Cha Danh - 22. Lính chữa lửa hon (Phạm Ngọc Lân)

Lượt xem: 999

“…Phải nói trường Adran (3) thời đó có con cái của giới thượng lưu, kể cả con các nhân vật chính trị lẫn các thương gia giàu có…”

Trường Adran năm 1952 là một trường tiểu học và trung học đệ nhất cấp, từ lớp 12è đến lớp 3è (1).

Lớp 9è của Long nằm trong một căn nhà hầm dưới nhà nguyện của trường. Gọi là « nhà hầm » không đúng hẳn vì chỗ đó là cái dốc đồi, nên một bên phải xuống cầu thang như đi xuống hầm, nhưng mặt kia của lớp có một cửa ra vào và một cửa sổ rất lớn, đều là cửa kính, nhìn ra rừng thông thưa thớt nên khá sáng sủa. Sau khu rừng này là sân đá banh, cũng là hết địa phận của trường. Ngôi trường nằm giữa rừng thông, không có bức tường hay hàng rào nào bao bọc cả.

Long học hai năm trong cái nhà hầm đó, vì hai lớp 9è và 7è nằm cạnh nhau. Còn lớp 8è lại nằm trong ngôi nhà chính của trường, cùng với ba lớp nhỏ nhất là 12è, 11è và 10è. Ngôi nhà ba tầng này đón chào học sinh và phụ huynh ở cuối đường Bá Đa Lộc, con đường ngắn bắt đầu từ ty Ngân Khố. Lầu 1 là phòng ngủ lớn của học trò nội trú tiểu học, lầu 2 dành riêng cho các sư huynh, học sinh không được bén mảng đến nên không ai biết lầu 2 này có những gì. Còn tầng trệt có 4 lớp học, với phía trước ngay cửa vào là văn phòng của Sư huynh Hiệu trường, phòng tiếp khách, và một phòng của Sư huynh quản lý tài chánh, hồi đó tiếng Pháp gọi là « Procureur », cha mẹ học sinh đến đóng tiền học tại đấy.

truong_adran_dalat
Ngôi nhà chính trường Adran, cuối đường Bá Đa Lộc. Hình chụp ngày
12-12-1961, khi học sinh các lớp lớn diễn hành ra ngoài phố tham dự
một buổi lễ quy tụ học sinh các trường ở Đà Lạt.

Đặc biệt ngay cửa chính vào phòng khách có một con cọp trắng ngồi nhe răng dọa dẫm ai không biết, trông có vẻ oai phong lẫm liệt lắm ! Phụ huynh đến trường ai cũng trầm trồ khen con cọp đẹp, ai cũng vuốt bộ lông trắng có vằn đen thật mịn màng. Đâu phải dễ gì có dịp vuốt lưng cọp, nói chi đến chuyện vuốt râu hùm! Nhưng niềm tự hào của nhà trường ở chỗ đây là một món quà tặng của vua Bảo Đại, một con cọp do chính ông săn được, tặng làm kỷ niệm cho trường vì có một thời thái tử Bảo Long (2), đã học tiểu học ở đây. Phải nói thêm là cọp trắng thuộc loại rất hiếm, thông thường là cọp vàng, nên món quà  này của vua Bảo Đại lại càng thêm giá trị. Khi có dịp lên văn phòng, thế nào Long cũng tìm cách thò ngón tay vào một lỗ nhỏ ở cổ con cọp này, nghe nói đó là lỗ viên đạn xuyên qua cổ đã bắn chết con vật xấu sốnày.

Phải nói trường Adran (3) thời đó có con cái của giới thượng lưu, kể cả con các nhân vật chính trị lẫn các thương gia giàu có. Lợi điểm của trường là có khu nội trú trong khung cảnh mát mẻ của Đà Lạt với kỷ luật nghiêm minh của các sư huynh dòng Lasan. Đó là nói về học sinh nội trú, còn học sinh ngoại trú không nhất thiết là con nhà giàu, nhưng cũng phải có tiền đóng học phí, ngoại trừ những trường hợp như Long, học phí do cơ quan xã hội của chính phủ Pháp đài thọ. Long nghĩ có lẽ gia đình mình nghèo nhất trong đám. Cũng phải biết rằng khi dòng các Sư huynh Lasan được thành lập bên Pháp vào cuối thế kỷ 17, chủ trương của ông thánh Jean-Baptiste de La Salle là mở trường giúp đỡ cho con cái người nghèo có nơi đihọc.

Cũng như trường Jauréguiberry ở Sài Gòn trước kia, trường Adran có một nhà chơi rộng, làm cầu nối giữa ngôi nhà ba tầng và một nhà trệt dài làm phòng ngủ cho học sinh nội trú trung học. Nhà chơi có mái, một bên có tường với kính phía trên, bên kia mở ra sân chơi thấp hơn, có tam cấp đi xuống, khi trời mưa học sinh vẫn có chỗ chơi. Trong nhà chơi kê hai cái bàn ping-pong, ngoài ra cũng là nơi lý tưởng để chơi vụ (con quay). Long cũng có con vụ như các bạn khác, vụ nhỏ thì làm bằng lõi chỉ, thời đó cuộn chỉ có lõi bắng gỗ, tiện thành con quay rất dễ. Nhưng vụ lớn hơn phải làm bằng loại gỗ nặng và to hơn lõi chỉ, có thể dùng sợi dây quất cho nó quay liên tục. Và loại vụ này mới dùng trong trò « đá vụ » được : hai cái vụ quất bằng dây cho nó đập vào nhau, cái nào bị nhào đổ trong khi cái kia vẫn tiếp tục quay làthua.

Giống như ở trường Jauréguiberry, nhà chơi trường Adran cũng là nơi tổ chức lễ phát thưởng vào cuối năm học trước khi nghỉ hè. Và Long cũng được lên lãnh thưởng, nhưng bây giờ không còn là hạng nhì nữa mà là hạng nhất trong suốt thời gian học ở đấy. Bà ngoại và mẹ của Long năm nào cũng đến để nhìn tận mắt con cháu mình leo lên khán đài lãnh thưởng, trong lòng rất vui và hãnh diện nhưng ngoài mặt không dám lộ ra vẻ gì với các phụ huynh khác, họ toàn là giới sang trọngcả.

concop_adran
Con cọp trắng trong văn phòng được mang ra ngoài để chụp hình.
Tác giả với Sư huynh Léopold và 3 bạn Trần Quý Minh, Nguyễn Văn Quý và Đỗ Đức Hiển, 1958.

Nhưng đó là chuyện cuối năm. Hằng ngày cậu bé Long cắp sách đến trường, đi về bốn lần trong ngày vì trưa về nhà ăn cơm. Gọi là « cắp sách » nhưng thật ra bà Quy đính vào cái cặp da của Long hai cái quai vải rất chắc lấy từ một cái ba-lô nhà binh ra, nên Long đeo cạc-táp trên lưng chứ không phải xách nặng vẹo sườn như các bạn khác. Thời đó ở Đà Lạt có lẽ chỉ có Long đeo cái cặp trên lưng như thế. Nhờ vậy mà hai tay rảnh nên nhiều khi Long vừa đi vừa đọc sách, vậy mà chưa khi nào bị đụng cột đèn cả!

Từ khi sống trong khu khách sạn Việt Nam, đi học Long phải băng qua con đường ngay gần cầu Bá Hộ Chúc, bên kia là một bãi trống có cái xe « ủi lô» (4) cũ kỹ để đó từ bao giờ, và đặc biệt có một thùng nhựa đường nằm đổ bên cạnh, thùng bằng sắt có cái miệng là một lỗ tròn, nhựa tràn ra theo cái miệng đó. Nhựa đường là một nguồn cảm hứng vô tận cho đám con nít như Long. Đặc biệt có một công dụng mà chỉ mấy đứa chơi đá dế mới có sáng kiến: cậy một miếng nhựa từ cái thùng, vê lại thành một viên nhỏ bằng đầu con dế, rồi bứt sợi tóc cắt ra làm hai khúc ngắn gắn vào viên nhựa như hai cái râu con dế, đầu  kia cắm vào cây tăm. Đó là dụng cụ dùng để ngoáy vào đầu con dế lửa cho nó hăng lên trước khi đá với một đấu thủ dế lửa hay dế than thật !

Qua bãi trống đó rồi lại băng qua con đường nữa trước khi lên một con hẻm đi tắt lên tòa thị chính Đà Lạt trên đường Yersin (thời đó là tòa thị chính, về sau ngôi nhà này biến thành thư viện thành phố, còn tòa thị chính dời lên tòa tỉnh cũng đường Yersin, nhưng qua khỏi đường Bá Đa Lộc). Con hẻm này lên dốc, hai bên có nhiều nhà, có cả một dãy nhà cư xá công chức ở đấy. Một hôm đi học buổi trưa, Long thấy người ta tụ tập đông đảo nhìn vào một căn nhà ngay sát hẻm, Long cũng tò mò nhìn vào thì thấy có người mặc quần áo màu lòe loẹt múa may gì đấy, chung quanh có người ngồi đàn hát nghe vui tai lắm. Mấy người chung quanh nói họ đang lên đồng. Long đứng xem mê mẩn màn lên đồng quên cả giờ, sau phải cong đít chạy đến trường thay vì đi thong thả như mọi khi ! Bình thường thì Long luôn đến sớm mươi mười lăm phút cho chắc ăn, và buổi trưa cũng là để leo lên ngọn đồi thông ngay trước khi vào trường. Một ngọn đồi thoai thoải, không có gì đặc biệt nhưng là kỷ niệm ấu thơ của Long khi lang thang lên tới đỉnh đồi, tìm nhặt vài quả thông đẹp nhất về bày ở thành cửa sổ, đứng thơ thẩn nhìn xuống con đường ngoằn ngoèo phía dưới. Rất tiếc là sau này, khi chiến tranh bắt đầu lan tràn đến vùng phụ cận của Đà Lạt, ngọn đồi này bị rào lại bằng giây thép gai rất kiên cố, vì trên đỉnh đồi xây một khu trại giam ngay sau tòatỉnh.

Buổi sáng trước khi đi học, Long có nhiệm vụ đi mua bánh mì ở tiệm Vĩnh Chấn ngoài phố. Phố không xa lắm, Long chỉ cần qua cầu Bá Hộ Chúc rồi đi thẳng leo lên mấy chục bậc thang rất rộng và rất cao, bên phải là hai dãy nhà của ấp Ánh Sáng nhìn xuống vườn rau dọc theo bờ suối. Hết bậc thang đến con đường đi qua rạp xi-nê Ngọc Lan bên trái, bên phải nhìn xuống hồ Xuân Hương và bến xe Minh Trung (bến xe đò chung nhưng cứ gọi là bến xe Minh Trung vì hãng này có nhiều xe nhất và nổi tiếng với những chiếc xe nhỏ Peugeot 203 chạy đường Sài Gòn Đà Lạt, nhanh hơn xe đò lớn, nhưng phải ngồi chen chúc như cá hộp !). Sau này có xe phở đậu bên phải đường ngay trước cửa rạp xi-nê nên người ta gọi là phở Ngọc Lan, về sau dời xuống phía dưới chỗ bến xe có quán hẳn hoi không còn là xe phở nữa, và trở thành một trong những quán phở nổi tiếng của Đà Lạt. Qua rạp Ngọc Lan bên trái có dãy nhà có lẽ là cư xá công chức, còn bên phải là mấy cái quán vuông vức gọi là « kiosques » be bé xinh xinh, trong đó nổi tiếng là tiệm kem Việt Hưng mà chẳng mấy khi Long được ăn kem ở đấy.

Cuối đường là đến chợ Đà Lạt (sau này là rạp hát Hòa Bình, khi khu chợ mới được thiết lập phía dưới thung lũng). Tiệm Vĩnh Chấn thuộc dãy nhà nhìn ra chợ, nổi tiếng vì có lò bánh mì rất ngon. Sáng ra bánh mì nóng hổi, ăn không cũng quá ngon, chẳng cần phải ăn vớigì (5)…

Cả đi cả về lẫn mua bánh mất nửa giờ, buổi sáng đi bộ như thế trong không khí trong lành của Đà Lạt nên cậu bé Long sau này khỏe mạnh về thể xác, nhưng lúc đó đâu ai có nghĩ gì về chuyện có lợi cho sức khỏe đâu, việc phải đi thì cứ đi thôi. Nhiều hôm không kịp giờ đi mua bánh mì, mẹ phải cho Long tiền mua đồ ăn sáng trên đường đến trường.

Hàng quà vừa ngon cũng vừa túi tiền của Long là bánh mì xíu mại ở đầu đường Nhà Chung, con đường qua khỏi nhà thờ rẽ phải đi vào trường Trí Đức. Bà bán bánh mì buổi sáng gánh hàng ra ngồi bên lề đường, một bên thúng có cái lò than nhỏ ở giữa, trên đó có nồi xíu mại nóng, chung quanh xếp những ổ bánh mì nhỏ, có cái bao bố vòng quanh phủ lên để giữ cho bánh mì nóng. Bánh mì thơm mùi bánh mì, xíu mại thơm mùi xíu mại, buổi sáng đi qua đó bụng đói thì không cỏn món gì ngon hơn ! Xíu mại do bà hàng làm lấy từng viên to, mua một ổ bánh và một viên xíu mại, bà hàng cẩn thận xẻ một bên ổ bánh (không bỏ ruột bánh mì như nhiều hàng của người Việt bây giờ hay làm, người Pháp ăn bánh mỉ không khi nào bỏ ruột), cho viên xíu mại to vào trét đều ra, rưới thêm tí nước sốt… chỉ có thế, không nhiều thứ phụ tùng như bánh mì thịt sau này. Vậy mà sao nó ngon thế ! Hôm nào không có tiền mua xíu mại, chỉ có bánh mì không, bà hàng cũng xẻ bánh mì và rưới cho ít nước sốt ! Chẳng là con bà cũng học trường Adran với Long, trên Long một hai lớp gì đấy.

Long đi bộ ngày bốn lần trên con đường này, đôi khi gặp bạn đi xe đạp đề nghị leo lên cho nó chở.  Đặc biệt có một thằng bạn cùng lớp nhưng lớn tuổi hơn, to cao hơn, hay gặp Long khúc đường Bá Đa Lộc sắp đến trường, lần nào cũng rủ « Mày leo lên tao chở », lần nào Long cũng trả lời « Gần tới nơi rồi, mày chạy nhanh tao sợ lắm ». Lần nào nó cũng chê « Sao mày nhát quá, tao chưa thấy đứa con trai nào nhát như mày ». Một hôm buổi trưa trên đường đến trường, Long nghe nó nói mãi cũng thấy mình nhát thật, cho nó chở một lần thì đã sao. Nhưng xe của nó không có poọc-ba-ga đằng sau, phải leo lên ngồi trên thanh ngang phía trước. Buổi trưa để cặp sách ở trường, đi tay không nên leo lên ngồi phía trước không có vấn đề. Thằng khỉ gió biết là Long nhát, nên khúc gần đến trường xuống dốc, đường lại vòng quanh qua trái rồi qua phải, nó thả dốc cho xe phóng thật nhanh, Long sợ quá bám chặt vào ghi-đông, không ngờ ghì cứng quá thằng bạn không lái được, thế là đến khúc quanh xe phóng thẳng vào bụi dứa gai bên lề đường! May quá mặt mày không sao, nhưng tay chân sứt sẹo chảy máu do bị gai đâm! Thằng bạn cũng tái mặt, không ngờ muốn hù thằng bạn nhát gan thì chính mình cũng là nạn nhân đầu tiên!

Loại dứa gai ở Đà Lạt mọc khá nhiều bên đường, lá thon dài, cứng và viền gai tua tủa, nhìn xa rất đẹp mắt. Người ta nói lâu lắm, có thể cả chục năm, cây này mới cho một phác hoa cao lên đến 4, 5 thước, nở hoa rất lâu, chỉ một lần thôi, xong là cây chết.

Nói về cây cối thì Đà Lạt có loại hoa giống hoa đào màu hồng phấn, nhưng hình dáng giống hoa mai vàng trưng Tết ở Sài Gòn, sau này người ta gọi là « mai anh đàoi» (6). Cây này ở Việt Nam chỉ có trên cao nguyên Đà Lạt mà thôi. Hoa được trồng dọc theo nhiều con đường, hoa nở vào mùa xuân nhưng sau đó kéo dài nở đều đều khá lâu.

mai_anh_dao
Một cây mai anh đào đang trổ hoa trên đồi gần Domaine de Marie

Một loại cây khác cũng đặc trưng của Đà Lạt là mimosa, hoa vàng từng chùm nhỏ, mùi thơm rất nhẹ nhàng. Trên thế giới có rất nhiều loại mimosa, nhưng ở Đà Lạt thời đó người ta chỉ phân biệt hai loại : mimosa lá tròn có ánh bạc rất đẹp, và mimosa lá dài. Hoa không nở rộ trong thời gian ngắn mà nở trong thời gian dài rất lâu, tỏa hương thơm ngát. Vùng bờ biển Địa Trung Hải của Pháp cũng có loại mimosa rất thơm, nhưng chỉ nở rộ trong vòng mấy tuần cuối đông đầu xuân, các hãng nước hoa trong vùng lấy hoa về dùng làm một nguyên liệu để chế biến các loại nước hoa nổi tiếng thếgiới.

Nhưng nói đến Đà Lạt phải nói đến cây thông. Thông Đà Lạt thân thẳng đứng, dáng kiêu sa, và đặc biệt là chỉ cần gió nhẹ là reo ngay. Đó là loại thông « ba lá », người ta gọi thế vì mỗi lá thông gồm có ba lá dài, vừa đủ mềm để cọ vào nhau khi có gió, nên phát ra một âm thanh réo rắt, khi vui thì thấy thông reo vui, khi buồn thì nghe thông reo lại càng buồnthêm.

cay_mimosa
Cây mimosa lá bạc gần thác Datanla trên đèo Prenn

rungthong_hothantho
Rừng thông thưa thớt gần hồ Than Thở.

Khí hậu Đà Lạt mát mẻ, không khí trong lành, rừng thông bạt ngàn, rất nhiều loại hoa đẹp mà chỉ ở đây mới có. Thành phố tuy nhỏ nhưng lại có nhiều trường trung học danh tiếng như Bùi Thị Xuân cho con gái, Trần Hưng Đạo cho con trai, những trường dạy chương trình Pháp có nội trú như Lycée Yersin là trường công của Pháp, Couvent des Oiseaux cho con gái (sau này thêm trường Franciscaines), Adran cho con trai. Và nhiều trường tư thục tư Trí Đức, Bồ Đề, Việt Anh, Văn Học (7)…Sau này có Viện Đại Học Đà Lạt với nhiều phân khoa mà nổi tiếng nhất là phân khoa Chính Trị Kinh Doanh, một bộ môn mới mẻ do các giáo sư du học ở Mỹ mang về. Về quân sự có hai trường Võ Bị Quốc Gia và trường Chiến Tranh Chính Trị. Chính vì thế thành phố này tập trung giới trẻ rất nhiều, và từ xưa Đà Lạt đã nổi tiếng là một thành phố lãng mạn với những mối tình nổi tiếng trên cả nước qua văn chương, thơ phú hay chuyện kể mà sau này lớn lên Long mớibiết.

Trở về với thực tại, một nhược điểm của rừng thông là dễ bắt lửa vì gỗ thông có nhựa rất dễ cháy. Vì vậy mà nạn cháy rừng ở Đà Lạt thường xuyên xảy ra trong mùa khô. Long nhớ mãi rất nhiều tấm biển đóng vào thân cây thông với hàng chữ « Rừng của toàn dân, toàn dân chống nạn cháy rừng».

Một buổi chiều nóng, nắng đẹp, Long ngồi học trong phòng học lớp 9è ở dưới nhà hầm nhìn ra rừng thông, bỗng ngửi thấy mùi khói. Lúc đầu chỉ là một mùi thoảng qua, sau bọn con nít bắt đầu xôn xao, Sư huynh đang dạy học vội mở cửa ra ngoài xem có chuyện gì không thì thấy đám cháy rừng đang tiến từ từ về phía lớp. Cũng may chỉ là đám cháy nhỏ, cháy cây cỏ dưới chân các gốc thông, không phải đám cháy lớn, nhưng cũng có làn gió nhẹ thổi về phía lớp học. Thế là thầy giáo lấy sáng kiến kêu học trò ra ngoài chữa cháy, mỗi đứa tìm ra một cành thông hoặc nhổ một cây con dùng làm dụng cụ đập lửa. Cuối cùng đạo quân chữa lửa tí hon gần ba chục lính chưa đến 10 tuổi cũng thắng được đám cháy đe dọa lớp học của mình. Hôm đó học trò được dịp ra chơi trong giờ học, thật là một cơ hội ngàn năm một thuở!

Long nhớ mãi thầy lớp 9è lúc đó, rất trẻ, Sư huynh Noël. Sau đó lên 8è là Sư huynh Daniel, rồi 7è là Sư huynh Guibert, tất cả đều là người Việt có tên thánh khi khấn hứa trở thành thầy dòng chuyên dạy học. Hơn ba mươi năm sau, ở Ivry-sur-Seine, một ngoại ô sát phía nam Paris, có một ngôi nhà của dòng Lasan, với ba Sư huynh lớn tuổi sống ở đó: Sư huynh Pierre cựu khoa trưởng phân khoa Sư Phạm của Đại Học Đà Lạt, cựu hiệu trưởng trường Adran và nhiều trường Lasan khác, Sư huynh Adrien cựu hiệu trưởng trường Taberd (8) Sài Gòn, Sư huynh Herman cựu hiệu trưởng trường kỹ thuật Lasan Đà Lạt. Các Sư huynh tổ chức các lớp dạy kèm tiếng Pháp cho con em của người Việt mới qua tị nạn bên Pháp, và dạy tiếng Việt cho con em người Việt đã sống lâu năm tại đây. Long thường xuyên đưa hai con đến đấy vào cuối tuần để học tiếng Việt. Một hôm Long đến nơi gặp ngay ở cửa một người mặc thường phục, trông quen quen. Chỉ một giây ngập ngừng, Long nhận ra ngay là thầy dạy mình lớp 9è đã từng chỉ huy đạo quân chữa lửa, reo lên: “Frère Noël!”. Frère Noël đáp lại không cần suy nghĩ: “Con là Jean Martin, đúng không?”

Thật bất ngờ! Long quá cảm động vì không ngờ một người thầy chỉ dạy mình có một năm lúc mình mới 8 tuổi, mà bây giờ đứng trước một người gần 40 tuổi vẫn nhận ra đứa học trò ngày xưa của mình ở ĐàLạt.

Cuộc đời đôi khi dành cho ta những bất ngờ, cho thấy tình người vẫn là nền tảng của một xã hội lành mạnh.

(còn tiếp)

Phạm Ngọc Lân

Ghi chú

(1) Trung học đệ nhất cấp thời xưa (từ lớp đệ thất đến lớp đệ tứ) bây giờ là trung học cơ sở (từ lớp 6 đến lớp 9). Lớp 3è tương đương với lớp đệ tứ thời đó hay lớp 9 bây giờ. Lớp 7è tương đương với lớp nhất thời đó hay lớp 5 bây giờ. Lớp 9è tương đương với lớp ba thời đó hay lớp 3 bây giờ. Còn lớp 12è là một lớp trước lớp năm thời đó hay lớp 1 bây giờ, tương đương với lớp mẫu giáo

(2) Nguyễn Phúc Bảo Long là con trưởng của Hoàng Đế Bảo Đại và Nam Phương Hoàng Hậu, sinh năm 1936 ở điện Kiến Trung trong Đại nội Huế, được phong Đông Cung Hoàng Thái Tử, sẽ nối ngôi vua sau này. Sau khi Bảo Đại thoái vị năm 1945, Bảo Long theo học trường Đồng Khánh Huế, đến năm1947 cùng các em theo Nam Phương Hoàng Hậu qua Pháp sống ở lâu đài Thorenc ở Cannes, vùng Côte d’Azur trên bờ Địa TrungHải.

Năm 1954, Bảo Long muốn về Việt Nam theo học trường Võ bị Đà Lạt, nhưng tình thế không cho phép, ông đành theo học trường Sĩ quan Võ bị Pháp ở Saint-Cyr, sau đó là trường Kỵ binh Saumur. Ông phục vụ 10 năm trong quân đội Pháp, sau đó làm việc trong ngành ngân hàng ở Paris.

Ông suốt đời sống độc thân, tuyên bố không muốn dính dáng đến chính trị, và chết lặng lẽ tại Pháp năm 2007, hưởng thọ 71 tuổi.

(3) Trường Adran Đà Lạt tuy là một trường nhỏ trong một thành phố nhỏ, nhưng đã có con cháu nhiều nhân vật chính trị nổi tiếng học ở đấy. Ngoài Bảo Long ra, sau này sống nội trú có con của Phó tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ (Phó tổng thống thời Tổng thống Ngô Đình Diệm), có con trai lớn của ông bà Ngô Đình Nhu, đó là chỉ kể đến các trường hợp nổi tiếng nhất. Ngoài ra còn con cháu của các ông Hoàng bà Chúa bên Lào gửi qua sống nội trú ở đây. Khí hậu đặc biệt thuận tiện cho sự học hành là một trong các lý do trường được chiếu cố nhưthế.

Ở Sài Gòn đã có một trường cũng mang tên “Collège d’Adran” của dòng Thừa Sai thành lập năm 1861, sau đó chuyển cho dòng Lasan năm 1866. Trường này phải đóng cửa năm 1882 vì chính quyền thuộc địa thay đổi chính sách, không trợ cấp cho trường tư nữa, nên dòng Lasan không có phương tiện tái chánh để tiếp tục. Trường nằm ngay trước sở thú, sau này là vị trí hai trường Võ Trường Toàn và Trưng Vương.

Trường Adran Đà Lạt được dòng Lasan thành lập năm 1941, lúc đầu chỉ có các lớp tiểu học và trung học đệ nhất cấp (hết lớp 3ème). Bắt đầu từ niên khóa 1959-60 mở thêm các lớp đệ nhị cấp, học đến tú tài. Sau ngày 30 tháng 4-1975, cũng như tất cả các trường tư khác, nhà nước cộng sản đóng cửa trường và dùng phóng ốc làm cơ quan khác.

(4) Loại xe ngày xưa có 3 bánh bằng sắt rất nặng, dùng để cán đường cho bằng phẳng sau khi trải đá. Gọi là “ủi-lô” có lẽ do tiếng Pháp “rouleau compresseur” mà ra.

(5) Thời thập niên 50 lò bánh mì còn đốt bằng củi (hay than ?), sau này thay bằng lò điện, quảng cáo rầm rộ “bánh mì lò điện”, coi như bánh mì lò điện mới là ngon, nhất là ở khu Chợ Cũ Sài Gòn nổi tiếng với những người bán bánh mỉ lề đường trong giỏ cần xé. Khi tác giả qua Pháp năm 1980, đa số lò bánh mì đều là lò điện, nhưng cũng còn sót lại ít lò đốt bằng củi, những lò này quảng cáo rầm rộ “bánh mì lò củi, pain au feu de bois”, dân sành điệu phải ăn bánh mì lò củi này mới là bánh mì ngon! Đến nay rất khó còn tìm ra lò củi bênPháp.

(6) Mai anh đào là loại cây hoa đặc biệt của vùng cao nguyên Đà Lạt. Tên khoa học là Prunus cerasoides, họ Rosaceae. Đó là một loại Đào (Prunus), nhưng lại có dáng dấp của Mai (Cerasus là giống Mai, cerasoides có nghĩa là « tương tự như Mai »). Có tài liệu cho rằng vào thập niên 1930, cây Mai Anh Đào được tìm thấy mọc hoang trong rừng Đà Lạt, và được đem về trồng trong thành phố cho đến bây giờ. Các tài liệu khoa học cho biết đây là giống cây phát triển trong phạm vi từ vùng Hy Mã Lạp Sơn đến miền nam Trung Quốc, ở độ cao từ 1200 đến 2400m.

(7) Thập niên 60 tại Đà Lạt có cả một trường trung học nội trú của Mỹ, dành riêng cho con em người Mỹ phục vụ tại Việt Nam, nhưng chỉ đến năm 1965 phải đóng cửa vì quân đội Mỹ nhảy vào trực tiếp tham chiến ở Việt Nam, tất cả gia đình vợ con của người Mỹ đang sống ở Việt Nam được lệnh phải rời khỏi ngay vì vấn đề an ninh.

(8) Trường Trung học La San Taberd nằm trên đường Nguyễn Du Sài Gòn, số 53, ngay gần nhà thờ Đức Bà. Trường lấy tên của Giám mục Taberd là giám mục địa phần Nam kỳ từ 1830 đến 1840.

Ngay từ đầu, đây là một trường tư do linh mục Kerlan, cha sở họ Sài Gòn thành lập năm 1874, mục đích giúp các trẻ con  lai Pháp bị bỏ rơi có nơi ăn học. Sau đó trường phát triển nhận đủ các thành phần và đến năm 1890 chuyển giao cho các Sư huynh Lasan. Trường liên tục mở rộng và phát triển, góp công đào tạo nhiều nhân tài cho đấtnước.

Niên khóa 1973-1974, trường có 115 lớp, 7464 học sinh.

Qua biến cố 1975, trường bị đóng cửa, trường lớp biến thành trường Trung Học Sư phạm. Từ năm 2000 biến thành trường Trung học Phổ thông Trần Đại Nghĩa, vài năm sau đổi ra trường Trung học Phổ thông chuyên Trần Đại Nghĩa.