Cha danh - 21. Cây ma (Phạm Ngọc Lân)

Lượt xem: 968

”...Sau chuyện đó, ông bà Quy vội vàng đi tìm thuê nhà khác. Có phải vì căn phòng đã quá chật với chừng đó người lớn trẻ con sống chen chúc? Hay vì sợ không muốn ở gần cái cây cổ thụ có con ma muốn bắt con minh?...”

Gần bốn năm sống trong căn phòng ở « Hôtel Việt Nam » từ 1952 đến 1956 là thời gian tương đối êm đềm và cũng rất phẳng lặng trong thời thơ ấu của Long. Long chỉ còn nhớ vài đứa bạn chơi với nhau ở đấy, đặc biệt là hai thằng bạn học cùng trường. Đứa lớn cùng lớp với Long, đứa nhỏ thua Long hai lớp. Hai đứa sống với mẹ sát cạnh nhà Long, cũng lai Pháp như Long. Nhưng khác ở chỗ bố chúng nó đã làm giấy tờ để nhìn nhận con, tuy không còn sống chung với mẹ chúng nó nữa. Đó là một đại úy trong quân đội Pháp, chẳng bù với Long không biết rõ bố mình là ai. Hai đứa rất tự hào về bố, hay kể chuyện về sự oai phong của bố như thế nào khi duyệt hàng quân. Nhưng chúng nó nói thì Long nghe vậy thôi chứ trong suốt thời gian ở đấy, chưa khi nào thấy bố chúng nó đến thăm cả.

Hai đứa bạn gái mà Long cũng nhớ là hai chị em sinh đôi, cùng cỡ tuổi với Long, đặc biệt là đứa chị bàn tay phải có tật vì có 6 ngón, ở ngón cái mọc thêm một ngón nữa. Chắc tại vậy mà Long nhớ mãi, trong khi các bạn khác thì không nhớ nhiều. Và dĩ nhiên là thằng Hấu chơi bi giỏi và « cái gì cũng biết » thì Long không thể quên được.

Long cũng có những kỷ niệm – tuy chỉ nhạt nhòa – về những đứa trẻ chỉ gặp trong một thời gian ngắn lúc nghỉ hè hay nghỉ lễ. Đó là con của những gia đình khá giả từ Sài Gòn lên nghỉ mát, thuê phòng có đầy đủ đồ đạc tiện nghi ở mấy căn nhà trệt trong khu đất phía trước. Long còn nhớ mãi hai anh em cũng học trường Pháp ở Sài Gòn, thằng anh bằng tuổi Long và làm thân với Long ngay, con em thua một hai tuổi gì đó, mà sao Long thấy nó dễ thương quá… Khi chúng nó theo bố mẹ trở về Sài Gòn, Long nhớ mãi, nhưng rồi tuổi con nít cũng chẳng quan tâm lâu. Cái ngạc nhiên là sao mấy chục năm qua mà vẫn có mơ hồ hình ảnh đứa con gái xinh xắn trong bộ quần áo đẹp mà mấy đứa trong xóm nghèo của Long không bao giờ có được.

Còn nói về người lớn thì ngoài mẹ và dượng của hai thằng bạn học lai Pháp, có hai trường hợp mà đến giờ này vẫn còn hình ảnh rõ rệt trong ký ức của Long. Người đầu tiên không biết tên gì, được bà ngoại và mẹ của Long gọi là « thằng Tây mắm tôm ». Không hiểu « ông Tây » này sống ở căn nào mà lại phải dùng chung nhà vệ sinh với gia đình của Long, mà mỗi lần như thế là mặt đỏ gay, miệng càu nhàu cái gì không biết, đôi khi gây sự với bà ngoại và mẹ của Long. Nhưng hai vị này không phải dễ dàng để bị bắt nạt, thế là Long được chứng kiến một cảnh lời qua tiếng lại hiếm có, « thằng Tây mắm tôm » tiếng Pháp, mẹ và bà của Long tiếng Việt, tha hồ to tiếng chẳng cần biết đối thủ có hiểu hay không !

Người thứ hai hoàn toàn khác hẳn, hiền dịu, yêu mến chiều chuộng Long hết mình. Đó là cô Lan. Cô sống trong một căn phòng nhỏ nhưng đầy đủ tiện nghi vì là phòng khách sạn ngày trước, cửa mở ra hành lang là nơi Long phải đi qua hằng ngày. Có khi qua đấy cửa nhà cô mở, cô gọi Long vào cho cái bánh cái kẹo, rồi hỏi chuyện Long học hành ra sao, ra vẻ trìu mến lắm.

Có lần mẹ Long thấy, nói là Long không được vào phòng cô Lan như vậy nữa, vì cô ấy không phải là người đứng đắn, hành nghề không lương thiện, cô ấy là « gái tắc-xi ». Long chẳng hiểu tại sao một người dễ thương như cô mà lại hành nghề không lương thiện, mà gái tắc-xi là gì mẹ Long cũng không giải thích, Long tưởng là cô lái xe tắc-xi ! Nhưng một hôm thấy cô đi đâu đó vào chập tối, trang điểm đẹp đẽ, có xe tắc-xi đón, Long mới biết chắc là cô không phải làm nghề lái tắc-xi. Và cuối cùng cũng phải nhờ đến thằng Hấu « cái gì cũng biết », nó nói đó là mấy cô làm việc ở một vũ trường ngoài phố, cô là vũ nữ ở đấy để nhảy đầm với mấy ông khách đến đó chơi một mình, không có vợ hay bạn gái đi theo nên trả tiền cho nhà hàng để nhảy với mấy cô này. Thằng Hấu còn nói là ngoài cô Lan, còn có hai ba cô nữa ở trên lầu cùng nhà với Long, lúc đó Long mới để ý thấy mấy cô này sống ngay trên lầu nhưng rất kín đáo, không làm rộn đến ai cả. Thế tại sao mẹ Long lại nói là « nghề không lương thiện » ? Cũng có vài lần khi Long nghỉ hè, buổi chiều thấy mấy cô ở trên lầu đi lên với những người đàn ông lạ…

Tuy mẹ nói thế, nhưng khi cô Lan gọi vào phòng thì Long vẫn lén vào, không cho mẹ biết, vì cảm thấy cô Lan thương mình như con. Đặc biệt là cô Lan nói chuyện với Long như nói với người lớn, cô kể cô có hai đứa con nhỏ hơn Long vài tuổi, phải để bà ngoại ở dưới Lục tỉnh nuôi, cô ở đây đi làm để có tiền gửi về cho bà ngoại nuôi cháu. Sau này khôn lớn, Long nghĩ lại thấy thương cô Lan, đem tâm sự của mình ra kể với một đứa trẻ mới 10 tuổi đầu, có lẽ cũng là một cách để vơi đi nỗi nhớ con mình…

Một kỷ niệm khác trong thời gian này liên quan đến khứu giác : một mùi thơm rất lạ đôi khi tỏa ra từ một căn nhà trong một dãy « nhà tôn », có vẻ như nhà làm thêm sau này, nhà ván mái tôn rất khác với mấy ngôi nhà xây đẹp đẽ của khách sạn ngày xưa. Mùi này Long chỉ ngửi thấy trong thời gian sống ở đây, sau này không nhớ có còn ngửi thấy nữa không. Khi Long hỏi thằng Hấu « cái gì cũng biết » thì nó nói ngay đó là mùi thơm của khói thuốc phiện, và cái ông sống trong căn nhà đó nghiện thuốc phiện nặng,

ngày nào không có thuốc là không chịu được. Nó còn giải thích người ta làm thế nào để hút thuốc phiện, không đơn giản như hút thuốc lá. Thuốc phiện giống như nhựa đặc, phết một ít lên một miếng kim loại gắn trên một cái ống dài gọi là dọc tẩu, rồi dùng một ngọn đèn « nướng » thuốc lên. Khi có khói tỏa ra, người ta hút khói vào bằng cái dọc tẩu đó. Thường người ta phải nằm để hút, nên mới gọi là « nằm bàn đèn ». Long không hiểu sao cái việc rắc rối mà vô bổ như thế mà lại nghiện! Qua năm sau nghe ông nghiện thuốc phiện chết, không hiểu vì già hay vì thiếu thuốc.

Có một mùi khác nữa cũng rất hấp dẫn, nhưng hiền lành hơn mùi khói thuốc phiện, đó là mùi phở. Trong khu Long ở rất ít hàng quà, có lẽ vào những năm 1953, 54, 55 chưa có nhiều hàng quà như sau này, mà có lẽ xứ lạnh cũng không nhiều hàng quà như Sài Gòn là xứ nóng, người ta sống bên ngoài nhiều hơn nên nhiều hàng quà rong hơn. Nhưng cứ chủ nhật là có một ông phở gánh đến đặt hai thùng hàng ngay trên sân chính trước ngôi nhà Long ở, miệng rao « phở… ớ… » kéo dài. Hai cái thùng hai đầu gánh vuông vức, khung bằng gỗ. Một thùng đựng nồi nước phở to tròn, trong lại có một ngăn tròn nhỏ hơn đựng nước để nhúng bánh, hai thùng lúc nào cũng nóng sôi. Mỗi khi ông mở cái nắp lên thì mùi phở bay ngào ngạt, chỉ muốn ăn ! Nồi đặt trên một lò than đỏ rực.

Thùng bên kia đựng đủ thứ mà Long khi được mẹ sai đi mua bao giờ cũng thích nhìn khi ông hàng phở mở cái khăn (chắc để che cho khỏi ruổi): rổ bánh phở trắng ngần, một cái tô to đựng hai thứ thịt bò chín và tái thái sẵn trông thật hấp dẫn, và bát hành, ngò (ngoài Bắc gọi là rau mùi), bên cạnh là một cái ống tre đựng đũa, một cái khăn treo để sẵn sàng lau tô vv… Tầng thứ hai là những cái bát chiết yêu (một loại tô nhỏ, lưng thắt lại, miệng loe ra) úp ngay ngắn và phía dưới cùng là thau nước rửa tô. Những ai ăn tại chỗ thì ông làm phở trong mấy cái bát chiết yêu này : bánh phở trắng, thịt chín màu sậm, thịt tái đỏ tươi và một nhúm hành ngò xanh rắc lên trên trông thật đẹp mắt. Phở bầy trong đó trông tưởng nhiều, thật ra là ít vì cái bát « chiết yêu », tức là « lưng thắt lại » ! Ăn phở thời đó chỉ là ăn quà, không phải ăn no như thời nay, ăn lấy hương lấy hoa, ăn xong còn thòm thèm, thế mới ngon, mới gọi là ăn quà… !

Nhưng nhà Long cũng như những nhà khác ở đấy mang tô của mình hoặc cái cặp lồng (1) (nếu mẹ cho tiền mua hai tô) ra mua về nhà ăn chứ ít có ai đứng ăn tại chỗ. Long cũng để ý là dù không nói gì nhưng nếu mua bằng cặp lồng thì ông hàng phở bao giờ cũng múc thêm cho một muôi nước dùng và dặn Long đi cẩn thận không thì nước sánh ra ngoài. Ăn ở nhà còn có cái lợi và cũng là một « thủ tục » không biết ai nghĩ ra mà rất phổ biến thời đó, là khi ăn gần hết còn nước phở thì cho cơm nguội vào ăn nốt. Phải nói là ngày xưa nước dùng phở không ai bỏ lại vì nấu toàn bằng thịt và xương, lúc đó người ta chưa chế ra bột ngọt (ngoài Bắc gọi là mì chính). Nước phở cũng quý như bánh phở, quý như thịt chín, thịt tái. Mà cũng chỉ có thịt chín (nạm hay nạc) và tái, chưa có gân, sách, gầu, vè dòn… như bây giờ. Gia vị cũng chỉ có hành và ngò chứ không có húng quế, ngò gai, giá sống, giá trụng gì cả. Muốn mặn thì thêm một chút nước mắm nguyên chất, muốn cay thì có ớt trái, không có tương đen tương đỏ (2). Long cũng nhớ là nhà không ăn phở với chanh!

Cuộc sống 4 năm ở khu khách sạn Việt Nam phẳng lặng như thế cho đến khi một biến cố trầm trọng ập đến quá nhanh khiến cho ông Quy lại phải đi tìm nhà khác. Một hôm thằng em thứ Năm của Long lúc đó 3 tuổi bị bịnh, lúc đầu tưởng là tiêu chảy thông thường, lâu lâu cũng xảy ra không có gì trầm trọng. Thường thì mẹ Long cho uống nước gạo rang, rồi thêm thuốc « cao đơn hoàn tán » bán ở chợ, chỉ vậy là xong. Không đi bác sĩ, tiền đâu mà đi bác sĩ ! Không mua thuốc tây, tiền đâu mà mua thuốc tây ! Nhưng lần này không xong, qua hai ba ngày thằng bé mệt lả đuối sức, vì không phải là tiêu chảy mà là một loại kiết lỵ. Rồi đến phiên hai đứa em sinh đôi cũng bị. Ông bà Quy hoảng quá, phải mời bác sĩ đến nhà, bác sĩ cho toa đi mua Tifomycine (3), loại thuốc trụ sinh đường ruột thời đó. Qua mấy ngày nữa, thuốc men vẫn không khỏi, đến phiên thằng em thứ Tám, mới có mấy tháng cũng bị. Bác sĩ đã trở lại mấy lần thăm bịnh vẫn không hết. Mấy đứa nhỏ trông thật tiều tụy, mặt mày hốc hác, mắt trũng sâu.

Mẹ của Long khóc sướt mướt chẳng biết làm gì hơn, bà ngoại Long thắp hương khấn vái ông bà ông vải phù hộ cho các cháu. Một bà hàng xóm nói chắc là bị ma quỷ gì đó hành… Biết tin ai, biết làm gì ? Rồi bà hàng xóm sực nhớ ra có cô Simone có thể giúp được, cô ấy hay lên đồng. Cô tên là Simone nhưng là một người Việt Nam đã đứng tuổi, ngày xưa cũng là một cô « gái tắc-xi » đã giải nghệ vì lớn tuổi, cô cũng sống trong một căn phòng gần đấy, mọi người đều quý cô vì tính tình dễ thương. Hôm đó trời đã hơi về chiều, bà ngoại quyết định đến mời cô Simone lại xem có giúp được gì không. Cô Simone vui vẻ đi ngay, khi đến cửa phòng cô đứng lại, rồi người bắt đầu lảo đảo, miệng lẩm nhẩm, mắt nhắm nghiền. Bà hàng xóm nói cô sắp nhập đồng rồi đấy, chú ý xem cô có nói gì không. Mọi người im lặng như tờ, cô Simone lúc đầu còn lẩm bẩm không ai hiểu gì, nhưng sau đó nói rõ ràng hơn. Cô nói trong khu đất này có cây cổ thụ cả trăm năm rồi, ngày xưa có chàng thanh niên thất tình thắt cổ tự tử ở đấy, chết oan nên hồn ma vẫn ám ảnh cây cổ thụ đó. Mấy đứa con nít hay đến đó chơi, lần này hồn ma thấy mấy đứa này kháu khỉnh nên muốn bắt về. Bây giờ phải mang nhang đèn và hoa quả đến gốc cây cầu xin hồn ma tha cho các cháu. Cô Simone nói rất rõ ràng, nhưng với một giọng đặc biệt không giống như giọng bình thường của cô, trong khi nói vẫn nhắm mắt, người vẫn lảo đảo. Long nhìn cô rất sợ nhưng chỉ một lúc sau cô trở lại bình thường, nhưng có vẻ mệt mỏi lắm. Mẹ của Long cám ơn cô, mời cô uống nước trà. Cô về ngay sau đó, bà ngoại đưa cô về, rồi vội vàng chạy đi tìm mua mấy hoa quả bầy trên cái mâm nhỏ, đem hương ra gốc cây để cúng.

Long biết rất rõ cái cây này, nằm xa xa ở đầu bãi đất trống. Tán lá rất lớn, cành cây thấp nhất của nó cũng đủ cao để buộc vào đấy hai sợi dây thừng nối vào tấm ván nhỏ làm cái xích đu, Long với các bạn vẫn thường chơi ở đấy khi trời nắng đẹp, và mang cả mấy đứa em ra đấy chơi, kể cả đứa út ngồi trong cái « xe mây » làm bằng ống tre và thành đan bằng mây, có bốn cái bánh nhỏ xíu bằng gỗ đẩy đi lọc cọc. Đặc biệt dưới gốc cây ấy có một thân cây cũng rất to ai đặt nằm ở đấy từ bao giờ, gỗ đã nhẵn bóng, con nít hay ngồi chơi hoặc leo lên đi qua đi lại tập lấy thăng bằng.

phamngoclan20
Chiếc xe đạp nhỏ trong khu đất của khách sạn Việt Nam,
Đà Lạt 1953. Phía xa bên phải của tấm hình là tàn lá của cây cổ thụ nhắc đến trong bài viết.

Qua ngày hôm sau bác sĩ lại đến nhà, ông lắc đầu vì thấy bịnh không thuyên giảm, mà cả bốn đứa bé đều kiệt quệ, ông nói phải đưa vào nhà thương gấp, không thể chữa ở nhà được nữa. Thời đó nghe « đưa vào nhà thương » là ai cũng hoảng sợ, có nghĩa là hết thuốc chữa rồi, vì chỉ có bịnh nặng chờ chết mới vào nhà thương. Nhưng cũng phải đưa bốn đứa vào chứ còn biết làm gì khác.

Hồi đó nhà thương Đà Lạt còn hai khu riêng biệt, gọi là «nhà thương Ta» và « nhà thương Tây ». Long cũng không rõ khác nhau như thế nào, nhưng chắc là nhà thương Tây phải hơn nhà thương Ta. Bốn đứa em của Long đưa vào khu nhà thương Ta là khu miễn phí, bà sơ làm việc ở đấy kêu ầm lên là tại sao để mấy đứa bé đến tình trạng kiệt quệ như thế này mới mang vào, bác sĩ khám qua lập tức cho chích nước biển vào bụng. Bà Quy kể lại chích nước biển vào bụng nó phồng lên như quả trứng, một lúc lâu mới từ từ xẹp xuống. Bác sĩ nói đây là một loại kiết lỵ nặng rất dễ lây, nhưng trẻ con sẽ chết không phải vì con vi trùng hoành hành, mà vì mất nước làm cho cơ thể yếu đi không chống trả được nữa. Vì vậy việc ưu tiên hàng đầu là phải cho nước vào lại cơ thể, và cách tốt nhất và nhanh nhất là chích vào bụng.

Qua ngày hôm sau, mấy đứa bắt đầu bớt hốc hác, và chỉ sau một tuần đã được về nhà.

Suốt tuần đó, Long phải nghỉ học. Mẹ ở luôn trong bệnh viện lo cho 4 đứa nhỏ, bà ngoại ở nhà lo đi chợ làm cơm, phải có Long trông nhà và trông mấy đứa em còn lại nữa chứ! Trưa làm cơm xong bỏ vào cái cặp lồng, Long có nhiệm vụ xách cơm lên cho mẹ trên nhà thương. Đi bộ dĩ nhiên. Qua cầu Bá Hộ Chúc quẹo trái đi dọc theo con suối, qua chỗ nhà đèn quẹo phải rồi quẹo trái để qua cái cầu nhỏ. Từ đó, bỏ qua đường Lò Gạch là bắt đầu lên dốc nhà thương. Con dốc khá dài, leo cũng khá mệt, nhưng Long chẳng nghĩ gì đến mệt cả, mà trong lòng rất vui vì thấy mấy đứa em đã qua cơn hiểm nghèo.

Sau chuyện đó, ông bà Quy vội vàng đi tìm thuê nhà khác. Có phải vì căn phòng đã quá chật với chừng đó người lớn trẻ con sống chen chúc? Hay vì sợ không muốn ở gần cái cây cổ thụ có con ma muốn bắt con minh?

phamngoclan21
Tám anh em ở Đà Lạt, Tết Đinh Dậu 1957

(còn tiếp)

Phạm Ngọc Lân

(1) Cái cặp lồng gồm 3 hoặc 4 cái đựng thức ăn hình tròn, bằng kim loại (thường là nhôm) lồng vào nhau bằng một cái quai xách.

(2) Nhà văn “Vang Bóng Một Thời” Nguyễn Tuân bây giờ có sống lại mà nhìn thấy tô phở “xe lửa” hay “tàu bay” chắc cũng phải ngã ngửa vì không thể nào nhận ra tô phở trong tùy bút của ông. Cũng bình thường thôi, trên đời này có cái gì không thay đổi theo thời…

(3) Tifomycine là một tên thương mại của Chloramphénicol, một loại trụ sinh rất thông dụng bắt đầu từ thập niên 50 thế kỷ trước, đặc biệt chống các vi khuẩn đường ruột. Hiện nay không dùng nữa vì những tác dụng phụ của nó có hại về lâu về dài.