Ngày đảo chánh Ngô Đình Diệm (II) (John Mercklin)

Lượt xem: 457

‘…Ở đấy ít thấy được sự vui mừng sôi nổi tràn đầy như tôi đã nhìn thấy nó ở Pháp trong năm 1944 trong thời gian giải phóng…”

Ngoại trừ những cánh cổng sắt nặng nề được đóng kín thì người ta không nhìn thấy gì khác thường ở tòa nhà Đại Sứ quán. Nó trông cũng giống y như thế trong mười năm vừa rồi –ít mang tính đại diện cho Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ.

Tòa nhà nằm ở góc của một con đường tồi tàn ngay giữa một khu buôn bán quá đông đúc, không có chỗ đỗ xe, ngoại trừ trên đường phố; nó trông ít uy nghi. Tòa nhà mà trước đây là một nhà văn phòng có sáu tầng, nhưng hẹp cho tới mức chúng chỉ có chỗ cho sáu đến tám văn phòng bé tí hon trên mỗi một tầng. Người ta chỉ có thể đến phòng vệ sinh qua một lối đi lộ thiên. Ngôi nhà kế cận là một ngôi nhà ở đã xuống cấp. Hai ngôi nhà đứng sát nhau cho tới mức ông đại sứ Hoa Kỳ, khi nhìn qua vai cô thư ký của mình ra cửa sổ thì sẽ nhìn thấy một cái sân sau đầy rác và đầy những que nhang đã cháy hết trước một cái bàn thờ không được chăm sóc.

dinh_gialong
Dinh Gia Long sau ngày đảo chánh

Bất cứ ông đại sứ nào được cử đến Sài Gòn đều yêu cầu Washington phải mang lại một sự thay đổi. Đơn của Bộ Ngoại giao, xin thông qua phương tiện để xây dựng một đại sứ quán mới, đã được đưa ra Quốc Hội nhiều lần, nhưng thường xuyên bị từ chối. Đại sứ quán mới của Hoa Kỳ được xây trong các thủ đô không quan trọng hơn về mặt chính trị như Stockholm, Mexico City và London. Nhưng ở Việt Nam, nơi mà chúng ta chi ra mỗi ngày nhiều tiền (1,5 triệu dollar) hơn là một tòa nhà mới, nơi mà bằng chứng cho sự kính trọng của Mỹ và cho sự tin tưởng vào tương lai của đất nước chủ nhà có giá trị tâm lý rất lớn, thì Quốc hội lại hài lòng với một tòa nhà mà trong nhiều thành phố ở Mỹ sẽ bị yêu cầu giật sập vì nó sẽ giống như một cái bẫy chuột lúc xảy ra hỏa hoạn.

Một tòa nhà như thế sẽ tạo nên một thứ tình bạn giữa những người phải làm việc ở trong đó. Vào cái buổi tối thứ sáu đáng ghi nhớ này, điều đó đặc biệt rõ trước tình trạng không chắn chắn chung và trước sự vắng mặt của đại sứ Lodge, người từ lúc trưa đã ở lại nhà của ông. Các gian phòng của Lodge ở tầng trên cùng đã trở thành điểm tụ tập chung. Thậm chí một vài người thích mạo hiểm còn xem bắn nhau từ trong văn phòng có máy điều hòa của Lodge. Tầm nhìn ở đây không tốt bằng trên mái nhà, nhưng người ta được bảo vệ trước đạn lạc tốt hơn.

Trong những năm vừa qua, sứ quán ở Sài Gòn đã trải qua nhiều vụ bùng nổ như thế này nên người ta đã chuẩn bị trước để quan sát những gì xảy ra. Giống như một đội cứu hỏa được đào tạo tốt, từng người một bước vào vị trí của mình khi cuộc đảo chánh bắt đầu. Hai hay ba “nhân viên ngôn ngữ” (một các diễn đạt quan liêu cho các nhà ngoại giao hiểu được ngôn ngữ của nước này) lắng nghe các chương trình phát thanh. Những nhân viên khác với máy bộ đàm lái ô tô chạy trong thành phố, quan sát diễn tiến các sự kiện và báo cáo về một trung tâm kiểm soát trong tòa đại sứ. Vào lúc chiều tối, thậm chí một người Mỹ còn có thể đi vào trong Bộ Tổng Tham mưu Việt Nam, nơi mà bây giờ đã trở thành bộ chỉ huy của phe đảo chánh; anh ta có thể thông báo qua điện thoại những gì anh ấy chợp được, ngay khi các tường trình của anh ấy hoàn toàn không dễ hiểu hay mạch lạc. (Thật khó có thể hay thậm chí là không thể vào trong Dinh, ngay cả khi Diệm và Nhu cho phép, điều khó tin được.) Những người khác của Sứ quán gửi điện tín khẩn đi (điều thông thường chỉ có thể làm với tài liệu cần phải trình ngay lập tức cho bộ trưởng Bộ Ngoại giao hay thậm chí là tổng thống) cho mỗi một tin tức nhận được. Cho đến sáng sớm, hồ sơ điện tín đã có được độ dầy và sự thu hút của một cái bánh mì kẹp dầy.

Ngược với cái chân không thông tin trong USIS, đại sứ quán đầy ngập những tin đồn, những báo cáo và phỏng đoán mâu thuẫn với nhau. Khoảng năm giờ chiều, chúng tôi nhận được những báo cáo đáng tin cậy, rằng bắn nhau đã giảm xuống là nhờ vào cố gắng của những người dẫn đầu đảo chánh, đã yêu cầu Diệm đầu hàng qua điện thoại. Ngoài ra, chúng tôi nghe được rằng phe đảo chánh đã đưa ra cho ông ấy hạn chót là vào lúc sáu giờ chiều, nếu không thì Dinh sẽ bị không quân hủy diệt.

Khi hạn ấy trôi qua, chúng tôi đứng vào những vị trí quan sát trên mái nhà của Sứ quán. Từ đó, Sài Gòn giống một thành phố với những hàng cây cao mà giữa màu xanh của chúng người ta chỉ thỉnh thoảng mới thấy một tòa nhà. Người ta chỉ nhìn thấy một phần của cái mái nhà đá phiến đỏ ở bên trái của một khu phố. Dinh cách đại sứ quán độ chừng sáu con đường.

Đúng như thế, một chiếc máy bay xuất hiện. Nó trông giống như một chiếc T-28, bay thấp và rõ ràng là hướng trực tiếp tới Dinh. Chiếc máy bay cứ tiến tới dần dần. Chúng tôi chờ đợi tiếng nổ của những quả bom. Rồi, trong khoảnh khắc cuối cùng, chiếc máy bay đổi hướng. Một chiếc máy bay thứ hai cũng thực hiện thao tác giống như thế. Bây giờ thì cả hai chiếc hay vòng vòng mười lăm đến hai mươi phút trên các khu phố ở ngoài xa. Chúng tôi không biết họ làm gì. Lúc này, một chiếc máy bay thứ ba bay rất thấp ngang qua đại sứ quán, cũng hướng đến Dinh. Nhưng chúng tôi nhìn thấy ngay lập tức rằng đó là một chiếc C-47 cũ. Họ muốn ném một quả bom qua cửa à? Rồi chiếc máy bay này cũng bay khỏi đó và bay thật thấp vòng vòng quanh thành phố – nó rải truyền đơn của phe đảo chánh, như chúng tôi biết được sau này.

dinh_gialong03
(8/11/1963) Cuộc đảo chánh kết thúc — Binh sĩ đảo chánh trấn giữ các vị trí trong sân Dinh Gia Long tại Saigon sau khi họ chiếm được dinh này một tuần trước đây. Trận tấn công được hoạch định kỹ lưỡng đã lật đổ chế độ của TT Ngô đình Diệm. (AP Wirephoto)

Hạn chót đã trôi qua. Chẳng bao lâu sau đó trời bắt đầu tối. Không có không kích. Người ta còn thương lượng, chúng tôi nghe được. Chúng tôi không thể xác định liệu điều đó có đúng hay không, mặc dù không còn nghi ngờ gì nữa về việc không quân đã tham gia phe đảo chánh. Suốt đêm đó, chúng tôi có thể nhìn thấy ánh đèn của những chiếc máy quay bay vòng vòng trên thành phố. Một sĩ quan không quân Mỹ, nhập hội với những người quan sát trên mái nhà, bảo đảm với chúng tôi nhiều lần, rằng Không quân Việt Nam không được huấn luyện không kích ban đêm và vì vậy mà một cuộc không kích không thể nào xảy ra trước sáng mai. Nhưng chúng tôi không biết chính xác được.

Nhiều tường thuật thông báo về những cuộc di chuyển quân lính ở ngoài thành phố và trong các khu phố ngoại ô, nhưng các sĩ quan quan sát không biết chắc các lực lượng này đi đâu hay họ đứng về phía nào.  Một vài xe tải hạng nặng chở đầy lính chạy ngang qua Sứ quán. Những người lính vẫy tay chào các Thủy Quân Lục Chiến đang đứng gác. Tình hình chính trị rối loạn tới mức từ cử chỉ đó không thể biết được rằng đó là phe đảo chánh hay lực lượng trung thành với chính phủ.

Vào khoảng sáu giờ, những người đảo chánh bắt đầu bắn súng cối và nã pháo vào trang trại của đội bảo vệ Dinh. Trong vòng một giờ sau đó, họ bắn ít nhất là cả trăm loạt đạn vào khuôn viên của trại lính mà ở trên đó phần lớn là những ngôi nhà gỗ hai tầng cũ kỹ, cách Dinh gần một ki-lô-mét. Từ trên mái nhà của sứ quán, chúng tôi nghe được tiếng súng bắn và vài giây sau đó là tiếng nổ trong khu vực mục tiêu. Khói đen bay cuộn vòng lên trên những hàng cây. Chúng tôi tưởng tượng ra cuộc tàn sát và hủy diệt trong những ngôi nhà xiêu vẹo đó và ngưỡng mộ lòng can đảm và tính kiên cường của đội bảo vệ. Chúng tôi hoàn toàn không nhận ra rằng không có tiếng súng bắn trả, điều lẽ ra mới là chỉ dấu cho một cuộc chiến trực tiếp. Sau đó, chúng tôi nhận ra rằng  trại lính ấy đã không còn người vào lúc bị bắn phá, vì đội bảo vệ đã vào vị trí chiến đấu.

Lại trở nên yên ắng, bây giờ thỉnh thoảng người ta mới nghe được tiếng súng ở phía xa. Tình hình kéo dài chừng tám tiếng đồng hồ. Do không biết gì về các diễn tiến, khoảng thời gian ấy đối với chúng tôi tự như bất tận.

Lúc này trờ bắt đầu mưa, nên cái nóng nực và ẩm ướt lại càng khó chịu hơn nữa. Những tấm các-tông lót mái nhà bốc mùi của sự dơ bẩn và của dầu hắc. Nhưng không ai bỏ đi. Vì thế mà suốt đêm đó, ba mươi đến bốn mươi người cứ liên tục đi lên đi xuống giữa mái nhà và văn phòng, một vài người phải trực, những người khác kẹt lại trong sứ quán vì giờ giới nghiêm, những người khác nữa (như tôi) chuẩn bị sẵn sàng cho trường hợp mình có thể làm được việc gì đó có ích. Phần lớn là người Mỹ, nhưng trong số đó cũng có một vài nhân viên người Việt của sứ quán.

Thường xuyên có báo cáo về những cuộc di chuyển quân lính. Lại một đoàn xe với quân lính, nón sắt của họ óng ánh trong ánh sáng đèn đường, chạy ngang qua tòa nhà sứ quán về hướng Dinh. Ở đằng xa, chúng tôi nhìn thấy ánh đèn của một đoàn xe khác chạy trên cây cầu bắc qua sông Sài Gòn. “Hy vọng đó là phe bạn”, một tiếng nói trong màn đêm. “Ý của anh là sao khi dùng chữ ‘bạn'”? “Anh được phép đoán ba lần đấy”, là câu trả lời. Tiếng cười vô danh trong màn đêm. Một cuộc thăm dò ý kiến nếu được tiến hành tại những người ở trên này sẽ cho thấy rằng đa số hy vọng cuộc đảo chánh thành công.

Một tiếng chửi thề nhỏ khi có ai đó va vào chiếc ăng-ten được dựng trên mái nhà. Tiếng nói của một cô gái: “Lẽ ra là tôi đi nghỉ phép tối nay. Không bao giờ có điều gì trơn tru trong cái ổ tồi tàn này.” Một nhân viên ngôn ngữ với một chiếc ra-đi-ô bán dẫn nhập bọn với chúng tôi. Chiếc ra-đi-ô phát nhạc cổ điển và khiến cho tình hình càng trở nên phi thực hơn. Rồi người đàn ông vặn to cái ra-đi-ô lên khi nhạc bị gián đoạn bởi một loạt tuyên bố bằng tiếng Việt. Ông ấy viết ghi chú dưới ánh sáng của một cái đèn pin. “Đó là các tướng lãnh”, ông ấy giải thích. “Ai cũng vội vã đích thân tuyên bố rằng mình ủng hộ phe đảo chánh.”

Ngoại trừ một hai hay trường hợp ngoại lệ không quan trọng, thuộc vào trong số đó là tất cả các tướng lãnh của Quân đội Việt Nam. Ít ra thì cũng có khả năng là họ nói điều đó dưới áp lực, có lẽ là trước một khẩu súng lục, nhưng trong khoảnh khắc đó, tôi tin chắc rằng chính quyền Diệm cuối cùng thật sự là đã đi đến kết thúc. Sự việc phải đi đến kết thúc như thế, nhưng trong lúc đó thì chúng tôi không cảm nhận được sự tự hào. Theo một cách nhìn nhất định thì đó cũng là thất bại của chúng tôi, không chỉ của Diệm – một phán xét bi thảm cho bảy năm giúp đỡ của Mỹ.

saigon_1_11_63_03
Sài Gòn ngáy 1 tháng 11 năm 1963

Vào khoảng chín giờ ba mươi tối, điện thoại trong văn phòng Trueheart đổ chuông. Phần của ông ấy trong cuộc đối thoại là như sau:

“Vâng, thưa ông đại sứ.”

“Không, tôi không biết. Tất cả đều không thay đổi.”

“Không, tại sao không?”

“Vâng, tất nhiên là chúng tôi gọi điện khi cần thiết.”

“Xin chào, Sir.”

Ngài đại sứ muốn đi ngủ, lúc chín rưỡi như mọi khi, nếu như không có những nhiệm vụ không thể bỏ qua ngăn cản ông làm việc ấy. (Khi một nhân viên sứ quán gọi điện cho Lodge vào tháng 1 năm 1964, để thông báo cho ông biết về cuộc đảo chánh lần thứ hai, ông đại sứ đã khiển trách người này vì đã gọi cho ông vào lúc giữa đêm.) Rõ ràng là Lodge cho rằng cuộc đảo chánh được ông trông chờ đang tiến triển tốt đẹp, rằng không không thể tiếp tục làm gì được nữa và có lẽ là sẽ có hàng tá vấn đề khó khăn phải giải quyết vào sáng ngày mai, ví dụ như người ta công nhận chính quyền mới càng nhanh càng tốt ra sao và mặc dù vậy vẫn giữ được danh dự. Một ông đại sứ tươi tắn, thư giãn vào sáng sớm sẽ quan trọng cho Hoa Kỳ hơn là một người đàn ông kiệt sức, hồi hộp, người mà cả đêm trước đó đã không ngủ được vì lo lắng.

Sau đó, trạm kiểm soát vô tuyến của sứ quán đã trở thành địa điểm tụ tập. Rõ ràng là trong thành phố, người ta đã ngừng sự kháng cự không đáng kể chống lại phe đảo chánh, ngoại trừ việc bảo vệ Dinh. Phe đảo chánh bây giờ tập trung lực lượng của họ lại cho cuộc tấn công mang tính quyết định. Một ẩn số lớn là liệu các đơn vị ở ngoài thành phố có về giúp Diệm hay không, như đã xảy ra trong khoảnh khắc cuối cùng của lần đảo chánh không thành trong tháng 11 năm 1960. Tuy chúng tôi không nhận được báo cáo cho những dấu hiệu như thế, nhưng liên kết của chúng tôi đến nhiều vùng của đất nước này không được tốt. Chúng tôi chỉ có thể chờ.

Các thiết bị nhận tin hầu như lúc nào cũng câm lặng, tới mức người kỹ thuật viên phải thường xuyên kiểm tra liệu kết nối có bị cắt đứt hay không. Từ những người cô độc đang ở đâu đó trong thành phố có những câu trả lời như: “Đúng thế, tôi hiểu anh tốt, nhưng chúng tôi hết thuốc lá rồi, và tôi hy vọng là các anh cũng có một buổi tối tốt đẹp.”

Ai đó lôi ra một thùng khẩu phần lạnh từ kho trữ dành cho trường hợp khẩn cấp của đại sứ quán. Chúng mang con dấu của năm 1948 và cũng ngon lành tương ứng, nhưng người ta vẫn ăn ngấu nghiến chúng. Những cái tủ chứa hồ sơ, bàn làm việc và bàn cà phê đầy những lon trống không, nước ngọt khô, vụn bánh (bánh bích quy cũ cho tới mức chúng rã ra lúc cắn vào) và những thứ còn thừa lại khác. Một chai rượu bourbon từ Kentucky bất thình lình xuất hiện. Chúng tôi uống bằng ly giấy. Ly giấy hết nhanh chóng, và khi mấy cái ly giấy ướt cho tới mức rượu thấm ra ngoài, chúng tôi chuyền tay nhau chai rượu.

Chúng tôi bắt đầu cá cược. Người cộng sản sẽ thống trị Nam Việt Nam trong vòng mười tám tháng; quân đội chiến đấu của Mỹ sẽ được mang sang Việt Nam trong vòng một năm tới đây để chiến đấu chống Việt Cộng; các tướng lãnh sẽ không bao giờ thống nhất với nhau, và sẽ có một cuộc đảo chánh tiếp theo trong vòng sáu tháng (điều này là sai, chỉ cần ba tháng thôi).

Một người của CIA nhận xét: “Nếu cuộc đảo chánh thành công thì ở nhà người ta sẽ nói may mắn là CIA không nhúng tay vào để làm hỏng hết mọi thứ. Nếu nó thất bại, họ sẽ nói rằng CIA đứng ở đằng sau và chúng ta không nên nhúng tay vào việc của nước khác. Đưa cho tôi chai bourbon khốn kiếp ấy đi nào.”

Tất nhiên là có những lời nói bóng gió nhắc đến những lời quả quyết của bà Nhu, rằng USIS đứng phía sau mưu đồ chống chính quyền, ví dụ như những lời nhận xét đùa nghịch như: “John, nhân dịp tất cả chúng ta có mặt ở đây và không có nhà báo nào ở gần, nói thật đi, anh làm sao mà được như thế này?” Hay: “Này, Mecklin, cho tớ làm bộ trưởng bộ phụ nữ nhé?”

Giữa lúc đó, vào lúc chừng mười giờ ba mươi, chuông điện thoại reo vang. Một nhân viên sứ quán nghe điện thoại và ra hiệu cho chúng tôi yên lặng. Đó là Nguyễn Đình Thuận, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, thư ký của Tổng thống, và là thành viên hữu ích nhất của chính phủ ở Sài Gòn. Ông ấy nói rằng ông gọi điện từ một căn hộ tư nhân (không phải từ nhà của ông), ông đã nghe được trong ra-đi-ô (cũng như chúng tôi), rằng các tướng lãnh đã đưa ra lời ân xá cho tất cả các thành viên của chính phủ, nếu như họ đầu hàng trước mười một giờ đêm. Ra-đi-ô nói rằng những người không quy thuận sẽ bị xem là kẻ thù. Thuận muốn biết liệu người ta có thể tin các tướng lãnh hay không và xin một lời khuyên.

Ngẫu nhiên, người nghe điện thoại, cũng như những người đang có mặt khác, quen biết Thuận rất tốt. Nhưng với cuộc điện này, ông ta đã có ý ngầm cho rằng Hoa Kỳ có liên quan đến cuộc đảo chánh và có một đường dây liên kết đặc biệt tới các tướng lãnh nếu như không thậm chí là kiểm soát hoạt động của những người này. Ít ra thì vẫn còn tồn tại khả năng là cuộc đảo chánh thất bại. Rồi nếu như thế thì những gì chúng tôi nói với một người trong vị trí có nhiều ảnh hưởng của Thuận sẽ được sử dụng để chống lại Hoa Kỳ. Có lẽ chúng tôi biết được tình hình chung tốt hơn Thuận, đặc biệt là về tình thế tuyệt vọng của Diệm, nhưng chúng tôi cũng không biết gì nhiều hơn ông ấy về cái hạn chót dành cho các bộ trưởng của Diệm.

Ông người Mỹ nói: “Ông Bộ trưởng, chúng tôi chỉ biết những gì nghe được trong ra-đi-ô.” Rõ ràng là Thuật thúc giục rất dữ dội, rằng hãy cho ông một lời khuyên. Ông người Mỹ cầm ống nghe điện thoại với những ngón tay nhớp nháp dính thịt heo và đậu và nhắc lại: “Chúng tôi chỉ biết những gì nghe được trong ra-đi-ô.” Thuận cứ khăng khăng. Ông người Mỹ cứ nhắc đi nhắc lại cùng câu nói đó, càng lúc càng ngượng ngùng hơn. Sau năm hay sáu phút ông nói: “Chào ông, ông Bộ trưởng.” Rồi ông ta đặt điện thoại xuống, nhìn quanh phòng nhưng không biểu lộ điều gì và với tay cầm lấy một cái ly giấy ướt rượu bourbon. Không ai nói điều gì. (Chúng tôi nghe được sau này, rằng Thuận thực sự là đã xin từ chức trước hạn chót, và là bằng điện thoại nói chuyện với Bộ Tổng Tham mưu. Ông bị quản thúc tại gia, nhưng cuối cùng có thể rời khỏi đất nước đi sang Paris.)

Ngay sau đó, một nhân viên sứ quán bước vào phòng và báo rằng có một đoàn xe tải đã được tổ chức mà người ta có thể dùng nó để di tản những người Mỹ sống ở gần Dinh.

Ông ấy nói rằng ông có địa chỉ của khoảng sáu mươi người Mỹ sống ở khu đó. Liệu chúng tôi có nên làm việc này hay không, cho tới chừng nào còn có thời gian, vì cuộc tấn công vào Dinh rõ ràng là sắp sửa xảy ra? Người ta có thể mang những người Mỹ đó tạm thời vào nhà ở của bên quân đội.

Quyết định là này hết sức khó khăn. (Sáu đến tám người của USIS nằm trong con số sáu mươi người đó.) Chúng tôi hoàn toàn không biết trận đánh rồi sẽ diễn ra như thế nào. Ví dụ như có khả năng là phe đảo chánh sẽ chiếm một vài tòa nhà có người Mỹ sống ở trong đó (một trong những tòa nhà quan trọng nhất nằm đúng đối diện với Dinh) để làm nơi chỉ huy chiến đấu. Nếu như Diệm lôi kéo được lực lượng tăng viện từ ở bên ngoài Sài Gòn thì trong trung tâm thành phố có thể sẽ xảy ra chiến tranh trên đường phố ở khắp mọi nơi. Hay là sẽ có một cuộc bao vây kéo dài phong tỏa cả những người Mỹ ở trong vùng giữa hai chiến tuyến.

Mặt khác, chỉ một vài người trong số sáu mươi người Mỹ này là có điện thoại, và sẽ tốn rất nhiều thời gian để thông báo cho họ biết bằng những người liên lạc. Các xe tải đó có thể sẽ phải ở trong vùng nguy hiểm nhiều hơn một tiếng đồng hồ, cho tới khi gọi được tất cả những người đó đến. Trong lúc đó, chiến sự có thể sẽ bùng nổ và mang lại nhiều nguy hiểm cho những người được di tản đang ở trên đường phố hơn là khi họ ở lại nhà. Ngay cả khi mọi việc suôn sẻ thì chúng tôi vẫn còn có nguy cơ của một cuộc hoảng loạn. Các gia đình ở rìa của vùng nguy hiểm, những người không được di tàn, có thể sẽ trách cứ chúng tôi. Và có lẽ điều đó sẽ là không thể, giao hẹn những biện pháp phòng ngừa trước với cả hai bên, rằng chúng tôi được phép tự do lái những chiếc xe tải đó đi lại trong giờ giới nghiêm. Chúng tôi có lý do để dự tính rằng đặc biệt là những người bảo vệ Dinh, trước tình trạng tuyệt vọng của họ, sẽ dễ bị giật mình và dễ nổ súng.

Vì vậy mà chúng tôi quyết định không mạo hiểm – ít nhất là trong khoảnh khắc này. Chúng tôi đã đúng với các nhận định của chúng tôi. Không có một người Mỹ nào bị thương trong toàn bộ thời gian lộn xộn này.[1] Nhưng nó là một trò chơi may rủi và là một ví dụ tốt để hiểu được một chức vụ “với mức độ khó khăn cao” là như thế nào.

saigon_1_11_63_02
Đường phố Sài Gòn sau đảo chánh 1/11/1963

Khi chúng tôi lại trở lên mái nhà trong khoảng mười hai giờ ba mươi và một giờ sáng, trời vẫn còn mưa nhỏ. Thành phố nằm im lìm và bí ẩn trước chúng tôi, đèn của nó sáng nhưng các con đường vắng tanh, ngoại trừ những nhóm quân lính và xe tăng bao vây Dinh. Nhạc khiêu vũ vang rè rè ra từ một chiếc ra-đi-ô. Vài người nói chuyện với nhau một cách chán nản. Phần lớn người xem đứng dựa vào cái lan can cao và quan sát thành phố . Có lẽ họ cố, cũng như tôi, tưởng tượng những gì đang xảy ra trong Dinh. Đội bảo vệ Dinh có củng cố các vị trí phòng thủ của họ không? Diệm và Nhu có tiếp tục gọi qua vô tuyến trong Dinh để yêu cầu giúp đỡ hay không? Hay họ chờ xem màn đêm sẽ mang  lại những gì? Tôi đoán là khả năng cuối này, ít nhất là cho Diệm.

Không có điều gì đúng cả. Diệm và Nhu đã lén trốn ra khỏi Dinh vào lúc khoảng tám hay chín giờ tối. Nhưng không ai biết điều đó cho tới sáng ngày hôm sau, cả sứ quán lẫn những người dẫn đầu cuộc đảo chánh lẫn quân đội của phe đảo chánh – cả những người bảo vệ Dinh, những người mà đã sẵn sàng chết cho một ông tổng thống đã bỏ mặc họ.

Bất thình lình, sự im lặng của đêm khuya bị xét nát bởi tiếng hú lớn dần mà chỉ có thể xuất phát từ một quả đạn pháo. Tôi nằm rạp xuống sau lan can, những người khác cũng vậy, những người mà đã từng nghe được cái tiếng động đầy sự đe dọa ấy. Ánh sáng lóe lên ở phía trên chúng tôi, vài giây sau đó là tiếng xòe lửa, và rồi chúng tôi nhìn thấy magnesium đang cháy, lơ lửng giữa chúng tôi và Dinh. Nó trôi về phía chúng tôi và nhúng cả khu phố vào trong một thứ ánh sáng trắng xóa mà người ta có thể nhìn thấy được hình dáng sắc nét của những cái cây ở cạnh Dinh như vào lúc ban ngày. Sau vài phút, nó rơi xuống đường, và gần sát Sứ quán cho tới mức chúng tôi có thể nhìn thấy một đám tia lửa khi nó va vào một tòa nhà trong lúc rơi xuống.

Viên đạn rõ ràng là xuất phát từ một khẩu pháo của những người đảo chánh ở phía bên kia sông. Trong một khoảnh khắc, chúng tôi lo ngại suy nghĩ, không biết người ta có muốn chiếu sáng Sứ quán hay không – ở gần đây không còn tòa nhà nào khác quan trọng – và nếu đúng như vậy thì tại sao. Nhưng dường như đó chỉ là một nhầm lẫn của những người lính pháo binh đã ước lượng sức gió quá thấp. Vài phút sau đó, một quả đạn pháo khác hú xuyên qua màn đêm, và lần này thì magnesium cháy đúng trên Dinh, điều còn lập lại nhiều lần trong vòng hai giờ đồng hồ tiếp theo. Chúng tôi cho rằng qua đó, người ta muốn xem xét sự chuẩn bị của những người bảo vệ Dinh, có lẽ là kết hợp với một người quan sát trong một của những chiếc máy bay vẫn còn bay vòng vòng trên thành phố.

Vào lúc bốn giờ sáng, những người đảo chánh tấn công. Lúc đầu, âm thanh khục khục của một khẩu súng máy 50 vang lên, tiếp theo sau đó là tiếng vang ầm ầm của một khẩu pháo 7,5 trên xe tăng. Tiếng ồn hoang dại của một trận đánh bùng nổ và kéo dài không ngưng chừng nửa giờ đến bốn mươi lăm phút. Những người nổi dậy đã đưa xe tăng hạng nặng, xe bọc thép trinh sát và xe bọc thép chở quân ra mọi con đường và ở khắp những nơi họ có thể bắn vào Dinh được. Họ bắn vô số đạn và khép dần vòng vây lại khi tiếng súng kháng cự của những người bảo vệ giảm dần. Giữa tầng năm và tầng sáu của những ngôi nhà cao tầng, tiếng gầm lên của những khẩu súng thật đáng sợ hơn những gì tôi đã trải qua trong những trận đánh nóng bỏng hồi Đệ nhị Thế chiến. Trên mái nhà của chúng tôi, chỉ cách có sáu khu phố, chúng tôi chỉ có thể gào thét lên để người kia hiểu, và ngay điều đó thỉnh thoảng cũng không thành công.

Từ góc nhìn của mình, chúng tôi chỉ nhìn thấy được các mái nhà và ngọn cây quanh Dinh, nhưng không nhìn thấy các con đường. Chúng tôi có cảm giác như đang quan sát một ngọn núi lửa không còn yên lặng, một ngọn núi lửa đang phun những ngọn lửa và khói chết người của nó xuyên qua tầng đá cổ xưa ở chân của miệng núi lửa của nó.

Trước bối cảnh ma quái tàn bạo không suy giảm đó, những đường đạn lửa đỏ tươi kéo dài qua màn đêm, chúng vẽ thành một vòng cung thanh lịch trên thành phố, rơi xuống nhà cửa và đường xá và vẽ nên những hình thù quái dị nhất lúc dội bật ra. Thỉnh thoảng có tiếng nổ thật dữ dội, lửa lóe lên lác đác, chiếu sáng trong khoảnh khắc những ngôi nhà chung quanh đó một cách đáng sợ và rồi lại lụi tàn đi. Những chiếc dù pháo sáng xuất hiện trong những khoảng thời gian càng lúc càng ngắn hơn, chúng nhỏ lửa xuống, trong khi trôi dạt vào trong cái nồi sôi sục ấy, và chiếu sáng những đám khói cao đang chậm chạp kéo đi qua thành phố về phía bên phải của chúng tôi.[2]

Một chiếc xe bị trúng đạn – một chiếc xe chở lính, như chúng tôi nhận ra sau này – và nổ tung lên trong một quả cầu lửa màu cam. Sau đó, đạn nổ trong từng khoảng thời gian và lần nào cũng có những ngọn lửa sáng bắn lên cao. Cái xác xe cháy âm ỉ với làn khói dầu nhớt đen kịt bốc lên từ đó trở thành một cái không đổi ảm đạm trong chiếc kính vạn hoa di chuyển liên tục của cơn ác mộng này.

Câm lặng và bị thu hút, chúng tôi nhìn chăm chú từ trên mái nhà của sứ quán. Thỉnh thoảng có một viên đạn lạc bay rít lên trên chỗ chúng tôi, và chúng tôi nấp xuống ở phía sau lan can. Thế nhưng vụ bắn nhau này vướng lại ở giữa những ngôi nhà cho nên không có nguy hiểm thật sự cho chúng tôi.

Khi cảnh tượng đáng sợ ấy cứ tiếp tục và gần như đã trở thành một tình trạng bình thường đầy đau buồn cho những người đứng xem thì họ bừng tỉnh dậy từ trạng thái hôn mê của họ. “Ước gì họ chiến đấu chống Việt Cộng cũng như thế”, một giọng nói cất lên trong màn đêm. “Anh biết là ai trả tiền cho tất cả đạn dược đấy, đúng không?” một người khác nói. “Đó là người đóng thuế bên Mỹ.” Một giọng nói thứ ba, rõ ràng là của một nhà quân sự, nhận xét: “Đây hẳn là lần đầu tiên mà xe tăng dùng được việc. Trong chiến tranh chống du kích thì chúng hoàn toàn vô giá trị.” Một người thứ tư nói: “Chúng ta có dạy họ bắn một dinh thự như thế nào không?” Không ai trả lời. Những gương mặt, chỉ được chiếu sáng bởi lửa cháy của trận chiến, cứng đờ và không biểu hiện một cảm xúc nào.

saigon_1_11_63
Góc Pasteur – Lê Thánh Tôn, phía sau dinh Gia Long

Vào khoảng sáu giờ ba mươi sáng, tiếng súng bắn giảm dần, chỉ thỉnh thoảng những bước tường nhà mới ném ngược trở lại tiếng vang của lần bắn một khẩu pháo trên xe tăng hay của một khẩu súng máy. Trong những tia sáng bình minh đầu tiên, thành phố trông có màu xám của thép, trống trải, im lặng và không người, một mấy khói trải dài cho tới chân trời. Nó đứng yên trên bầu trời mang màu xám của đá phiến, giống như được vẽ lên trên đó. Vào khoảng sáu giờ bốn mươi lăm, đài phát thanh tuyên bố Dinh đã bị chiếm.

Vào lúc bảy giờ, tôi trở về văn phòng của tôi. Đường xá còn vắng tanh, giờ giới nghiêm vừa mới chấm dứt. Tòa nhà USIS không bị hư hại, cũng không nhìn thấy được sự tàn phá nào ở chung quanh. Trên lầu, tôi gặp Sheppard, sôi động và với đôi mắt sáng ngời, mặc cho cái núi từ những đầu mẩu thuốc lá nói lên rất nhiều điều. Anh ấy vừa mới từ Dinh trở về, nơi anh như là một cựu chuyên viên phim đã quay được cả một cuộc phim. Hai giờ đồng hồ liền, trong lúc trận đánh xảy ra, anh ấy đã quay tất cả những gì mà anh nhìn thấy được trên khu đất của Dinh từ trên mái của “Rex”. Tôi nói, rằng đó chắc hẳn phải là một đêm kinh khủng, theo những gì chúng tôi nhìn thấy và nghe được ở Sứ quán.

“Rất ồn ào”, anh ấy nói, “nhưng ít máu.”  Đó là tất cả những gì tôi có thể moi ra được từ anh ấy. Trong Chiến tranh, Sheppard đã từng là phi công, trong những tình huống khó khăn, anh ấy rất tỉnh táo và hành động hợp lý, một nhân viên có tài.

Chúng tôi chạy một vòng ngắn qua thành phố. Quân đội phe đảo chánh đã tạo một vòng vây quanh Dinh, nhưng thật ngạc nhiên là ít nhìn thấy sự tàn phá: một vài lỗ đạn pháp trong tường, hàng trăm lỗ nhỏ của đạn súng cá nhân và mảnh lựu đạn, nhưng hoàn toàn không có những đống đổ nát như tôi tưởng. Các ngôi nhà quanh đó cũng có tình trạng tương tự như vậy. Chính quyền mới sẽ tái thiết hoàn toàn Dinh này trong vòng chưa tới một tháng sau đó.

Bây giờ thì trên đường phố đầy người và xe cộ. Phần lớn cảnh sát viên đã tự giải ngũ, vì họ sợ chính quyền mới đàn áp[3]. Vì vậy mà không có ai để điều khiển giao thông. Nhưng không ai cảm thấy phiền hà. Người Á không phải là những người bốc đồng, và người Việt, sau những năm dài vô tận của chiến tranh và hỗn loạn, hết sức dè dặt kín đáo. Ở đấy ít thấy được sự vui mừng sôi nổi tràn đầy như tôi đã nhìn thấy nó ở Pháp trong năm 1944 trong thời gian giải phóng. Nhưng có một làn gió mới đang thổi, người ta cảm nhận được một niềm hy vọng mới và sự giải phóng khỏi áp lực của Diệm bất tài và kỳ quặc và gia đình của ông ấy.

Tiếp theo sau đó trong buổi sáng, khi ý nghĩa của những sự việc hồi ban đêm đã có thể được nhận thấy rõ trong toàn bộ quy mô của nó, người ta hay nhìn thấy những đám đông người nâng những người lính đảo chánh lên vai họ. Đám đông tấn công – có lẽ là bốc đồng, có thể cũng không phải thế – nhiều tòa soạn báo chí và phóng hỏa đốt chúng, trong số đó là tờ Times of Vietnam (bà Gregory lánh nạn trong đại sứ quán) và một tiệm bán sách thuộc gia đình Ngô Đình. Ngoài ra bức tượng hai bà Trưng mà bà Nhu cho dựng cũng bị giật sập.

Sheppard và tôi cảm nhận được một tình thân hữu đối với người Mỹ chúng tôi.

Nếu như trước đây người ta đến gặp chúng tôi với một nét lịch sự lạnh nhạt thì bây giờ người ta nhìn chúng tôi mỉm cười, thậm chí còn vẫy ta chào hay vỗ tay. Đó có thể là một dấu hiệu rằng người ta – dù đúng hay sai – tin rằng người Mỹ đã nhúng tay vào trong cuộc đảo chánh này. Nhưng nụ cười đó có đồng nghĩa với sự biết ơn hay không? Hay chỉ là một sự kính nể mới trước quyền lực của Hoa kỳ? Tôi nghĩ rằng đó là sự biết ơn, nhưng chúng ta sẽ không bao giờ biết chính xác được.

Từ Dinh, chúng tôi chạy dọc theo đại lộ Thống Nhứt đến trang trại của đội bảo vệ Dinh. Cả ở đây, chúng tôi cũng không nhìn thấy được sự tàn phá mà tôi đã chờ đợi sau cuộc bắn phá vào buổi chiều tối. Các con đường đầy những cành cây bị giật xuống từ cây cối. Những ngôi nhà ở bằng gỗ đầy lỗ đạn giống như những vết sẹo đậu mùa và cũng có cả hai hay ba lỗ thủng lớn của những vết đạn bắn trúng trực tiếp, nhưng phần lớn chúng vẫn còn nguyên vẹn. Cả ở đây, rõ ràng là người ta cũng bắn bừa bãi, đặc trưng cho những người lính kém cỏi trong cơn hoảng loạn. Nếu như Việt Cộng bảo vệ Dinh thì chắc phải cần nhiều hơn một tháng rất nhiều để sửa chữa nó.

Nhưng bắn súng bừa bãi thì thường lại trúng vào một cái gì đó. Khi chạy khỏi những căn nhà đó trên một con đường phụ, chúng tôi chạy ngang qua một chiếc Vespa có nhiều vết máu nằm trên rãnh nước, có một chiếc xăng-đan nằm cạnh bên mà vẫn còn có một cái chân người ở trong đó.

Ghi chú:

[1] Bốn người Mỹ và hai cô thơ ký người Úc đã ở cả đêm đó trong một căn hộ gần Dinh và đã quan sát những viên đạn lửa bay ngang qua cửa sổ. Sau trận chiến, họ tìm thấy một mảnh lựu đạn nhỏ trên tấm thảm chà chân trước cửa, nó nóng cho tới mức không thể sờ vào nó được. Một cô gái đã  cho ép nó vào khung.

[2] Người ta bắn dữ dội và không ngưng cho tới mức một đội quay phim truyền hình Pháp có thể quay cả một cuốn phim gây chấn động về trận chiến này chỉ trong ánh sáng của chớüp lửa đầu nòng súng.

[3] Ngay sau khi cuộc đảo chánh bắt đầu vào chiều ngày thứ sáu, một cảnh sát lao vào văn phòng của Pan American World Airways, hấp tấp xin lỗi cô gái Việt đang làm việc tại đó, lột bỏ bộ cảnh phục, mặc bộ quần áo đen nông dân mang theo, cảm ơn sự hiếu khách của cô gái đang hết sức ngạc nhiên rồi biến mất.

(Còn tiếp)

John Mercklin

Phan Ba dịch từ sách “Mission in Torment”, John Mecklin, Chương 8 “Những thay đổi nhân sự”

Nguồn: phanba.wordpress.com/2019/11/01/ngay-dao-chanh-ngo-dinh-diem-ii/