Cha danh - 20. Từ đường Graffeuil đến Hôtel Việt Nam (Phạm Ngọc Lân)

Lượt xem: 167

”...Gọi là « năm mười » vì đứa nào phải đi tìm sẽ úp mặt vào tường nhắm mắt đếm « năm, mười, mười lăm, hai mươi… », phải đếm thật nhanh, đến « một trăm, một hai ba đi tìm » mới được mở mắt ra đi tìm. Một cách để tập nói cho rõ, phát âm vừa nhanh vừa chính xác...”

Vẫn trong năm 1952, một hôm ông Quy về nhà báo một tin mừng không chờ đợi: ông được giao nhiệm vụ điều hành câu lạc bộ sĩ quan của Ngự Lâm Quân. Sau vụ cháy nhà trong khu gia binh phía sau biệt điện, ông đang lo tìm chỗ ở khác để gia đình sống có tiện nghi và an toàn hơn, thì chuyện ông được giao công tác mới này là cái may trên trời rơi xuống. Vì gia đình ông sẽ dọn về ở nơi làm việc mới, không phải đi tìm nhà để thuê mướn nữa.

Câu lạc bộ sĩ quan là nơi gặp gỡ của các sĩ quan trong đơn vị và khách mời của họ, có quầy rượu, có thức ăn nhẹ, và cũng là nơi tổ chức những buổi liên hoan trong các dịp lễ. Thật ra cái câu lạc bộ này chưa thành hình, nhưng địa điểm đã được chọn. Đó là một biệt thự trên đường Graffeuil (1), một con đường nổi tiếng của Đà Lạt với những villa đẹp đẽ được các kiến trúc sư Pháp xây cất theo kiểu nhà các vùng khác nhau bên xứ họ, từ những năm đầu thế kỷ 20, lúc Đà Lạt được quy hoạch để dùng làm nơi nghỉ mát cho những quan chức Pháp hay người giàu có từ Sài Gòn lên. Không phải chỉ có đường Graffeuil mới có những biệt thự đẹp của Đà Lạt, nhưng đặc biệt trên con đường này, mỗi biệt thự đều được bao quanh bởi một khu đất rất rộng với nhiều cây thông của rừng ngày xưa còn được giữ lại.

Khi đi từ Sài Gòn lên, hết đèo Prenn sẽ qua một con đường có nhiều nhà đẹp rồi đến một địa danh mà không ai ở Đà Lạt thời đó không biết : cây xăng Kim Cúc. Đặc biệt cây xăng này chung quanh có vườn quanh năm trồng hoa rất đẹp, như một cách chào mừng du khách từ xa đến. Quẹo trái sẽ vào đường Yersin để đi về phía Dalat Palace, bưu điện, nhà thờ con gà… Đi thẳng xuống dốc qua khách sạn Sans Souci sẽ đến bờ hồ rồi vòng lên chợ. Từ cây xăng Kim Cúc quẹo phải từ từ lên dốc, bên trái có trại lính Hiến binh, bên phải có dinh 2 của Bảo Đại. Con đường rất đẹp hai bên là biệt thự trong rừng thông, đi đến một ngã ba có một nhà sửa xe lớn của người Pháp có tên là « Garage Martinette », từ đó bắt đầu đường Graffeuil. Đi thêm một đoạn nữa, nếu quẹo phải sẽ về Trại Hầm, còn đi thẳng đường Graffeuil là hướng đi Trại Mát. Ngay ngã ba Garage Martinette, rẽ phải sẽ vào một con đường đi vào rừng, đã bị bỏ phế từ lâu, gọi là « đường Sài Gòn cũ ».

phamngoclan19

Đường « Sài Gòn cũ » nay được trùng tu lại, hai bên trồng nhiều cây mimosa, gọi là đường Mimosa từ Đà Lạt xuống thác Prenn. Đường này có từ thời Pháp, sau đó bị bỏ phế và thay bằng đường đèo Prenn. Vậy là từ nay, có 2 con đường từ Đà Lạt xuống gặp nhau ở một ngã ba ngay thác Prenn trước khi tiếp tục về phía Sài Gòn.

Địa điểm làm câu lạc bộ là biệt thự số 7, từ ngoài đường cái vào phải theo một con đường lượn quanh trong khu đất riêng của biệt thự xuống tới ngôi nhà thấp thoáng sau rặng thông. Phía sau ngôi biệt thự lớn là một cái nhà ngang với nhiều phòng, ngày xưa là nhà của nhân viên phục vụ cho ngôi biệt thự, giờ đây gia đình Long dọn về ở đấy. So với căn nhà lá trong trại gia binh thì đây là thiên đường, vì tuy là « nhà ngang » nhưng đầy đủ tiện nghi điện nước, và cũng không còn phải nơm nớp lo sợ ngày nào đó thần hỏa đến viếng nhà mình!

Đối với Long và hai em gái Vy và Loan, đây là lần đầu trong đời ba anh em có một sân chơi lý tưởng, so với mảnh đất nhỏ xíu trước nhà trong khu gia binh. Khu đất rộng bao quanh biệt thự với bao nhiêu cây thông rợp bóng mát, chỉ cần làn gió nhẹ làm rung động những lá thông mềm mại là đã có một làn điệu reo vui độc đáo của thông Đà Lạt.

Một thay đổi khác với Long là bây giờ không thể đi bộ đến trường được nữa vì quá xa. May mắn là Ngự Lâm Quân có tổ chức xe đưa đón học sinh. Chẳng phải như bây giờ giống các xe ca xe buýt, mà hồi đó là một xe cam-nhông nhà binh, có 4 cái ghế dài kê dọc theo thùng xe, hai cái kê sát thành xe, hai cái ở giữa ngồi đâu lưng nhau, có cầu thang bằng sắt với thanh vịn để leo lên leo xuống. Long lại nhớ khi mẹ mình nói đến cái xe đưa đón đi làm của quân đội Pháp ở Hà Nội, chắc cũng giống hệt cái xe này. Ngoài ông tài xế còn có một người ngồi sau với học sinh trông coi bọn trẻ lên xuống và giữ kỷ luật, cả hai người này đều mặc quân phục của Ngự Lâm Quân.

Trong các học sinh đi xe này, chỉ có một mình Long học trường Adran, và cũng chỉ có một mình Long học trường Pháp. Những ngày đầu Long cảm thấy rất khó chịu vì những đứa trẻ khác nhỉn mình như nhìn một vật lạ, chỉ vì mặt mũi Long giống Pháp hơn là Việt Nam. Cũng may có ông lính ngồi đấy nên Long không bị chọc ghẹo phá phách gì. Ông lính này ngày nào cũng bắt nhịp cho mọi người hát « Nhà Việt Nam, Nam Bắc Trung sáng trưng Á Đông… (2) », ngày nào cũng chỉ có một bài đó. Long cũng biết nhiều bài hát xưa, nhưng bài này Long chỉ nghe thoáng vậy thôi, không thuộc lời, nên không hát được với mấy đứa khác. Việc ấy lại càng đào sâu thêm cái hố ngăn cách giữa Long và bọn kia. Với bản tính nhút nhát, Long chỉ tìm cách thu mình nhỏ lại trong đám đông trên xe. Bà và mẹ cũng đoán được những hoàn cảnh mà Long sẽ gặp phải nên chỉ một điều dạy Long là tốt nhất không nên gây chuyện với người khác đã đành, mà khi người ta gây sự thì cũng tìm cách lảng tránh là hơn ! Được dạy dỗ như thế nên không lạ gì khi đứa bé lớn lên vẫn giữ nguyên bản tính nhút nhát của mình!

Nhưng rồi chỉ hai tháng sau, Long lại giã biệt chiếc xe cam-nhông chở học sinh và bài hát « Nhà Việt Nam » mà nghe mãi rồi Long cũng thuộc… Ông Quy bị đổi làm việc khác, vì người ta nói ông không có kinh nghiệm để tổ chức một câu lạc bộ sĩ quan. Cũng có lý, nhưng người thay thế ông cũng chẳng có kinh nghiệm gì hơn. Long nghe người lớn nói với nhau là người đó có « tay trong » nên đã hất được ông Quy ra khỏi một công việc xem như quá tốt đối với một quân nhân, chưa kể khung cảnh sinh sống không tốn tiền thuê trong khu đất lý tưởng đó nữa.

Nhưng ngược lại ông Quy cũng được an ủi là ông được đổi qua ngành kế toán là việc mà ông có chút ít kinh nghiệm. Trước khi bắt tay vào việc, ông phải qua một khóa học 3 tháng về cách làm sổ lương trong quân đội, khóa này do người Pháp dạy tại một trung tâm của quân đội Pháp trong một khu vực hẻo lánh gần thị xã Ban Mê Thuột, có tên là « Băng Đông (3)». Thế là ông Quy phải khăn gói đến nơi đèo heo hút gió này trong 3 tháng liền.

Cũng may là trước khi lên đường, ông đã tìm thuê được một căn nhà cho gia đình dọn đến ở, vì phải trả lại chỗ ở trong khu biệt thự đường Graffeuil. Căn nhà này trong một khu ngày xưa có tên là « Hôtel Việt Nam » nhưng từ lâu đã không còn là khách sạn đúng nghĩa nữa. Khu này có nhiều nhà trệt hoặc hai tầng, nay được sửa sang lại thành những căn nhà cho thuê tháng. Chỉ còn vài nhà vẫn còn đồ đạc để người Sài Gòn lên thuê một vài tuần nghỉ mát. Chủ nhân là một gia đình cũng sống trong khu đất rộng, ở một ngôi nhà riêng biệt rất đẹp phía trên đồi. Người thuê nhà chỉ biết Cô Bảy là người trực tiếp giao dịch, hằng tháng đi thu tiền thuê nhà. Gọi là « Cô » vì Cô Bảy không có chồng, thật ra cũng lớn tuổi rồi, một người đàn bà hiền lành, ai túng thiếu khất tiền thuê cô cũng cho chịu.

Hồi đó ai ở Đà Lạt cũng biết Khách sạn Việt Nam, gần cầu Bá Hộ Chúc. Đây là một cây cầu gỗ, những thanh gỗ làm sàn cầu rất dày, nhưng bắt đầu cũ kỹ, mỗi lần xe đi qua là long lên xòng xọc! Cầu bắc ngang con suối chảy từ cầu Ông Đạo về, sẽ đổ vào thác Cam Ly cách đó vài cây số. Đây con suối chảy ngang thành phố, được đập nước cầu Ông Đạo chặn lại làm thành hồ Xuân Hương. Sau đó chảy qua vườn trồng bắp sú dưới Ấp Ánh Sáng trước khi đến cầu Bá Hộ Chúc (4).

phamngoclan_hoxuanhuong

Hồ Xuân Hương không có nước suốt năm 2010. Trong năm này, đập nước ở cầu Ông Đạo phải làm lại vì đã quá cũ, nên trong

thời gian xây đập mới, hồ Xuân Hương trở lại tình trạng nguyên thủy từ xưa là một con suối có dòng chảy giữa hồ. Công trình xây đập nước mới kéo dài một năm, một con đường đất được đắp để xe đi qua hồ, tạm thời thay cho cầu Ông Đạo. Đầu năm 2011, công trình hoàn tất, hồ Xuân Hương lấy lại vẻ đẹp ngày xưa. Hình chụp từ bờ phía bắc, nhìn qua nhà Thủy Tạ.

hoxuanhuong
Cảnh hồ Xuân Hương trong sương mờ.
Ành lấy từ http://dulichdalat.pro/DIA-DIEM-DU-LICH/Ho-Xuan-Huong.html

Căn nhà ông Quy thuê có vị trí đặc biệt khác các căn phòng khác, vì nằm phía sau một ngôi nhà hai tầng. Gọi là « căn nhà », thật ra là một căn phòng lớn, có thể ngày xưa là nhà bếp của khách sạn. Bà Quy kê ba cái giường lớn ở ba góc nhà, dùng màn che coi như ba phòng ngủ, góc thứ tư có cửa ra vào kê cái tủ quần áo lớn và cái rương to với cái bàn thấp và mấy cái ghế để tiếp khách. Sát cạnh căn phòng này là một sàn nước rộng rãi, sát với nhà tắm và cầu tiêu, nhưng phải dùng chung với một gia đình khác. Cũng may là căn phòng quay ra phía sau, một miếng đất nhỏ, trước khi đến hàng rào của khu khách sạn, sát với rừng thông trên đồi cao. Nhờ vị trí đặc biệt đó, ông Quy mới có chỗ làm thêm một cái chái bằng gỗ lợp tôn dùng làm bếp, có cái trạn để bát đũa, cái « gác-măng-dê » để thức ăn có lưới ngăn ruồi muỗi và có bốn cái bát đựng nước ở bốn chân để ngăn kiến leo lên. Giữa chái kê cái bàn và mấy cái ghế vừa làm bàn ăn, vừa làm bàn học cho Long. Buổi tối ăn cơm xong, dọn dẹp bàn rồi là chỗ Long ngồi làm bài. Có thể nói trong căn nhà ở đây, Long sống nhiều nhất quanh cái bàn này ! Hồi đó học sinh có nhiều bài vở phải làm ở nhà, nhất là học sinh trường Thầy Dòng lại càng nhiều bài vở hơn nữa!

Phần còn lại của sân cỏ được tận dụng hết mức. Phân nửa sân được ông Quy dựng một cái giàn bằng tre và dây kẽm cho cây su su leo. Phong thổ Đà Lạt trồng su su rất dễ, quả rất nhiều ăn không hết, tiết kiệm được chút ít tiền. Quanh năm có quả để ăn, lại có bóng mát lúc trời nóng. Phần đất còn lại giăng dây phơi quần áo. Chung quanh ông Quy trồng hoa thược dược, hoa cúc, những loại hoa rất dễ mọc mà chẳng phải chăm sóc gì cả. Mảnh đất phía sau nhà như vậy không còn chỗ nào cho bọn con nít chơi nữa.

Trong căn nhà đó, lúc đầu chỉ có 6 người, 3 người lớn, 3 trẻ con. Sau 4 năm, nhân số tăng lên thành 11 người ! Trong năm 1952 thằng Tư ra đời, rồi thằng Năm năm 1954, hai đứa sinh đôi là thằng Sáu và thằng Bảy năm 1955, rồi qua 1956 là thằng Tám! Làm sao để chừng đó nhân mạng sống trong một không gian nhỏ hẹp như thế, ngày nay nghĩ lại Long cũng không hình dung được!

phamngoclan17
Tác giả và em trai thứ tư, Đà Lạt 1953

Phải nói là mẹ của Long có đầu óc tổ chức và rất ngăn nắp sạch sẽ. Có lẽ thời gian làm việc may vá trong một gia đình Pháp ở Sài Gòn trong những năm còn con gái đã tập cho bà thói quen này. Hồi đó có câu nói của mấy ông tán dóc với nhau, được truyền tụng đến bây giờ « Ăn cơm Tàu, ở nhà Tây, lấy vợ Nhật » để nói lên nếp sống tưởng. « Nhà Tây » nổi tiếng là đẹp từ ngoài vào trong, không những thế mà còn ngăn nắp đâu ra đấy. Bà Quy tuy phải sống trong cảnh chật hẹp nhưng cũng biết thu vén cho gọn gàng sạch sẽ cho dễ thở, và nhất là rất kỷ luật với con cái. Bà có cái roi mây treo trên tường ở một chỗ mà đứa nào cũng nhìn thấy, và khi cần bà không ngại dùng nó…

Cũng may là trong khu vực của khách sạn Việt Nam không thiếu sân chơi cho lũ trẻ trong xóm. Chung quanh các ngôi nhà là khoảng đất trống, có chỗ có bóng mát, có chỗ là bìa rừng. Bà Quy cho phép Long và hai em gái được ra ngoài đó chơi với các bạn trong xóm, sau này có mấy đứa em trai cũng mang tụi nó theo. Bà cũng không có cách nào khác hơn, vì trong nhà không có chỗ nào cho trẻ con chơi được.

Trong xóm cũng không nhiều con nít lắm, và con gái nhiều hơn con trai. Long chơi với tất cả tụi nhỏ ở đấy, khi đã quen biết và « cùng xóm » rồi thì Long không bị kỳ thị vì là Tây lai nữa. Long cũng không phân biệt trò chơi của con trai hay con gái. Thông thường nhất là chơi « năm mười » hay « đạp lon », là trò chơi trốn tìm mà trẻ em cả thế giới đều biết. Nhưng mỗi nơi có một kiểu chơi khác nhau trong vài chi tiết nhỏ nhặt. Gọi là « năm mười » vì đứa nào phải đi tìm sẽ úp mặt vào tường nhắm mắt đếm « năm, mười, mười lăm, hai mươi… », phải đếm thật nhanh, đến « một trăm, một hai ba đi tìm » mới được mở mắt ra đi tìm. Một cách để tập nói cho rõ, phát âm vừa nhanh vừa chính xác. Còn « đạp lon» cũng là trò chơi đó, nhưng dùng cái lon sữa bò – thường là lon cũ mèm, đã hoen rỉ, vì lon còn tốt thì đã bán cho bà mua ve chai từ lâu rồi – dùng làm cái mốc để giữa sân, đứa đi tìm hoặc đứa đi trốn phải chạy về đầu tiên đạp lên cái lon là thắng.

Kể ra trò chơi của con nít thời xưa không nhiều lắm, vừa đơn giản, vừa giúp cho vận động cơ thể, vừa luyện thêm trí óc cũng như tập cho chân tay khéo léo hơn. Nhảy cò cò, u mọi… Riêng trò « u mọi » này không biết có phải là tiếng địa phương của Đà Lạt hay không. Đám trẻ chia ra hai phe, đứng hai bên một cái vạch coi như ranh giới hai địa phận, từng đứa trong phe bên này chạy sang bên kia sau khi lấy hơi hết sức mình để kéo dài tiếng « u » không được dứt. Phải ráng đụng vào một đối thủ rồi chạy về được thì đối thủ đó bị tù. Nếu bị đối thủ túm lại không về được trước khi dứt tiếng « u » thì chính mình bị tù… Nếu phe nào có bạn bị tù thì phải chạy sang phe kia cứu về. Cứu tù cũng phải u không được dứt hơi, phải chạm được vào tay bạn tù và chạy về phe mình mà không bị bắt thì tù mới được thả ; nếu người đi cứu mà bị bắt thì cũng bị tù theo! Nơi khác chắc cũng chơi kiểu này nhưng có thể dùng tên khác « u mọi ». Đây là một trò chơi của con gái là chính, có đứa bị túm áo cố giằng ra bật cả khuy… !

Trò chơi riêng của con trai thì có đánh khăng, đá banh (ngoài Bắc gọi là đá bóng), chơi bi (trong Nam gọi « bi » là « đạn »)… Trong xóm có một cây bưởi, trái to nhưng ăn thì rất dở, mà thật ra cũng rất hiếm có trái chín, vì khi trái bắt đầu đủ lớn là bọn con nít chọc xuống dùng chơi đá banh. Hồi đó trái banh thật bằng da đắt tiền lắm, xóm nghèo đâu đứa nào có… Chơi bi thì dễ dàng hơn, Long nhớ mãi một tay chơi bi rất cừ, gọi là thằng Hấu, không phải tên thật mà là tên gọi ở nhà. Long nhớ rất rõ người bạn này vì nó bị tật gù lưng, lớn hơn Long vài tuổi, và khôn lớn trước tuổi. Trong khi Long còn khù khờ chưa biết gì thì cái gì trên đời này nó cũng giải thích được. Đặc biệt nó cắt nghĩa cho Long tại sao lâu lâu lại thấy có hai con chó « dính lẹo », trông rất buồn cười và cũng rất tội nghiệp, mỗi con quay một bên nhưng hai cái đít dính vào nhau không con nào đi được cả… Một hiện tượng bây giờ không còn thấy nữa ở các xứ Âu Mỹ vì không có chó thả tự do ngoài đường, nhưng thời đó ở Việt Nam chó chạy khắp nơi, nên hiện tượng dính lẹo chẳng có gì lạ, chỉ có cái là con nít không thể nào hiểu tại sao lại như thế, mà người lớn thì không ai giải thích cả. Riêng chỉ có thằng Hấu bạn của Long thì giải thích rất rành rẽ! Mà Long thì nổi tiếng khù khờ cũng bán tín bán nghi, không biết nó nói thật hay là nó xạo mình…

Cũng có những trò chơi sáng tạo như thả diều hoặc con quay, còn gọi là con vụ. Sáng tạo vì thời đó phải làm lấy con vụ hoặc cái diều, không có chuyện ra chợ mua, tiền đâu ra, mà cũng chẳng thấy ai bán. Long làm diều rất khéo, cái diều nhỏ xíu rất đơn giản nhưng gặp gió bay ngon lành, không chao đảo. Phải dùng hai que tre chuốt cho mỏng (dùng dao bổ cau ăn trầu của bà ngoại là tốt nhất, nhưng mà làm mẻ dao của bà là không được đâu đấy !), một que lấy chỉ buộc hai đầu cong lại như cây cung, que kia buộc thẳng góc như thân cây cung. Giấy làm diều phải là loại giấy nhẹ mà tương đối chắc, không thể dùng giấy vở được, có loại giấy báo tuần của Tây là tốt nhất. Dán bằng hạt cơm còn dính quanh nồi. Khó nhất là tìm đâu ra dây để thả diều, có khi Long phải điều đình với mẹ « mượn » cuộn chỉ loại tốt, lâu lâu diều đang căng gió thì chỉ tốt cũng bị đứt, lại phải chạy theo nhặt về nối dây thả tiếp…

Một hôm ông Quy mang về một món đồ chơi vô cùng quý giá đối với trẻ con thời đó : một chiếc xe đạp bánh nhỏ xíu, nhưng lốp xe rất to, nên đi trên sân đá gập ghềnh cũng khá êm. Mà sang nhất là xe nhập cảng từ Pháp qua! Xe có hai cái bánh nhỏ kèm hai bên bánh sau để trẻ con tập đi, nhưng Long cũng đã lớn nên không cần bánh kèm, chỉ bị ngã xước đầu gối vài lần là đi được. Phía sau có cả cái « poóc-ba- ga » chẳng phải để chở đồ gì cả, mà để chở mấy đứa em khi nó ngoan, và lâu lâu mấy đứa em của bạn khi muốn tỏ ra đặc biệt thân thiện.

Lúc trời mưa thì không còn gặp nhau đông đúc ngoài sân được nữa, chỉ còn vài đứa bạn cùng chung trong cái nhà hai tầng với Long, kéo nhau ra phía trước, ngay sau cửa ra vào, chỗ đó hành lang tương đối rộng, nền nhà lót gạch bông sạch sẽ. Chỗ lý tưởng để chơi mấy trò như cờ gánh, ô ăn quan, vẽ ngay trên nền gạch. Và một trò chơi đặc biệt của con gái, nhưng rồi khi Long không có bạn trai cũng có chơi thử, đó là đánh chuyền. Nếu có đũa tre làm chuyền và có quả banh tennis để chơi thì tốt quá, nhưng thường là chỉ có cuống chổi cùn, cái chổi trước khi vứt chọn lấy mấy cái cuống to nhất chơi đánh chuyền cũng tạm được.

Tất cả những kỷ niệm thời thơ ấu đó còn in sâu trong tâm khảm của Long. Hơn nửa thế kỷ sau, một hôm vào năm 2007 Long trở lại khu khách sạn Việt Nam. Khung cảnh đã thay đổi rất nhiều. Long nghĩ chắc chẳng còn gì để nhận lại được cảnh cũ, nhưng khi theo con đường ngày xưa bây giờ đã nhỏ lại vì nhà cửa hai bên lấn ra ngoài, khi đến cuối đường Long bàng hoàng nhìn thấy cái nhà hai tầng ngày xưa vẫn còn nguyên đó, bây giờ là một trường mẫu giáo của tư nhân. Một bức tường xây bao quanh ngôi nhà với cái cổng sắt nên Long không vào được, nhưng bên phải cái hiên đi vào cánh cửa chính, Long chắc chắn sau cánh cửa đó vẫn là cái hành lang rộng mà hồi đó, cậu bé Long ngồi chơi ô ăn quan với mấy đứa bạn cùng lứa, bên cạnh là hai đứa em gái ngồi xem anh mình chơi, lâu lâu lại thò tay vào định nhặt mấy hòn sỏi, bị anh cản không cho. Trong khi đó thì hạt mưa tiếp tục tí tách trên khung cửa kính, cái mưa dầm dề của Đà Lạt còn mãi làm nao lòng người xa xứ…

phamngoclan18

Một ngôi nhà thuộc khách sạn Việt Nam ngày xưa. Ngôi nhà hai tầng bên ngoài vẫn y nguyên như thời 1952 khi tác giả sống 4 năm trong một căn phòng phía sau. Cửa vào phía tay phải của hình, che bởi bức tường với đống gạch vụn. Ngày xưa không có cái cổng sắt, bên hông và phía sau là rừng thông, không có nhà màu trắng phía bên phải của hình. Hình chụp năm 2007.

Ghi chú : 

(1) Đường Graffeuil xưa, bây giờ là đường Hùng Vương. Một số biệt thự cổ từ thời Pháp có đất rất rộng bao quanh, trên đường Trần Hưng Đạo (ngày xưa là đường Lý Thái Tổ, là đoạn đầu trước khi đến đường Hùng Vương ngày nay) từ lâu bị bỏ phế nay được trùng tu lại, kể cả vườn hoa trong khu đất quanh biệt thự, dùng làm khu nghỉ dưỡng sang trọng cho du khách.

(2) Ca khúc Nhà Việt Nam của Thẩm Oánh (1916-1996), một nhạc sĩ tiên phong trong nền tân nhạc Việt Nam.

(3) Tên Băng Đông tiếng Pháp thời đó là Bandon, (và bây giờ có lẽ là « Bản Đôn »). Tình cờ tác giả quen với ông cậu của một người bạn học, ông này cũng từ Sài Gòn lên Băng Đông vào năm 1952, tới nơi thì thấy là « đường lên núi rừng, sao hãi hùng… », bèn sáng tác một bản nhạc sau trở thành nổi tiếng, bài « Đường Lên Sơn Cước » của Lê Bình. Có thể nghe bài này trên YouTube : http://www.youtube.com/watch?v=ARDoukPJ32w.

(4) Cầu Bá Hộ Chúc bây giờ đã xây lại cầu mới trên đường Bà Triệu. Cầu Ông Đạo (bây giờ là đường Lê Đại Hành) là cái đập nước ngăn dòng suối tạo thành hồ Xuân Hương cũng được làm lại trong năm 2010. Vườn rau Ấp Ánh Sáng bây giờ là một công viên.