trôi qua từ lần trước, lần này trường có hiệu trưởng mới là Sư huynh Camille, một người Việt thay cho Sư huynh Emilien người Pháp đã về hưu. Bà trình bày hoàn cảnh gia đình phải rời Đà Lạt để đi Phù Cát là một quận không có trường cho Long tiếp tục học như hiện nay. Nếu Long phải theo gia đình thì chắc chắn việc học sẽ gián đoạn, và tương lai không biết sẽ ra sao. Còn để Long ở lại Đà Lạt thì bà không có bà con thân thuộc nào để gửi con cả. Bà khẩn khoản năn nỉ Sư huynh Hiệu trưởng thương con mình mà tìm một giải pháp. Sư huynh Hiệu trưởng hứa sẽ tìm cách giúp đỡ, còn phải hội ý với các Sư huynh khác.

Trong gần 5 năm học tại trường Adran, tất cả các Sư huynh đều biết Long là một học sinh chăm chỉ và chịu khó nên ai cũng ái ngại nếu Long phải bỏ dở việc học ở Đà Lạt để đến một địa phương xa lạ, tương lai học hành không biết ra sao. Một Sư huynh đã là thầy của Long năm trước, cũng là người trách nhiệm vấn đề ẩm thực của nhà trường, đề nghị để Sư huynh nói với ông đầu bếp của trường cho Long tá túc, nhà của ông ngay gần trường, và ông cũng có con học cùng lớp với Long. Nhưng cuối cùng, Sư huynh Exupère, lúc đó là phó hiệu trưởng đưa ý kiến là nên nhận cho Long vào nội trú trong trường, với một số tiền hàng tháng tượng trưng thôi, vì tiền đóng cho học sinh nội trú rất cao, gia đình Long không thể nào kham nổi.

Mẹ Long mừng quá, tuy phải bỏ ra một số tiền nhỏ cho Long mỗi tháng – gọi là nhỏ nhưng cũng là một khoản chi phí trong ngân sách gia đình – nhưng việc học hành của con không bị gián đoạn.

Thế là Long một lần nữa Long lại chuẩn bị cho một thay đổi quan trọng trong đời mình. Mẹ của Long phải ra chợ mua một cuộn băng vải nhỏ xíu có dệt sẵn cả trăm con số 133. Đó là con số mà nhà trường quy định cho cá nhân Long, dùng để phân biệt quần áo của học sinh nội trú khi đưa giặt ủi. Bà Quy cắt những con số 133 trong cuộn băng này và may vào tất cả quần áo của Long, kể cả đồ lót, vớ, khăn mặt, khăn tắm, khăn tay (hồi đó gọi là « mùi-soa », theo từ mouchoir của Pháp, chưa có khăn bằng giấy như bây giờ). Thật ra công việc cũng không mất nhiều thì giờ, vì quần áo của Long chỉ gồm những cái tối thiểu với số lượng tối thiểu.

Học sinh nội trú cũng phải có đồng phục là một bộ com-lê (complet) gồm quần và áo vét (veste) màu xanh dương đậm, thêm cái cà-vạt (cravate) cùng màu có hai vạch trắng xéo ở giữa. Đồng phục này chỉ mặc vào ngày chủ nhật, kể cả lúc ra phố khi có phép. Nhưng bà Quy không có khả năng để sắm cho Long những món đắt tiền như thế, nên Long sẽ là đứa học trò nội trú duy nhất vi phạm thường xuyên kỷ luật nhà trường là không mặc đồng phục ngày chủ nhật! Về sau, một Sư huynh nào đó có thiện ý đề nghị với nhà trường đài thọ may cho Long một bộ, chắc cũng vì thấy chướng mắt khi trong một đám đông đồng phục như nhau lại nổi bật lên một thành phần… không giống ai!

Một ngày đầu tháng tư năm 1957, cả gia đình Long chồng chất lên một chiếc xe đò nhỏ chạy ra miền Trung. Một mình Long ở lại, mẹ của Long nước mắt như mưa. Lần đầu tiên trong đời bà xa đứa con đầu lòng, cũng là đứa con cưng của bà.

Cùng ngày đó, Long bước vào khu nội trú của nhà trường, trong khi các học sinh nội trú khác về nhà nghỉ hai tuần lễ Phục sinh. Trong nhà ngủ của học sinh trung học, Long được chỉ định một cái giường nệm với chăn gối và đặc biệt có một cái màn chống muỗi, ban ngày kéo về phía đầu giường và thắt lại ở giữa bằng một băng vải đỏ. Đầu giường có một bàn nhỏ xíu có ngăn để đồ lặt vặt. Quần áo được cất trong một cái tủ riêng cho mỗi học sinh, trong một dãy tủ dài chung quanh phòng ngủ.

Lần đầu tiên trong đời, Long sống xa mẹ, xa gia đình, lúc 13 tuổi. Lúc đó Long không nghĩ đến một việc xảy ra từ mấy chục năm trước : cũng đúng vào năm 13 tuổi, mẹ của Long đã phải xa mẹ, khi bà ngoại của Long cùng ông Phó đi qua Lào làm ăn năm 1934.

Một sự trùng hợp lạ lùng!

(Còn tiếp)

Phạm Ngoc Lân

Trích sách: Cha vô danh – Chuyện kể cuộc đời một người Việt lai Pháp

Ghi chú :

(1) Trong gần một triệu người di cư năm 1954-55, ngoài những thành phần có bà con quen thuộc hoặc công tư chức được giúp đỡ trong phạm vi công việc làm của mình, đa số người di cư được nói đến nhiều nhất là giáo dân các làng công giáo, khi vào Nam được chính quyền giúp đỡ đến sinh sống ở những vùng đất mới. Chỉ vài năm sau, những vùng này trở thành những làng mạc và thị xã trù phú, nhờ vào tính cần cù kiên nhẫn làm việc của người dân, nhờ vào tinh thần tổ chức kỷ luật của làng xã, và nhờ vào viện trợ của Mỹ đổ khá nhiều tiền vào công cuộc định cư, một việc làm đóng góp rất hữu hiệu cho sự phồn thịnh của xã hội miền Nam sau này.

(2) Thư viện ngày nay vẫn ở chỗ cũ, nhưng là nhà mới xây sau này. Trường Nazareth nay là trường Trung học phổ thông chuyên Thăng Long. Sân đá banh không còn vết tích gì nữa vì bây giờ là một khu kiến trúc thương mại, nằm gần trụ sở công an thành phố, ngày xưa là ty cảnh sát, hai bên là nhà của ông trưởng ty và ông phó ty.

(3) Năm 1954, những trẻ con lai được đưa về Pháp thông qua FOEFI (Fédération des Oeuvres pour l’Enfance Française d’Indochine) một cơ quan từ thiện được chính phủ trợ giúp. Qua Pháp, họ được nuôi trong những trung tâm riêng của cơ quan giống như các viện mồ côi cho tới tuổi trưởng thành. Nếu đứa trẻ lai đi với mẹ thì sẽ được đưa vào những “làng” dành riêng cho các gia đình, gọi là CAFI (Centre d'Accueil des Français d'Indochine). Hai trung tâm chính là Noyant (tỉnh Allier miền trung nước Pháp) và Sainte-Livrade (tỉnh Lot-et-Garonne miền tây nam).

(4) Cộng hòa tự trị Nam Kỳ (République autonome de Cochinchine) còn gọi là Nam Kỳ Cộng hòa quốc, Nam Kỳ quốc, Cộng hòa Nam Kỳ, Nam Kỳ Tự trị là một chính quyền do Pháp dựng lên, tồn tại từ 1946 đến 1948.

Thời Pháp thuộc, Nam Kỳ là thuộc địa do người Pháp trực tiếp cai trị, trong khi Bắc Kỳ và Trung Kỳ chịu sự bảo hộ của Pháp, nhưng vẫn còn bộ máy hành chánh của Triều đình Huế.

Tháng 3 năm 1945, chính quyền thuộc địa Pháp bị quân đội Nhật "đảo chính" mất hết quyền hành, toàn cõi Đông Dương rơi vào tay người Nhật. Tháng 8 năm 1945, quân Nhật thua trận thế chiến hai, quân Anh vào miền nam vĩ tuyến 16 giải giới quân Nhật, quân Pháp theo quân Anh trở lại Đông Dương tái lập trật tự cũ. Chỉ sau vài tháng, Nam Kỳ trở lại tình trạng thuộc địa như trước ngày đảo chính Nhật.

Khi Hội nghị Fontainebleau sắp diễn ra ở Pháp, trong chương trình nghị sự có mục bàn về việc trả lại Nam Kỳ cho Việt Nam, thì Cao ủy Đông Dương là Thierry d'Argenlieu đơn phương thành lập Cộng hòa tự trị Nam Kỳ ngày 27 tháng 5 năm 1946. Mục đích để tách rời hơn nữa Nam Kỳ với phẩn còn lại của nước Việt Nam, hòng sau này có trao trả độc lập cho Việt Nam thì sẽ chỉ có Trung Kỳ và Bắc Kỳ mà thôi.

Vào đầu tháng 6, bác sĩ Nguyễn Văn Thinh được đề cử làm Thủ tướng Chính phủ Cộng hòa Nam Kỳ tự trị. Ủy viên Cédile liền ký với tân Thủ tướng một hiệp ước nhìn nhận xứ Nam Kỳ là một xứ tự do, riêng biệt trong khuôn khổ của Liên bang Đông Dương. Hơn hai tháng sau, bác sĩ Nguyễn Văn Thinh tự sát vì ông thấy đã rơi vào cái bẫy chia rẽ của người Pháp mà không làm gì để thoát ra được. Bác sĩ Lê Văn Hoạch rồi Tướng Nguyễn Văn Xuân lên thay.

Qua năm 1947, Thủ tướng Nguyễn Văn Xuân bay sang Hống Kông yết kiến Cựu hoàng Bảo Đại và xác nhận ý định thống nhất Nam Kỳ vào nước Việt Nam. Cộng hòa tự trị Nam Kỳ được chính thức giải thể và sáp nhập vào Quốc gia Việt Nam do cựu hoàng Bảo Đại đứng đầu ngày 2 tháng 6 năm 1948. Nhưng đối với Pháp, phài chờ đến ngày 8 tháng 3 năm1949 mới chính thức giải thể Nam Kỳ Tự Trị, khi thỏa ước Élysée được ký giữa tổng thống Pháp Vincent Auriol và Cựu hoàng Bảo Đại, theo đó Pháp công nhận nước Việt Nam thống nhất.

(5) Hội nghị Fontainebleau là một hội nghị nối tiếp Hiệp ước sơ bộ 6 tháng 3-1946 ký tại Hà Nội sau những thương thuyết mật giữa Hồ Chí Minh và Sainteny, cho phép quân đội Pháp đổ bộ lên miền Bắc thay quân Trung Hoa Dân Quốc, đổi lại Pháp công nhận Việt Nam là một nước "tự do trong khối Liên Hiệp Pháp". Hiệp ước sơ bộ này cũng dự trù một hội nghị ở Paris để đi đến một hiệp định chính thức về vấn đề độc lập và thống nhất của Việt Nam.

Một hội nghị chuẩn bị cho hội nghị Paris được tổ chức ở Đà Lạt từ ngày 19 tháng 4 đến ngày 11 tháng 5-1946, phài đoàn Việt Nam do ông Nguyễn Tường Tam cầm đầu, phái đoàn Pháp do Cao ủy Thierry d'Argenlieu (tương đương với chức Toàn quyền Pháp thời trước) cầm đầu. Ông Nguyễn Tường Tam (nhà văn Nhất Linh, thuộc Việt Nam Quốc Dân Đảng) là Bộ trưởng Ngoại giao trong chính phủ Liên hiệp lúc đó. Hội nghị Đà Lạt không đi đến kết quả cụ thể nào, nhưng giúp cho hai phe hiểu rõ quan điểm của nhau hơn.

Sau đó hội nghị Fontainebleau (lúc đầu dự trù ở Paris, nhưng phải rời đến Fontainebleau vì lý do bất khả kháng) diễn ra từ ngày 6 tháng 7 đến 10 tháng 9-1946 tại lâu đài Fontainebleau (cách Paris 60 km về phía nam) bàn về địa vị của Việt Nam trong khối Liên hiệp Pháp, mối quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và các nước, tổ chức giữa các xứ trong Liên bang Đông Dương, và quan trọng nhât là nguyện vọng thống nhất ba kỳ: Bắc, Trung và Nam của Việt Nam qua việc trưng cầu dân ý ở Nam Kỳ.

Hội nghị tan vỡ khi phái đoản Việt Nam do ông Phạm Văn Đồng cầm đầu bỏ về vì phía Pháp không dứt khoát trong việc trao trả Nam Kỳ cho Việt Nam, mà ngược lại, Thierry d'Argenlieu còn dựng lên "Nam Kỳ Quốc", cố ý tách Nam Kỳ ra khỏi nước Việt Nam. Trong khi hội nghị Fontainebleau đang tiếp diễn, Thierry d'Argenlieu triệu tập tại Đà Lạt vào ngày 1 tháng 8-1946 Hội nghị Liên bang bao gồm các đại biểu Nam Kỳ quốc, Lào, Campuchia và các quan sát viên từ miền Nam Việt Nam và miền Cao Nguyên để bàn về Liên Bang Đông Dương, đặt phía Việt Nam trước một sự đã rồi.

Tuy hội nghị tan vỡ, nhưng cuối cùng vào ngày 14 tháng 9-1946 ông Hồ Chí Minh (lúc đó cũng ở bên Pháp nhưng không tham gia phái đoàn hội nghị Fontainebleau) cũng ký với ông Marius Moutet (Bộ trưởng Bộ Hải ngoại Pháp) tại nhà riêng của ông này một bản tạm ước (Modus vivendi) trong đó quan trọng nhất là việc tái lập trật tự và ngưng bắn ở Nam Kỳ, trao đổi tù binh, và ngưng tuyên truyền kích động dân chúng.

Dù có bản tạm ước này, chiến tranh vẫn nổ ra ba tháng sau đó.

(6) Hiệp ước Élysée được ký kết tại Paris ngày 8 tháng 3 năm 1949 giữa Quốc Trưởng Quốc Gia Việt Nam là Cựu Hoàng Bảo Đại và Tổng thống Pháp Vincent Auriol, theo đó Pháp công nhận Quốc gia Việt Nam là một nước độc lập nằm trong Liên hiệp Pháp.

Hiệp ước quy định Quốc gia Việt Nam có cơ quan ngoại giao riêng, có tài chính và quân đội riêng mặc dù còn nằm trong Liên Hiệp Pháp, tức là chưa độc lập hoàn toàn. Hiệp ước cũng dự trù trả lại Nam Kỳ cho Việt Nam, điều mà năm 1946 họ đã không làm trong hội nghị Fontainebleau.

Sau hiệp ước này, Quốc Gia Việt Nam được Pháp vận động gia nhập nhiều tổ chức quốc tế thuộc hệ thống của Liên hiệp Quốc như Tổ chức Lao động quốc tế ILO, Tổ chức Lương nông quốc tế FAO, Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp Quốc UNESCO…

Phần lớn các nước phương Tây đã dần dần thiết lập quan hệ ngoại giao và trao đổi Đại sứ với Quốc gia Việt Nam, trong khi các nước cộng sản công nhận Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Bắt đầu từ đấy, chiến tranh ở Việt Nam chuyển qua hình thức một cuộc chiến ý thức hệ, Việt Nam trở thành một điểm nóng trong chiến tranh lạnh giữa hai khối quốc tế do Mỹ và Liên Xô cầm đầu.

(7) Ông Ngô Đình Diệm sinh năm 1901, quê tỉnh Quảng Bình. Cha ông là Ngô Đình Khả từng là Thượng Thư của triều Nguyễn, theo đạo Công giáo từ nhiều đời. Ông theo học trường Hậu Bổ đào tạo quan chức và ra làm tri huyện, tri phủ, tuần vũ.

Năm 1932, Hoàng Đế Bảo Đại từ Pháp về nước cầm quyền, và năm 1933 bổ nhiệm ông Diệm làm Thượng thư Bộ Lại trong chiều hướng trẻ trung hóa và hữu hóa bộ máy của triều đình. Nhưng với sự khống chế của chính quyền bảo hộ Pháp, ông Diệm không làm gì được nên chỉ vài tháng sau ông từ chức. Ông là vị Thượng Thư trẻ nhất trong triều Nguyễn.

Ông nổi tiếng là một người chống cộng sản và chống Pháp từ thời đó. Trong đệ nhị thế chiến, ông liên lạc với Hoàng thân Cường Để lưu vong bên Nhật, trong phong trào dựa vào Nhật để chống Pháp. Nhiều lần ông Diệm thoát thân khi bị Pháp lùng bắt nhờ được Nhật che chở.

Vì vậy khi Nhật cướp chính quyền trong tay Pháp ngày 9 tháng 3-1945, vua Bảo Đại mời ông làm Thủ tướng trong tân chính phủ nhưng người Nhật lại giới thiệu học giả Trần Trọng Kim cho Bảo Đại, có lẽ vì họ không muốn cho Hoàng thân Cường Để về nước thay Bảo Đại.

Khi Việt Minh cướp chính quyền tháng 8-1945, ông bị bắt thời gian ngắn nhưng không bị ngược đãi, trong khi anh ruột ông là Ngô Đình Khôi cùng con trai bị giết.

Sau đó khi người Pháp tiếp xúc với Cựu hoàng Bảo Đại ở Hồng Kông để thành lập Quốc Gia Việt Nam, ông Ngô Đình Diệm cũng qua gặp Bảo Đại như nhiều chính trị gia chống cộng khác, nhưng quyết định không đi theo con đường đó vì những người thân cận với Bảo Đại vẫn có nhiều thành phần thân Pháp.

Ông tìm cho mình hướng đi riêng, và trông cậy vào em của ông là Ngô Đình Nhu tổ chức các nhóm chính trị dấn thân, sau này sẽ là hạt nhân của đảng Cần Lao Nhân Vị. Ông tìm hậu thuẫn quốc tế, đặc biêt là hậu thuẫn của Mỹ. Năm 1950, khi anh của ông là Giám mục Ngô Đình Thục qua Vatican họp, ông tháp tùng, ghé Nhật gặp Hoàng thân Cường Để, sau đó qua Washington vài tháng, tá túc trong tu viện công giáo, rồi về Âu châu. Ông trở lại Mỹ lần thứ hai, vẫn tá túc trong các tu viện công giáo, nỗ lực tìm kiếm hậu thuẫn cho độc lâp của Việt Nam. Ông được Giám mục Spellman hết lòng giúp đỡ, nhưng không gặt hái được kết quả cụ thể nào, ngoài việc gặp hai thượng nghị sĩ Mike Mansfield và John Kennedy. Lúc đó chính quyển của Tổng thống Eisenhower đang bận chiến tranh Triều Tiên.

Trở về Âu châu năm 1953, ông sống ẩn dật tại vương quốc Bỉ, trong tu viện dòng Biển Đức (Bénédictins) ở Saint-André de Bruges.

Tháng 5 năm 1954, ông Bảo Đại đang ở Cannes triệu ông Ngô Đình Diệm đến đề nghị ông làm Thủ tướng. Lúc đó ông Hồ Chí Minh đang thắng thế, số phận của chính thể Quốc gia Việt Nam thật bấp bênh, ông Ngô Đình Diệm nhận chức Thủ tướng với điều kiện ông có toàn quyền về hành chánh lẫn quân sự. Bảo Đại chấp nhận, và Ngô Đình Diệm về nước chấp chánh ngày 7 tháng 7-1954. Hai tuần sau, hiệp định Genève được ký kết.

Ông Ngô Đình Diệm và tân chính phủ gặp phải những chống đối tưởng như không vượt qua được. Bình Xuyên đang nắm cảnh sát nổi loạn ở Sài Gòn, các thành phần thân Pháp, cầm đầu là tướng Nguyễn Văn Hinh Tổng tham mưu trưởng quân đội, chống đối ra mặt. Hoa Kỳ lúc đầu còn chần chừ vì tin ông Diệm là một thành phần chống cộng hữu hiệu, nhưng rồi tân đại sứ Mỹ là Collins cùng với Cao ủy Pháp là tướng Ely đều một lòng khuyến cáo chính phủ của mình không nên ủng hộ ông Diệm.

Không ngờ, ông Diệm huy động được một phần quân đội trung thành với ông dẹp tan loạn Bình Xuyên, gạt bỏ các thành phần thân Pháp, Nguyễn Văn Hinh phải qua Pháp lưu vong. Lúc đó, Hoa Kỳ mới quyết định ủng hộ ông Diệm hết mình, bắng cách viện trợ thẳng cho chính quyển của ông Diệm mà không qua Liên Hiệp Pháp như trước nữa. Khi Bảo Đại kêu ông Diệm qua Pháp báo cáo tình hình, thực tế là để cách chức ông, ông không đi. Sau đó ông tổ chức trưng cầu dân ý truất phế Bảo Đại năm 1955.

Qua 1956, một hiến pháp mới được ban hành ngày 26 tháng 10, Quốc Gia Việt Nam trở thành Việt Nam Cộng Hòa với ông Diệm làm Tổng thống.

(8) Ông Ngô Đình Diệm chỉ được sự ủng hộ của Mỹ sau khi về nước lập chính phủ và tỏ ra hữu hiệu, trước đó người Mỹ rất thờ ơ với ông.

Trong thời kỷ chiến tranh, các tài liệu tuyên truyền của cộng sản đều đồng loạt rêu rao « Mỹ hất cẳng Pháp bằng lá bài Ngô Đình Diệm đã được Mỹ đào tạo… ». Và việc Bảo Đại bổ nhiệm Ngô Đình Diệm vào chức vụ Thủ tướng « là do áp lực của Mỹ ».

Các tài liệu lịch sử trong văn khố Mỹ và Pháp được công bố sau này cho thấy là ông Ngô Đình Diệm qua Mỹ tìm sự hỗ trợ của chính quyền Mỹ trong công cuộc dành độc lập cho Việt Nam từ tay người Pháp mà không rơi vào tay cộng sản, vì Mỹ là nước lãnh đạo thế giới tự do trong khung cảnh chiến tranh lạnh thời đó. Nhưng Mỹ chẳng coi ông Diệm là nhân vật đáng quan tâm, cũng chẳng có tổ chức Mỹ nào « đào tạo » ông Diệm để làm « lá bài » cho mình cả. Nhưng nhu cầu tuyên truyền của cộng sản trong thời kỳ chống « Mỹ Diệm » thập niên 50 và 60 có cần gì đến sự thật lịch sử!

Khi Bảo Đại tìm người thay thế Thủ tướng Bửu Lộc, ông đã nghĩ đến ông Diệm là nhân vật chống cộng mãnh liệt, Bảo Đại hy vọng vớt vát được chút gì trong tình thế tuyệt vọng lúc đó. Về phần ông Diệm, đây là cơ hội cuối cùng để ông ra gánh vác việc nước, nên dù biết tình thế rất khó khăn, ông vẫn chấp nhận làm Thủ tướng dưới quyền ông Bảo Đại làm Quốc trưởng, nhưng đòi phải được toàn quyền cả về hành chánh lẫn quân sự. Về phần chính phủ Pháp, ông cũng được em là ông Ngô Đình Nhu vận động với chính giới Pháp để ủng hộ ông Diệm trong chức vụ Thủ tướng. Ngoài ra, không có tài liệu nào về « áp lực » của Mỹ buộc Pháp phải chấp nhận ông Diệm cả. Chỉ có tài liệu nói về tòa đại sứ Mỹ ở Paris được hội ý sau khi ông Diệm đã được chọn.

(9) Năm 1954, hai giáo phái có lực lượng võ trang là Cao Đài và Hòa Hảo. Ngoài ra, một lực lượng võ trang khác hoành hành trong vùng Sài Gòn và phụ cận là Bình Xuyên, nhưng đó không phải là một giáo phái.

Bình Xuyên do Lê Văn Viễn tự Bảy Viễn cầm đầu hoạt động ở vùng phía nam Sài Gòn. Bình Xuyện là tên một ấp ở Chánh Hưng, Nhà Bè. Khởi đầu từ 1945, Bình Xuyên là một lực lượng quân sự theo Việt Minh chống Pháp, đến năm 1948 Bảy Viễn theo Pháp và được nắm giữ vai trò cảnh sát trong Sài Gòn và kiểm soát sòng bài Đại Thế Giới và các cơ sở ăn chơi khác. trong vùng. Khi ông Ngô Đình Diệm làm thủ tướng năm 1954, ông giải tán lực lượng này để sáp nhập vào quân đội chính quy, nhưng Bình Xuyên không tuân thủ và nổi loạn trong Sài Gòn, ông Diệm phải dùng quân đội đánh tan quân phản loạn ngay trong thành phố.

Cao Đài là một giáo phái được chính thức công nhận năm 1926, nhưng đã có từ năm 1920 do một công chức của chính quyền thuộc địa Pháp là ông Ngô Văn Chiêu. Ông dùng phép cầu cơ để tiếp xúc với thần linh và tin tưởng là đã tiếp xúc được với Thượng Đế mà ông gọi là Cao Đài, dùng biểu tượng là một con mắt. Giáo phái phát triển nhanh chóng nhờ Lê Văn Trung và Phạm Công Tắc. Lê Văn Trung được phong chức Thượng Đầu Sư lãnh đạo tín đồ Cao Đài, trụ trì ở Tòa Thánh Tây Ninh. Khi ông mất năm 1934, Phạm Công Tắc lên thay.

Trong thế chiến 2, một lực lượng quân sự gồm toàn tín đồ Cao Đài được thành lập với sự trợ giúp của quân Nhật lúc đó đóng trên lãnh thổ Đông Dương. Lực lượng này lúc đầu theo Việt Minh chống Pháp, nhưng sau đó bị Việt Minh tìm cách tiêu diệt nên cuối cùng theo Pháp và chính quyền Quốc Gia Việt Nam của Bảo Đại. Một lãnh tụ nổi tiếng cùa Cao Đài là tướng Trình Minh Thế tách riêng về núi Bà Đen chống cả Pháp lẫn Việt Minh. Khi ông Diệm lên cầm quyền, ông khuyến dụ được Trình Minh Thế về hàng ngũ quân đội quốc gia, nhưng trong chiến dịch bình định Bình Xuyên năm 1955, Trình Minh Thế tử thương bởi một viên đạn không biết từ đâu đến. Có nhiều giả thuyết, nhưng hợp lý nhất là do quân Pháp giết để trả thù trước đây tướng Chanson của Pháp bị quân của Trình Minh Thế hạ sát.

Giáo phái Hòa Hảo (Phật Giáo Hòa Hảo) lấy tên của làng Hòa Hảo thuộc tỉnh Châu Đốc. Người sáng lập năm 1939 là ông Huỳnh Phú Sổ. Hòa Hảo phát triển nhanh chóng trong vùng châu thổ sông Cửu Long. Năm 1942 ông Huỳnh Phú Sổ bị Pháp bắt nhưng nhờ Nhật can thiệp được trả tự do. Sau khi Việt Minh cướp chính quyền năm 1945, ông Huỳnh Phú Sổ lập ra một lực lượng võ trang với những người cầm đầu chính là Nguyễn Giác Ngộ, Lâm Thành Nguyên, Trần Văn Soái (tức Năm Lửa), Lê Quang Vinh (tức Ba Cụt). Năm 1946, ông thành lập đảng Dân Xã, và tách rời khỏi Việt Minh. Năm 1947 ông bị Việt Minh bắt cóc và mất tích, nhiều nguồn tin cho rằng ông bị Việt Minh thủ tiêu. Năm 1949, lực lượng võ trang Hòa Hảo theo Pháp và Bào Đại. Khi ông Diệm chấp chánh và sáp nhập lực lượng này vào quân đội quốc gia, phe Năm Lửa và Ba Cụt chống lại và đánh nhau với quân đội chính quy. Qua năm 1956, Năm Lửa đầu hàng và lưu vong qua Pháp, còn Ba Cụt bị bắt và bị xử tử.

Từ đó trở đi, Cao Đài và Hòa Hảo trở lại là những giáo phái thuần túy không có lực lượng võ trang nữa.