Cha danh - 19. Cháy nhà (Phạm Ngọc Lân)

Lượt xem: 743

”...Muốn thoát ra khỏi cảnh nghèo khó này con phải ráng học hành cho giỏi. Bây giờ biết chịu khổ, mai kia con mới cảm thấy hạnh phúc khi lại được sống trong tiện nghi!...”

Vẫn tưởng là sau bao nhiêu năm gian nan vất vả do biến động của thời cuộc, nay gia đình về Sài Gòn có nhà cửa tươm tất, ông Hoàng Văn Quy cha dượng của Long có công việc vững chắc, Long có chỗ học đàng hoàng, nào ngờ cái số long đong vẫn tiếp tục phải long đong.

Trong năm 1951, quân đội Quốc Gia Việt Nam (1) bắt đầu lớn mạnh, lệnh tổng động viên được ban hành trong tình hình chiến tranh đang leo thang. Qua năm 1952, đến lượt ông Quy phải nhập ngũ vì trên giấy tờ ông 31 tuổi. Nếu giấy tờ khai đúng thì ông đã 38 tuổi, không bị lệnh tổng động viên chi phối, nhưng khổ nỗi ông đã khai rút đi 7 tuổi khi làm lại giấy thế vì khai sinh ở Hà Nội. Ông không muốn phải trở lại chiến trường trong một cuộc chiến huynh đệ tương tàn, nên ông phải tìm cách « lách ».

Một người quen, cũng là một người làng chỉ cho ông Quy một con đường để lách. Ông này có con trai sống ở Đà Lạt (2) trong lính «Ngự Lâm Quân» (3). Đây là một đơn vị quân đội đặc biệt có nhiệm vụ bảo vệ vua Bảo Đại, lúc đó không còn làm vua nữa mà làm Quốc Trưởng, những vẫn cứ gọi là vua, và đoàn quân bảo vệ ông vẫn cứ gọi là Ngự Lâm Quân. Dĩ nhiên Ngự Lâm Quân chỉ ở Đà Lạt vì ông Bảo Đại đã chọn nơi này để sống và làm việc trong một biệt điện. Gia nhập Ngự Lâm Quân có nghĩa là không phải đi đánh nhau ở xa.

Có một ông người làng tốt bụng cho ông Quy biết là Ngự Lâm Quân đang cần tuyển mộ nhân viên tài chánh. Thật là một cơ hội bằng vàng, vì ông Quy đang làm kế toán trong hãng thầu của ông C.

Thế là ông Quy vội vàng lên Đà Lạt làm thủ tục đăng vào lính Ngự Lâm. Ông rất tiếc phải rời bỏ công việc trong hãng thầu của ông C., nhất là ông C. là người thân trong gia đình, rất quý tính cần cù và cẩn thận của ông Quy nên đã định sẽ giao cho ông những việc quan trọng hơn. Tiếc thì tiếc, nhưng « gặp thời thế, thế thời phải thế », ông cũng mừng vì không phải đổi đi các đơn vị chiến đấu, nhất là trong các chiến trường ngoài Bắc ngày càng sôi sục.

Vào mùa hè 1952, ông về Sài Gòn đón gia đình sau khi thu xếp bán căn nhà phía sau trường Pétrus Ký đường Trần Bình Trọng. Thế là Long cùng với bà ngoại, mẹ, hai em gái lên Đà Lạt, dọn vào một căn nhà gỗ mái lá trong một trại gia binh ngay phía sau biệt điện của ông Bảo Đại, chung quanh là rừng thông.

Cũng như lần di chuyển trước từ Hà Nội vào Sài Gòn, cả gia đình dọn nhà trong dịp nghỉ hè để Long không phải dở dang năm học. Và cũng như ở Hà Nội, trước khi đi Đà Lạt mẹ của Long đến sở xã hội của Pháp (Service social) ở Sài Gòn để trình bày việc gia đình di chuyển. Rất may cho Long vì Đà Lạt, ngoài các trường công và tư Việt Nam còn có nhiều trường vẫn dạy chương trình Pháp, cả trương công của Pháp (Lycée Yersin (4) là trường trung học, Petit Lycée là trường tiểu học) lẫn trường tư (trường Collège d’Adran (5) của dòng các Sư Huynh La San dành riêng cho con trai, trường Couvent des Oiseaux của các nữ tu dòng Visitandines de Saint Augustin dành riêng cho con gái).

Mẹ của Long được tiếp bởi một nhân viên trong sở xã hội, ông này giải thích là bà có thể chọn một trong hai trường là Lycée Yersin là trường công, hoặc Collège d’Adran là trường tư. Mẹ của Long có biết những trường này như thế nào đâu, làm sao có thể lấy một quyết định dựa vào những tiêu chuẩn chọn lựa chính xác được. Bà chỉ muốn một điều đơn giản là tìm một trường có kỷ luật nghiêm minh vì bà sợ con bà sau này lớn lên có thể chơi bời lêu lổng. Ông nhân viên sở xã hội nói là theo ông nghĩ, chắc là trong các trường dòng thì kỷ luật nghiêm minh hơn là trường công, thế là Long được ghi danh để theo học trường Collège d’Adran, một trường của dòng tu công giáo có tên là « Frères des Ecoles Chrétiennes », do ông thánh Jean-Baptiste de la Salle thành lập bên Pháp từ cuối thế kỷ 17, nên tiếng Việt gọi tắt là Sư huynh dòng La San.

Nếu ngày hôm đó, mẹ của Long gặp một người khác trong sở xã hội có lời khuyên khác, hoặc người ta cứ ghi danh Long vào trường công là Lycée Yersin mà không cần hỏi ý kiến gì của bà (như trước đây ở Hà Nội và Sài Gòn) thì cuộc đời của Long chắc cũng sẽ khác, vì hai tinh thần giáo dục trong một trường công lập Pháp và một trường tư thục công giáo rất khác nhau, tuy về kiến thức vẫn học cùng một chương trình. Nhưng đó là những an bài tinh vi của số phận, không ai có thể lường trước được.

Tháng 9 năm 1952, Long lại một lần nữa tựu trường ở một nơi xa lạ, vào lớp 9ème (tương đương với lớp 3 bậc tiểu học bây giờ) của trường Adran Đà Lạt. Ngôi trường nằm cuối một con đường ngắn, đường Bá Đa Lộc, là tên Việt Nam của giám mục Adran, là người giúp vua Gia Long trong việc gây đựng triều Nguyễn. Trường gồm một tòa nhà 3 tầng phía ngoài tiếp nối với nhiều nhà một tầng bao quanh một cái sân rộng, nằm giữa rừng thông. Sau khi học ở trường Sainte Marie giữa phố chính trung tâm Hà Nồi, rồi trường Jauréguiberry cũng trong đường phố Sài Gòn, không còn gì lý tưởng hơn cho việc học hành bằng khung cảnh yên tĩnh của một ngôi trường biệt lập giữa rừng thông.

bietdien_baodai01

bietdien_baodai02
Biệt điện của vua Bảo Đại xưa, nay là Dinh III ở Đà Lạt (đường Triệu Việt Vương)
còn giữ nguyên như xưa cho du khách thăm viếng (hình lấy trên mạng Internet)

Long đi học ở đây mất cái thú xe thổ mộ với con ngựa chạy lọc cọc, mất cái thú đi qua vườn Bờ Rô với bóng me rợp mát. Tuy đường từ nhà đến trường không rắc rối như ở Sài Gòn, không cần phải có bà đưa đi, nhưng cũng khá gian nan. Khu nhà nằm phía sau của vòng rào biệt điện, phải theo một con đường mòn men theo rừng thông, đến một quãng gọi là Dốc Nhà Bò có cái dốc dựng đứng phải leo lên rồi đi tiếp con đường mòn mới ra đến đường cái, chính là đường Yersin. Từ đấy, Long chỉ việc rẽ phải theo con đường lớn đẹp đẽ này, đi qua một sân vận động trước mặt tòa thị chính (sau biến thành thư viện thành phố) qua ty cảnh sát đến nhà thờ chính tòa mà dân Đà Lạt gọi là nhà thờ con gà vì có con gà trên đỉnh tháp chuông, gắn ở đầu cột thu lôi.

phamngoclan13
Tòa nhà này ngày xưa là Kho Bạc, đầu đường vào trường Adran (hình chụp năm 2007)

nhatho_chinhtoa_dalat
Không ảnh nhà thờ chính tòa Đà Lạt, người dân gọi là nhà thờ con gà
(ảnh lấy trên trang mạng của thành phố Đà Lạt)

nhatho_chinhtoa_dalat02
Nhà thờ Đà Lạt, tác giả chụp năm 2010

phamngoclan14
Tác giả và bạn cùng lớp trên đường đi lên Đà Lạt Palace 1962…

phamngoclan15
…và Đà Lạt Palace 2007. Cầu thang đá vẫn như xưa,
khách sạn đã tu chỉnh hoàn toàn, nhưng bề ngoài vẫn giữ nguyên.

Tiếp tục đi qua bưu điện bên trái, khách sạn Hôtel du Parc bên phải, thêm chút nữa là khách sạn sang trọng nhất Đà Lạt, Langbian Palace, đối diện với một tòa nhà khiêm tốn hơn, đó là Ty Ngân Khố ngày xưa gọi nôm na là Kho Bạc. Đường Bá Đa Lộc dẫn vào trường Adran bắt đầu từ đấy, một con đường nhỏ dễ thương với hoa quỳ dại màu vàng rực rỡ mọc hai ven đường.

Lần đầu tiên Long có một ông thầy giáo thay vì cô giáo, và lại mặc áo thụng đen với một miếng vuông trắng đeo trên cổ trước ngực. Long thấy lạ mắt lắm, nhưng đâu dám nói năng gì. Ngày xưa ở Hà Nội Long học với một bà sơ có cái mũ màu trắng rất đặc biệt, hai bên có hai cánh bằng vải cứng được kẹp vòng lên trên đỉnh đầu. Còn ở Sài Gòn thì học với một bà giáo mặc đồ đầm. Long được cái may mắn gặp hai giáo đều hiền lành dễ thương. Bây giờ phải vào lớp với một ông giáo mặc đồ đen làm cho ông trông có vẻ nghiêm trang khó tình, bản tính nhút nhát của Long lại trỗi dậy, trong lòng run rẩy không biết tương lai suốt năm học sẽ ra sao.

Nhưng Long lại gặp may một lần nữa. Thầy giáo mới hiền dịu và ngay từ đầu, Long đã đứng nhất lớp. Trong suốt 10 năm học tại trường này cho tới tú tài, không ai giành được chỗ đứng này cả, vì vậy sau này, cả thầy và bạn học cũ còn nhớ mãi cậu học trò Jean Martin, bản tính nhút nhát thật, nhưng không nhường chỗ số 1 cho ai cả.

Nhưng đó là chuyện sau này. Trở lại năm 1952, gia đình Long sống trong một căn nhà gỗ mái lá, thật ra là cỏ tranh có rất nhiều trong rừng Đà Lạt, đươc bện thành từng tấm hình chữ nhật dùng để lợp nhà. Khu gia binh này dành cho binh sĩ của Ngự Lâm Quân đã có gia đình sinh sống miễn phí, gồm vài chục căn nhà giống nhau được dựng lên vội vã. Điện câu từ trong biệt điện ra, nước phải dùng một máy nước công cộng cũng mắc từ biệt điện ra. Không có cầu tiêu, phải đi ra ngoài rừng thông ngay sát khu nhà. Khi Long than phiền về cái khoản này, mẹ Long nói : « Từ trước tới giờ con có may mắn sống có tiện nghi khi gia đình mình về Hà Nội rồi vào Sài Gòn. Nhưng con phải biết là không phải ai cũng được như thế đâu. Ngày xưa mợ sống ở vùng quê cũng phải « đi đồng », bây giờ con phải « đi rừng » cũng thế thôi. Muốn thoát ra khỏi cảnh nghèo khó này con phải ráng học hành cho giỏi. Bây giờ biết chịu khổ, mai kia con mới cảm thấy hạnh phúc khi lại được sống trong tiện nghi! »

Làm bếp thì phải đun bằng củi thông, dễ cháy nhưng cũng mau tàn và nhiều khói. Củi thông lấy ngay trong rừng bên cạnh. Một hôm Long thấy có hai người Thượng (6) đến. Họ mặc cái áo ka-ki vàng nhưng đóng khố chứ không mặc quần, và cũng không có giày dép gì cả. Họ có cái rìu đặc biệt gồm một lưỡi dao thẳng gắn vào một cái cán dài, ngay gần chỗ gắn lưỡi dao, cái cán được uốn cong 90 độ. Nhờ phần cong đó mà móc được cái rìu trên vai, lưỡi dao đưa lên trời, trông rất gọn. Họ nói tiếng địa phương của họ, chỉ biết ít tiếng Việt và khi nói không rõ ràng dấu sắc huyền hỏi ngã nên nghe thành một âm điệu đều đều vui tai. Mẹ của Long thuê họ đến do một bà bạn trong xóm giới thiệu.

Trong lớp Long cũng có một bạn người Thượng tên là K’Bri, cũng thuộc sắc tộc Cơ Ho. Nhưng bạn này mặc quần áo như Long, đi học mang giầy như Long, nói tiếng Việt và tiếng Pháp cũng như Long, và nhất là cơ thể không tỏa ra một mùi đặc biệt như hai người Thượng mà mẹ Long thuê, làm cho người khác không quen mùi này cảm thấy khó chịu.

Bà đưa họ vào rừng thông gần nhà và chỉ cho họ một cây thông to. Họ làm việc hì hục, bắt đầu hạ cây xuống bằng một lưỡi cưa to và dài, hai người kéo. Sau đó cắt bỏ cành lá, rồi thân cây cưa thành từng khúc ngắn, cuối cùng mời bổ ra thành từng thanh nhỏ để làm củi đem chất gọn ghẽ vào phía sau nhà. Họ làm ba ngày mới xong việc. Long không biết mẹ mình trả lương họ bao nhiêu, chắc chắn là không nhiều vì nhà cũng nghèo, tiền đâu mà trả nhiều được. Buổi trưa họ nghỉ tay ăn cơm gạo đỏ với mắm ruốc, cũng bà bạn giới thiệu nói họ thích ăn gạo đỏ « ngọt » hơn gạo trắng, và rất thích mắm ruốc nên bà Quy làm theo thế cho họ ăn.

Không phải chỉ có nhà Long cưa cây thông làm củi, mà các nhà khác trong khu gia binh cũng làm như vậy, và nhiều khu trong thành phố Đà Lạt cũng dùng gỗ thông lấy trong rừng làm củi đốt. Thời đó dân cư thưa thớt, rừng thông bạt ngàn, nên chẳng ai nghĩ rằng có thể có ngày không còn cây thông nào nữa nếu ai cũng cứ tự tiện cưa cây như vậy mà không trồng cây mới. Mãi sau này khi dân số đã tăng gấp mười lần, lúc đó người ta mới thấy hậu quả tai hại của việc đốn cây vô tội vạ!

Một buổi sáng chủ nhật, ông Quy phải cấm trại cùng nhiều người khác để tập dượt thao diễn nhân một lễ gì đó. Đứng trong sân nhà, Long nhìn lên phía sau hàng rào của dinh có đoàn mô-tô đang ôn lại cách biểu diễn trên con đường sát với vòng đai biệt điện. Tất cả lính tráng đều mặc lễ phục trắng với mũ áo chỉnh tề, vai đeo «dây quân công» (fourragères) trông rất oai phong, mấy người lái mô tô biểu diễn các thế đứng ngồi trên xe, Long nhìn không biết chán.

Bỗng có tiếng la thất thanh « Cháy nhà! Cháy nhà! ». Long chưa hiểu chuyện gì xảy ra thì thấy bà ngoại từ nhà hớt hải chạy ra tay dắt tay bế hai em gái, giục Long chạy theo ra ngoài bìa rừng. Quay lại nhìn, hồn vía lên mây khi Long thấy ngọn lửa lẫn với khói đen kịt trên mái căn nhà chỉ cách nhà Long có một căn. Chỉ cần làn gió nhẹ là lửa lan qua mái tranh nhà bên cạnh, rồi sẽ đến lượt nhà mình. Lần đầu tiên chứng kiến cảnh cháy nhà ngay gần nhà mình, thật hãi hùng!

Tiếng la hét lẫn với tiếng chân người chạy qua lại… Tất cả lính tráng đang mặc quần áo trắng tập dượt cho ngày đại lễ đồng loạt vượt hàng rào xuống khu gia binh chữa cháy, người thì dùng xô hứng nước máy công cộng tìm cách dập lửa, người thì giúp những người sống chung quanh nhà đang cháy mang đồ đạc ra ngoài. Nhà Long cũng khiêng cái rương đựng quần áo ra chỗ bà ngoại ngồi với mấy đứa nhỏ, rồi cái máy may nặng thế, bình thường phải hai người khiêng vậy mà bây giờ chỉ một người nhấc bổng lên gần như quăng ra ngoài… Nồi niêu xoong chảo, chạy được cái gì thì chạy…

May phước ngày hôm đó đứng gió. Nếu có gió to thì chắc là cả khu gia binh toàn nhà tranh vách gỗ đã thành đống tro tàn, vì dù có đông đảo bao nhiêu người đầy thiện chí giúp chữa cháy, nhưng không có vòi chữa lửa, không có dụng cụ chuyên môn của lính cứu hỏa thì làm sao thắng được thần lửa!

Cuối cùng nhờ công của bao nhiêu lính tráng ra sức dập lửa chung quanh, chỉ căn nhà đầu tiên bị cháy rụi, các nhà khác chỉ bị một phen khiếp vía, và đồ đạc nhà ai cũng bị hư hao ít nhiều vì vội vã khuân ra khuân vào. Dập tắt xong được ngọn lửa, các bộ lễ phục trắng tinh bây giờ lem luốc, nhàu nhìa, lúc đó mọi người mới thấy vừa thương vừa… buồn cười! Có ai mặc lễ phục trắng đi chữa cháy bao giờ!

Trong cảnh cháy nhà hôm đó, không phải chỉ có Long sợ run rẩy, mà mẹ Long cũng khiếp vía. Bà nói với chồng phải đi tìm nhà khác, không thể ở đây được nữa. Ông Quy cũng đồng ý rằng đây chỉ là nơi ở tạm lúc ban đầu, không tốn tiền thuê mướn gì cả, và khi ông đã ổn định rồi sẽ tìm nhà sau. Cho đến ngày hôm đó, ông Quy vẫn chưa được bổ nhiệm chính thức vào ban kế toán của đơn vị như ông mong muốn lúc đăng lính.

Rồi đây Long còn phải trải qua nhiều thay đổi khác trong giai đoạn thơ ấu của đời mình.

phamngoclan16
Hồ Xuân Hương Đà Lạt và vườn hoa chung quanh nhà Thủy Tạ, 2007

Ghi Chú:

1 - Quân đội Quốc gia Việt Nam được thai nghén từ hiệp định ngày 8 tháng 3 năm 1949 ký kết giữa Tổng Thống Pháp Vincent Auriol và cựu hoàng Bảo Đại tại điện Elysées, Paris. Trong giai đoạn đầu, quân đội này được tổ chức theo quân đội Pháp và do sĩ quan Pháp chỉ huy. Cuối năm 1949, 4 tiểu đoàn được hình thành, nhưng ngày thành lập chính thức là 11 tháng 5 năm 1950.

Quân đội Quốc gia Việt Nam bắt đầu lớn mạnh vào cuối năm 1950 khi tướng De Lattre de Tassigny qua Việt Nam với chức vụ Cao Ủy Cộng Hòa Pháp và Tổng Tư Lệnh quân đội. Lệnh tổng động viên được ban hành ngày 9 tháng 7 năm 1951.

Quân đội Quốc gia Việt Nam chỉ hoàn toàn độc lập với quân đội Pháp khi những người lính Pháp cuối cùng rời khỏi Việt Nam năm 1956.

2- Đà Lạt là một thành phố nằm trên cao nguyên Lâm Viên (Langbian), độ cao 1500m, cách Sài Gòn 300 km theo đường bộ về hướng đông bắc. Địa thế được bác sĩ Yersin (cũng là một nhà thám hiểm) khám phá ra năm 1893. Nhưng phải nhiều năm sau, khi toàn quyền Paul Doumer tìm một nơi làm trạm nghỉ mát cho người Pháp, địa điểm này mới được chọn vì khí hậu quanh năm mát mẻ và cảnh vật đồi núi hùng vĩ với rừng thông bạt ngàn. Thành phố chỉ thực sự được quy hoạch và xây dựng từ đầu thế kỷ 20. Năm 1993, Đà Lạt tổ chức trọng thể kỷ niệm 100 năm khai sáng.

Tên gọi Đà Lạt là do tiếng địa phương của người Cơ Ho (K’Ho), Đà là nước, Lạt là một trong những sắc dân Cơ Ho cư ngụ tại đây từ xưa, nên Đà Lạt là tên con suối chảy qua vùng này, được một đập nước chặn lại làm thành hồ Xuân Hương thơ mộng ngay trung tâm thành phố. Qua khỏi đập nước (Cầu Ông Đạo, bây giờ là đường Lê Đại Hành), con suối tiếp tục chảy qua thác Cam Ly.

Hiện nay Đà Lạt là một thành phố du lịch hàng đầu của Việt Nam, nhưng với dân số quá lớn (hơn 200.000), nhà cửa xây cất chen chúc quá nhiều nên thành phố không còn giữ được cảnh thiên nhiên như lúc ban đầu.

3- Ngự Lâm Quân là một đơn vị quân đội đặc biệt có nhiệm vụ bảo vệ vua, lúc đó là cựu hoàng Bảo Đại.

Thật ra năm 1952 ông Bảo Đại không còn là vua nữa mà là « Quốc trưởng ». Ông đã thoái vị từ năm 1945 để trở về với cương vị một công dân trong một nước dân chủ. Công dân Vĩnh Thụy đã chấp nhận làm cố vấn tối cao cho chính phủ Hồ Chí Minh, nhưng cũng chỉ là một chức vụ trang trí, và sau đó ông phải qua sống ở Hồng Kông. Từ năm 1947, ông được người Pháp tiếp xúc để hình thành cái mà họ gọi là « giải pháp Bảo Đại » trong quá trình trao trả độc lập cho Việt Nam bằng đường lối thương thuyết. Sau khi đòi được chính phủ Phấp trả lại thuộc địa Nam Kỳ cho Việt Nam, ngày 8 tháng 3 năm 1949, ông Bảo Đại ký kết với Tổng Thống Vincent Auriol hiệp ước Elysées, và trở về nước giữ chức vụ Quốc Trưởng của Quốc Gia Việt Nam thành lập từ đó.

Khi về nước, ông chọn sống ở Đà Lạt, trong một « biệt điện » với một trung đoàn Ngự Lâm Quân bảo vệ. Biệt điện đó bây giờ là Dinh III, một dinh thự còn giữ được nguyên vẹn, là một địa điểm thăm viếng cho du khách.

4 - Bác sĩ Alexandre Yersin sinh ra ở Thụy Sĩ năm 1863, mất năm 1943 tại Nha Trang và được mai táng tại đấy. Ông là người sáng lập viện Pasteur Nha Trang, và sau làm tổng thanh tra các viện Pasteur ở Đông Dương. Ông có công nghiên cứu chế tạo nhiều thuốc chủng ngừa, trong đó có thuộc chủng ngừa bệnh dịch hạch. Ông cũng đóng góp vào việc nghiên cứu trồng cây công nghiệp, đặc biệt là cây cao su ở Việt Nam.

Ông còn là một nhà thám hiểm không mệt mỏi các vùng rừng núi ở Đông Dương thời đó, và là người khám phá ra địa điểm để xây dựng thành phố Đà Lạt sau này. Vì vậy Đà Lạt có một con đường lớn mang tên ông, và trường trung học và tiểu học Pháp ở Đà Lạt cũng mang tên ông.

Sau năm 1975, trường trung học Yersin biến thành Trường Cao đằng Sư phạm, đường Yersin đổi tên thành đường Trần Phú, một lãnh tụ cộng sản trong thời kỳ phôi thai của đảng. Phải chờ đến năm 1993, nhân kỷ niệm 100 năm thành phố Đà Lạt, chính quyền mới công nhận công lao của ông Yersin và đặt tên ông cho một con đường nhỏ.

5- Giám mục d’Adran tên là Pigneau de Béhaine, tên Việt Nam là Bá Đa Lộc, giúp Nguyễn Ánh chiếm lại ngai vàng trong tay nhà Tây Sơn. Năm 1784, trong khi còn phải trốn tránh quân của Tây Sơn Nguyễn Huệ, Nguyễn Ánh nhờ giám mục Bá Đa Lộc về Pháp cầu viện với vua Louis XVI, đồng thời giao cho giám mục Hoàng tử Cảnh 4 tuổi là con ông để chứng tỏ lòng tin tưởng của mình. Năm 1787, hiệp ước Versailles được ký kết, nước Pháp chấp nhận giúp đỡ Nguyễn Ánh bằng cách gửi qua Việt Nam 4 chiến hạm và một đạo quân viễn chinh gồm cả pháo binh. Đổi lại, nước Pháp được chủ quyền trên hải cảng Đà Nẵng và Côn đảo, cùng một số ưu tiên thương mại trên toàn lãnh thổ.

Cách mạng Pháp bùng nổ năm 1789 nên hiệp ước không thực hiện được. Nhưng Giám mục Bá Đa Lộc vẫn tự mình tìm được quân và chiến hạm về giúp Nguyễn Ánh. Sau khi Nguyễn Huệ mất sớm, con lên nói ngôi còn bé, Nguyễn Ánh đánh bại quân Tây Sơn và lên ngôi năm 1802, lập ra triều Nguyễn.

Giám mục Bá Đa Lộc mất tại Việt Nam và được chôn cất ở đây. Để tưởng nhớ công ơn của ông với triều Nguyễn, một cái lăng được xây cất gần phi trường Tân Sơn Nhứt, ngày nay vẫn còn, có tên là Lăng Cha Cả.

(6) « Thượng » là danh từ dùng để chỉ người thiểu số sinh sống trong vùng rừng núi trên cao nguyên miền Trung. Thời Pháp thuộc gọi là « Mọi ». Trong vùng Đà Lạt, họ thuộc sắc dân Cơ Ho (K’Ho).

(Còn tiếp)

Phạm Ngọc Lân