Ngày đảo chánh Ngô Đình Diệm (hết) (John Mecklin)

Lượt xem: 232

“…quả quyết rằng Hoa Kỳ “hoàn toàn không có liên quan gì đến vụ đảo chánh” thì cũng giống như khi người gác đêm của một ngân hàng bị kẻ trộm đột nhập quả quyết sự vô tội của mình, mặc dù anh ta đã nói với một tên chuyên phá két sắt nổi tiếng, rằng bây giờ anh ta đi uống bia…”

Vô số mực in, thời gian phát thanh và truyền hình và tuyên bố chính thức đã được sử dụng để giải thích diễn tiến của cuộc đảo chánh. Những gì thật sự xảy ra có lẽ là không bao giờ biết được. Nhưng điều quan trọng nhất là sự thật, rằng quân đội Việt Nam đã đoàn kết như một để chống Diệm.

Tất cả các bản tường trình đều trùng hợp với nhau ở điểm là có nhiều nhóm âm mưu khác nhau mà phần lớn đều hoạt động độc lập với nhau và thậm chí có lẽ là còn tranh với nhau xem ai sẽ tiến hành trước. Hai trong số những người cầm đầu thuộc hàng “ngoài ra còn có” của cuộc đảo chánh được cho là Trần Kim Tuyến, sếp mật vụ của Nhu và trung tá Phạm Ngọc Thảo, một cựu Việt Minh, người đã nhận được sự chiếu cố của Diệm vì là một tỉnh trưởng có nhiều thành công. Âm mưu này bên trong âm mưu, mà trong đó tất cả các bên đều hy vọng vào sự giúp đỡ của Mỹ, đưa ra lời giải thích cho con số thật lớn những báo cáo có vẻ là thật về một cuộc đảo chánh sắp sửa diễn ra mà Sứ quán Mỹ đã nhận được trong vòng hai ba tháng vừa rồi. Mặc cho những lời buộc tội đầy sợ hãi của chính quyền, không có dấu hiệu nào cho thấy rằng những người Phật giáo đã đóng một vai trò quan trọng, nhiều lắm là việc họ đã mang lại chuyển động cho đất nước và như thế đã góp phần dẫn tới bầu không khí chính trị cần thiết.

daochanh_ngodinhdiem03

Đảo chánh Ngô Đình Diệm

Âm mưu mang tính quyết định được giới đứng đầu quân đội Việt Nam lập nên: từ tướng Dương Văn Minh, cựu tổng tham mưu trưởng, người bị đẩy sang một chức vụ tầm thường như là một nhà cố vấn đặc biệt vì Diệm không tin ông ấy, và từ tướng Trần Văn Đôn, Phó Tổng Tham Mưu. (Ông Tổng Tham Mưu Trưởng, người lẽ ra đã có thể ngăn chận được cuộc đảo chánh, mắc bệnh nặng.) Tướng Minh, được người Mỹ biết dưới tên Big Minh (để phân biệt với một tướng Minh khác), cả một thời gian dài là người được được Mỹ ưa thích, đặc biệt là tướng Taylor, người hay chơi quần vợt với ông ấy trong những chuyến đi thăm Việt Nam.

Ngoài ra, các tường trình cũng phù hợp với nhau ở điểm rằng vấn đề khó khăn nhất trong lúc chuẩn bị đảo chánh là tranh thủ được tướng Tôn Thất Đính, người chỉ huy dễ chao đảo của Quân đoàn III. Ông ấy chỉ huy các lực lượng quân đội đóng trong thành phố, tức là những lực lượng tiến hành cuộc âm mưu. Trong một bài báo cho Saturday Evening Post, Stanley Karnow viết rằng Đính, người mà ông mô tả là “một người lính can đảm nhưng không thông minh cho lắm”, đã được tranh thủ bằng cách nịnh hót. Các tướng lãnh tham gia âm mưu đảo chánh nói với ông rằng ông là một người xuất sắc, và ông cần phải yêu cầu Diệm cử ông vào chức vụ Bộ trưởng Bộ Nội vụ. Đính tin thật và thực sự đã yêu cầu Diệm giao cho ông chức vụ ấy. Diệm từ chối thẳng thừng. Đính rất bực tức. Theo Karnow, các tướng lãnh khác sau đó đã hứa với ông ấy rằng họ sẽ cử ông vào chức vụ đó, nếu như ông tham gia vào  âm mưu đảo chánh, và cuối cùng thì Đính đã đồng ý. (Nhưng các tướng lãnh giữ lời hứa của họ không được lâu cho lắm. Sau cuộc đảo chánh của Khánh, Đính bị bắt giữ, nhưng vài tháng sau đó lại được thả ra.)

Dường như có một chút sự thật trong những tường trình được lưu hành từ tháng 8, rằng Nhu bị ám ảnh bởi ý tưởng của một vụ đảo chánh giả vờ. Theo tường thuật của Karnow, Nhu có ý định cho quân đội “phản loạn” chiếm giữ thành phố, tuyên bố thành lập một chính phủ chống Mỹ, trung lập và tập hợp lại quanh mình tất cả những lực lượng chống Diệm. Một hay hai ngày sau đó, Diệm sẽ được “cứu thoát” bởi quân đội trung thành với chính phủ. Qua đó, Nhu muốn người Mỹ sẽ tiếp tục ủng hộ Diệm và đồng thời cũng lột trần những kẻ thù thật sự của chế độ. Karnow thuật lại, rằng Tướng Đính thực sự đã thuyết phục Nhu tin rằng cuộc đảo chánh thật này chính là cuôc đảo chánh giả, và người trong Dinh chỉ hiểu được những gì đang thật sự xảy ra khi người ta tiến hành sự việc đã được vài giờ.

Một số các viên chỉ huy ở các tỉnh lúc ban đầu đã bước sang phía Diệm khi cuộc đảo chánh bắt đầu. Trong hầu hết các trường hợp, họ đã làm điều đó vì đánh giá sai tình hình, nhưng từ cơ hội thì nhiều hơn là từ lòng tin. Một chỉ huy gửi một bức điện cho Diệm, bảo đảm sự trung thành vô giới hạn của mình đối với ông ấy, rồi vài giờ sau đó một bức điện thứ hai mà trong đó ông ta khẩn cấp cho rằng bức điện thứ nhất là một sự “nhầm lẫn” và không nên để tâm đến nó. Ngoại trừ sự chống cự của đội bảo vệ Dinh, không một vũ khí nào được giơ lên ở đâu đó trên đất nước Việt Nam để bảo vệ chính phủ.

Tổn thất trong cuộc đảo chánh được chính thức đưa ra là 55 người lính thuộc phe đảo chánh (trong đó có chín người hy sinh), 48 người bảo vệ Dinh (bốn người chết) và 166 dân thường (hai mươi người chết). Viên sĩ quan cao cấp duy nhất tử trận là đại úy Hồ Tấn Quyền, chỉ huy Hải quân Việt Nam, người bị bắn chết ngay trước khi cuộc đảo chánh bắt đầu. Theo một phiên bản, người ta bắn chết ông ấy vì ông từ chối tham gia âm mưu đảo chánh. Theo một phiên bản khác, một kẻ thù cá nhân đã lợi dụng cơ hội của sự lộn xộn chung để giết chết ông ấy.

Chính quyền đã sụp xuống như một cái vỏ rỗng. Trong một thời gian ngắn đã có những sự trả thù đối với những người theo phe chính quyền. Ở Huế, Cẩn, người em của Diệm, đã bị đưa ra tòa và bị xử tử. Nhưng ngay cả việc đó cũng hầu như không gây được sự chú ý của công chúng. Chính quyền đã cô lập mình ra khỏi người dân cho tới mức không ai quan tâm tới việc đó cả. Một trường hợp cá biệt là những người Việt theo đạo Công giáo, và sự đồng tình của họ xuất phát từ việc sợ bị đàn áp dưới một chính phủ Phật giáo nhiều hơn là cảm thông.

daochanh_ngodinhdiem04
Đảo chánh Ngô Đình Diệm

Khi nghĩ rằng Việt Nam đang vướng vào một cuộc đấu tranh ác liệt với người cộng sản nhằm có được sự công nhận từ người dân thì sự lãnh đạm tương đối này trước lần sụp đổ của chính quyền là bằng chứng nổi bật cho sự thất bại của nó.

Chúng ta ít biết về những gì Diệm và Nhu đã làm trong những giờ đồng hồ tuyệt vọng cuối cùng đó. Rõ ràng là họ đứng đơn độc trước kết cuộc, không có sự trợ giúp của người khác, ngoài những người đầy tớ, phục vụ trong Dinh và của các sĩ quan bảo vệ Dinh. Diệm liên tục gọi các viên chỉ huy ở ngoài thành phố qua mạng vô tuyến của Dinh và yêu cầu họ tăng viện, điều mà ông đã làm thành công trong lần cố đảo chánh năm 1960. Nhu cố gắng thúc giục lực lượng Thanh niên Cộng hòa của ông hãy bảo vệ chính quyền. Câu trả lời là sự im lặng.

Vào buổi trưa, Diệm gọi điện thoại cho đại sứ Lodge, sau khi cuộc đảo chánh bắt đầu. Những lời nói chính xác của cuộc trao đổi không được công bố. Theo các tường thuật của báo chí, Diệm hỏi ông đại sứ có biết chuyện gì đang xảy ra hay không. Lodge trả lời, rằng ông nghe tiếng súng bắn và nói sẽ giúp đỡ nếu như Diệm muốn rời khỏi đất nước. Diệm từ chối. Nếu như đó là tất cả những gì được nói, thì việc không đưa ra sự giúp đỡ nào cho chính quyền chắc chắn sẽ khiến Lodge phải rời khỏi đất nước như là “Persona non grata” nếu như cuộc đảo chánh thất bại.

Giữa Diệm và những người dẫn đầu cuộc đảo chánh đã có một loạt trao đổi qua điện thoại vào chiều và tối ngày thứ sáu. Chúng được cho là chứa đựng những lời lăng mạ độc ác, bẩn thỉu. Diệm liên tục từ chối không chịu đầu hàng. Ngoài ra, chỉ biết chắc chắn rằng Diệm và Nhu đã biến mất khi những người đảo chánh xâm nhập vô Dinh vào lúc rạng sáng ngày 2 tháng 11, và rằng họ đã xuất hiện một hay hai giờ sau đó trong khu phố Chợ Lớn của người Hoa cách Dinh vài dặm.

Người ta cho rằng họ đã bí mật trốn ra khỏi Dinh vào buổi chiều tối, có lẽ là bằng một đường hầm, và đã đi bằng ô tô đến một chỗ ẩn nấp đã được chuẩn bị trước trong Chợ Lớn. Đó được cho là ngôi nhà của một doanh nhân người Hoa, có kết nối với tổng đài điện thoại trong Dinh. Vì vậy mà Diệm có thể tiếp tục những cuộc đối thoại với các tướng lãnh nhưng không ai hay biết rằng ông đã rời khỏi Dinh. Đến một lúc nào đó lúc sáng sớm, họ đi đến ngôi nhà thờ Công giáo ở gần đó, nơi cuối cùng rồi người ta bắt họ. Theo một tường thuật, họ được cho là bị một tín đồ khác nhận ra và bị người này phản bội. Một phiên bản khác cho rằng trong một cuộc trao đổi cuối cùng qua điện thoại với các tướng lãnh, Diệm đã đề nghị đầu hàng, đổi lại lời hứa hẹn sẽ được đối xử trong danh dự.

Tất cả các tường thuật đều nói giống nhau, rằng Diệm và Nhu đã bị bắt trong nhà thờ và bị mang lên một chiếc xe bọc thép, chiếc xe mà sau đó đã lên đường trở về bộ chỉ huy của những người đảo chánh. Việc này diễn ra vào ngày thứ bảy, lúc khoảng chín hay mười giờ sáng. Cả hai đều bị giết chết trên đường đi. Lúc đầu, tân chính phủ thông báo rằng họ đã “tự tử”. Điều đó đã tạo nên một xì-căng-đan vì Nhà thờ Công giáo xem tự tử như là một tội lỗi. Sau đó, tân chính phủ quân sự đưa ra một phiên bản cải chính mà trong đó nói rằng đấy là một cuộc “tự tử ngẫu nhiên”, xuất phát từ một vụ đôi co với người sĩ quan tháp tùng. Danh tính của viên sĩ quan ấy không được công bố, người ta chỉ nói rằng đó là một người trẻ tuổi ở cấp bậc đại úy hay thiếu tá. Người ta nói với giới báo chí một cách không chính thức, rằng người sĩ quan này đã sa vào một vụ cãi nhau với Nhu, mất kiềm chế và đã giết chết Nhu và Diệm, trong khi chiếc xe lăn đi trên đường phố.

Điều này tuy có thể đúng, nhưng hầu như không thể tin được, vì một người sĩ quan trẻ tuổi hầu như không bao giờ dám giết chết những tù nhân có tầm cỡ như vậy, được tin cậy trao cho anh ta, nếu như không có mệnh lệnh, ngay cả khi bị họ khiêu khích dữ dội. Nhiều người Mỹ ở Sài Gòn cho rằng điều có nhiều khả năng hơn là Diệm và Nhu đã bị giết chết theo mệnh lệnh, vì họ là một sự cản trở và một yếu tố gây rối ở Việt Nam và cả ở nước ngoài, nếu như họ vẫn còn sống.

Chính phủ quân đội che giấu sự thật bằng cách giữ bí mật nơi để các xác chết. Người ta tuyên bố rằng họ đã được chôn cất với các nghi thức tôn giáo thích hợp, nhưng vị trí chính xác của các ngôi mộ thì không được công bố. Chính phủ mới cũng không công bố hình ảnh của các xác chết để qua đó chứng minh cho người dân rằng Diệm và Nhu thật sự đã chết – mặc cho những tin đồn lan rộng, đặc biệt là trong các cộng đồng Công giáo, rằng họ vẫn còn sống.

Những hình ảnh của các xác chết, xuất hiện trên báo chí nước ngoài, đã đi vào giới công chúng bằng một cách bí ẩn, chính phủ mới chưa bao giờ xác nhận đó là những bức ảnh thật. Thêm vào đó, chúng có chất lượng kém, cho tới mức người ta có quyền nghi ngờ tính xác thực của nó. Tất cả những gì mà nhân viên người Mỹ chúng tôi nhìn thấy được là một đoạn phim ngắn mà trong đó người ta nhìn thấy lưng của hai xác chết nằm úp mặt xuống giữa những cái ghế của một chiếc xe (được cho là một chiếc xe thiết giáp).

Các xác chết mặc những bộ đồ com-lê sang trọng sẫm màu, hình dáng phù hợp với hình dáng của Diệm và Nhu nhưng ngoài ra thì không thể xác nhận được danh tính của họ. Trên lưng của người nhỏ hơn, tức là của Nhu, có nhiều vết dơ có thể xuất phát từ những vết thương do bị đâm, ngoài ra thì không có dấu hiệu thương tích nào.

Trông giống như là tân chính phủ cũng giữ bí mật từ cùng một nguyên nhân mà những người bị giết chết cũng đã xuất phát từ đó để ban hành các mệnh lệnh: để tránh né các hậu tác động khó chịu. Hình ảnh bị giấu đi vì chúng không phù hợp với lời tuyên bố về việc “tự tử ngẫu nhiên”.

daochanh_ngodinhdiem05
Đảo chánh Ngô Đình Diệm

Người Mỹ đóng vai trò nào trong cuộc đảo chánh?

Khi Đại sứ Lodge trả lời trong cuộc phỏng vấn của New York Times (đăng ngày 30 tháng 6 năm 1964) lúc trở về nhà, ông nói: “Hoa Kỳ hoàn toàn không có liên quan gì đến cuộc lật đổ chính quyền Diệm. Hoa Kỳ đã nỗ lực để thay đổi, dẫn đến một thay đổi trong hành vi của chính quyền Diệm. Hòa Kỳ muốn có thay đổi nhân sự… Chúng tôi cũng muốn đạt được điều đó bằng những biện pháp chính trị hợp pháp…

Cuộc lật đổ chính quyền Diệm thuần túy là một việc làm của người Việt. Chúng tôi không tham gia lập kế hoạch. Chúng tôi chưa bao giờ đưa ra một lời khuyên nào. Chúng tôi hoàn toàn không liên quan gì đến việc đó. Tôi – có những cơ hội để tham gia lập kế hoạch và cố vấn, nhưng chúng tôi không bao giờ làm. (Nhấn mạnh bởi tác giả) Chúng tôi hết sức chú trọng đến việc không vượt qua ranh giới đó…”

Qua đó, rõ ràng là Lodge đã thừa nhận rằng cuộc đảo chánh không gây bất ngờ cho ông. Thêm nữa, nó cũng cho thấy rằng ông biết ai đã lập kế hoạch cho nó. Có lẽ nằm trong đó là lời giải thích, rằng tại sao Lodge đã dời lại một chuyến đi về Washington vào giờ chót, được dự định vào ngày 31 tháng 10. Ở Sài Gòn, sau cuộc đảo chánh có tin đồn rằng Lodge đã biết thời điểm cả một tuần trước cuộc đảo chánh và đã thông báo cho Tổng thống Kennedy biết. Một sự tham gia của Mỹ vào âm mưu đảo chánh, ngược với sự kiên quyết khước từ những “biện pháp thực dân” của Lodge, là có. Nếu như ông biết rằng giới đứng đầu quân đội Việt Nam đứng sau âm mưu đảo chánh, điều rõ ràng là đúng, thì một sự can thiệp của Mỹ dù sao cũng không cần thiết.

Nhưng quả quyết rằng Hoa Kỳ “hoàn toàn không có liên quan gì đến vụ đảo chánh” thì cũng giống như khi người gác đêm của một ngân hàng bị kẻ trộm đột nhập quả quyết sự vô tội của mình, mặc dù anh ta đã nói với một tên chuyên phá két sắt nổi tiếng, rằng bây giờ anh ta đi uống bia.

Tóm lại, chúng ta phải khẳng định những điều sau đây: Đó là một đất nước đang có chiến tranh với một kẻ thù hùng mạnh và đạt ít thành công trong lúc đó. Đất nước này rõ ràng là phụ thuộc vào sự hỗ trợ lớn của Hoa Kỳ. Chính phủ của nước này yếu kém, họ có nhiều khó khăn lớn đối với chính người dân của họ vì cuộc nổi dậy của Phật giáo. Quân đội Việt Nam đã tiến hành một cuộc đảo chánh năm 1960, cái suýt nữa thì đã thành công. Một vài sĩ quan quan trọng nhất của quân đội Việt Nam kín đáo thông báo cho Hoa Kỳ biết rằng họ sẵn sàng thử thêm một lần nữa; trên thực tế là họ muốn có sự đồng tình của Hoa Kỳ. Thêm vào đó, ở Việt Nam ai cũng biết rằng chính phủ Việt Nam đã phớt lờ sự cố vấn của Mỹ trong những vấn đề mà Hoa Kỳ cho đó là cơ bản.

Trước tình cảnh đó đã xảy ra những việc sau đây: 1. Bộ Ngoại giao công khai “lấy làm tiếc” về việc chính phủ đã tấn công vào các chùa chiền; 2. Đài Tiếng nói Hoa Kỳ công khai rửa sạch tội lỗi cho quân đội Việt Nam và ám chỉ một cách rõ ràng rằng phải đưa Nhu ra khỏi chính phủ; 3. Tổng thống Kennedy công khai yêu cầu thay đổi đường lối chính trị và nhân sự; 4. Hoa Kỳ ngưng các dự án hỗ trợ mà nếu như không có chúng thì đất nước này không có khả năng tiếp tục tồn tại. Thêm vào đó là tin đồn đã được lan truyền rộng rãi, rằng trong tháng 8, Lodge đã bí mật tuyên bố với các tướng lãnh, Hoa Kỳ sẽ không chống lại một cuộc đảo chánh. Và cuối cùng: Sự tham chiến của Mỹ ở Việt Nam mang tầm quan trọng quyết định đối với người Việt cho tới mức Lodge chắc chắn có khả năng ngăn chận cuộc đảo chánh nếu như ông ấy muốn và thật sự là biết trước sự việc (như ông ấy đã ngụ ý nói với tờ New York Times).

Ngoài ra thì chúng tôi “hoàn toàn không có liên quan gì đến vụ đảo chánh”.

John Mecklin

Phan Ba dịch từ sách “Mission in Torment”, John Mecklin, Chương 8 “Những thay đổi nhân sự”

Nguồn: phanba.wordpress.com/2019/11/05/ngay-dao-chanh-ngo-dinh-diem-het/