Cha danh - 18. Ngôi trường tường đỏ - 1951 (Phạm Ngọc Lân)

Lượt xem: 753

”...Trong thâm tâm mẹ của Long lúc đó chắc cũng cám ơn Trời Phật đã cho mình một đứa con như thế, mặc dù nó chẳng phải là đứa con mà bà mong muốn lúc ban đầu...”

"Tôi sẽ nói với bạn những gì tôi nhớ lại mỗi độ thu về dưới bầu trời vần vũ, những bữa cơm tối đầu tiên dưới ngọn đèn, những chiếc lá bắt đầu vàng trên ngọn cây lay động ; tôi sẽ nói với bạn những gì tôi thấy khi đi qua vườn Luxembourg những ngày đầu tháng mười, phong cảnh hơi buồn và đẹp hơn bao giờ hết vì đó là mùa lá rụng, từng chiếc lá rơi trên bờ vai trắng của những pho tượng. Cái mà tôi thấy trong khu vườn đó là một cậu bé, tay đút túi quần, cặp đeo trên lưng, trên đường đến trường, tung tăng như một con chim sẻ". (1)

Đoạn văn tả ngày tựu trường trên đây của văn hào Pháp Anatole France có thể áp dụng cho cậu bé Long trong ngày tựu trường ở Sài Gòn năm 1951. Có thể thôi, nếu chịu khó thay vườn Luxembourg ở Paris bằng vườn Bờ Rô ờ Sài Gòn, thay « từng chiếc lá rơi trên bờ vai trắng của những pho tượng » bằng « những chiếc lá me rơi lấm tấm như confetti phủ kín đường đi ». Và cậu bé không « tung tăng như một con chim sẻ » mà nắm chặt tay mẹ vì bản tính nhút nhát, hồi hộp lo không biết thầy cô giáo mới, bạn bè mới, ngôi trường mới ra sao.

Trường tiểu học này mang tên «Centre Jauréguiberry» (2) là một trường công của Pháp. Đây là một ngôi nhà lớn hai tầng có tường sơn màu đỏ đậm nên người Sài Gòn gọi nôm na là « trường tường đỏ ».

ngoitruong_do
Hình ngôi trường tường đỏ chụp năm 2010 ; năm 1951, đây là trường Jauréguiberry,
sau đổi thành Saint-Exupéry.

 Trường này không do gia đình của Long chọn, mà do Sở Xã hội (Service social) của Pháp làm mọi thủ tục để Long học tại đấy. Cũng như ở Hà Nội trước đây, vì là con lai nên Long được Sở Xã hội Pháp lo cho chuyện học hành, gia đình không phải làm gì cả. Khi còn ở Hà Nội Long học trường Sainte Marie của bà sơ là một trường tư nổi tiếng, học phí chắc cũng khá cao nhưng gia đình Long không biết là bao nhiêu vì tiền học do Sở Xã hội đài thọ. Bây giờ vào Sài Gòn Long học một trường công của Pháp, cũng không rõ tại sao ngoài Hà Nội học trường tư, vào đây lại học trường công. Đối với bà ngoại và mẹ của Long, cháu và con mình được đi học là mừng lắm rồi, không thắc mắc gì nữa cả! Mà lại được học trường Pháp là một chuyện không khi nào bà và mẹ dám nghĩ tới khi Long sinh ra, vì trường Pháp chỉ dành cho người Pháp hoặc giới thượng lưu người Việt có liên hệ gần xa với Pháp.

Trường tiểu học này dạy chương trình giống hệt bên Pháp. Hiệu trưởng cũng như các thầy cô giáo đều từ Pháp sang. Trong những bài học đầu tiên về sử ký có câu « Tổ tiên chúng ta là dân Gaulois » (« Nos ancêtres sont les Gaulois »). Học sinh Việt Nam học trường Pháp cũng phải học thuộc lòng câu này vào một tuổi còn quá nhỏ dại để nghĩ đến chuyện tổ tiên thật của mình là ai.

Trường nằm trên đường Ngô Thời Nhiệm (không nhớ thời Pháp tên là gì) (3) trong khu tư gia khang trang của Sài Gòn, rất khác với khu bình dân nhà Long ở Chợ Quán. Và rất xa. Nên đi học không phải chuyện đơn giản, một thằng bé 7 tuổi không thể nào đi một mình được.

Thường là bà ngoại đưa Long đi học và đón về. Đầu tiên phải đi bộ từ nhà đến đường Cây Mai (đường Frères Louis, sau này là đường Nguyễn Trãi). Chặng thứ hai là leo lên chiếc xe thổ mộ chạy tới khu gần chợ Bến Thành. Đây là loại xe rẻ tiền nhất thời đó, khách là các bà đi chợ hằng ngày, nhưng cũng có nhiều bà buôn bán lẻ đem hàng ra chợ bán. Xe do một con ngựa kéo, hai bánh xe rất to có bọc lớp cao-su dày cho đỡ xóc. Đặc biệt là xe không có ghế ngồi. Dĩ nhiên là không có chút tiện nghi nào, nhưng đây là chặng thú vị nhất đối với một cậu bé 7 tuổi được bà đưa đi học.

Hành khách leo lên xe bằng một miếng sắt treo lơ lửng sau xe, mỗi lần có ai leo lên là xe lại nghiêng về phía sau, hai cái càng phía trước ngỏng lên nhưng vì buộc vào con ngựa nên được ghì lại. Khách leo lên được rồi ngồi bệt xuống sàn xe bằng gỗ có trải chiếc chiếu nhỏ. Hai bên hông xe có thành gỗ làm chỗ dựa lưng, bên trên là cái mái cong cong che mưa nắng, được chống bởi mấy thanh gỗ đơn giản. Phía trước chỗ người đánh ngựa ngồi có hai cái móc hai bên để treo mấy giỏ cần xé bằng tre đan to tướng của mấy bà chở hàng đi bán. Hai cái móc lớn bằng sắt trông ngộ nghĩnh, có hình thù một cánh tay co lên, bàn tay nắm lại, tư thế sẵn sàng « pạc-co » (4) với một đấu thủ vô hình !

bucanh_trove
Xe thổ mộ trong bức ảnh chụp của nữ nhiếp ảnh gia Nguyệt Vy. Bức ảnh có tên « Trở Về » đã được giải nhất trong kỳ thi nhiếp ảnh năm 1998 kỷ niệm 300 năm thành lập thành phố Sài Gòn.Hình trên đây chụp lại một bản in trên vải do nhiếp ảnh gia Nguyệt Vy tặng tác giả.

 Mô tả chiếc xe thổ mộ dài giòng như thế, người đọc chắc nghĩ chiếc xe cũng khá lớn, thật ra nó rất nhỏ, vậy mà cũng chồng chất lên đó được cả 5, 7 người. Cũng may những người đàn bà bình dân này không có ai to béo mập mạp cả. Thường Long phải ngồi một bên nép sát vào bà ngoại, bên kia cũng sát không kém với một bà đi buôn, cả hai đều miệng tóm tém nhai trầu… Khi xe chật quá thì ông đánh xe cho Long lên ngồi cạnh ông, chân thõng xuống. Chuyến đi nào được ngồi như thế là Long sướng lắm, vừa được ngắm nhìn thân ngựa bóng loáng mồ hôi nhấp nhô lên xuống theo nhịp kéo xe, vừa được nghe tiếng chân ngựa lóc cóc đều đặn trên đường nhựa lẫn với tiếng lục lạc nho nhỏ vui tai!

Tới gần khu chợ Bến Thành phải quẹo trái đi vào vườn Bờ Rô. Long rất thích đi qua khu vườn này, bóng cây rợp mát, nhất là khi buổi chiều về không khí nóng bức. Mãi sau này vẫn nghe người dân Sài Gòn gọi vườn này là vườn Bờ Rô, dù tên chính thức của nó là vườn Tao Đàn, và thời Pháp cũng có tên chính thức là « Parc Maurice Long », không thấy « bờ biếc » hay « rô riếc » ở đâu cải! (5)

Qua vườn này rồi đâu đã đến nơi, còn phải đi bộ mãi qua mấy ngã tư nữa mới rẽ vào đường có ngôi trường tường đỏ.

Long còn nhớ mãi ngày tựu trường tháng 9 năm 1951. Năm đó cậu bé vào học lớp Dixième (tương đương với lớp 2 của bậc tiểu học sau này). Hôm đó không phải bà ngoại mà là mẹ đưa đi học ngày đầu tiên, khi đến trước cổng trường đã có đông đảo cha mẹ học trò đưa con đến tụ tập nói chuyện huyên náo, chờ giờ mở cổng. Cậu bé nhút nhát đứng tách riêng bên kia đường nép sát vào mẹ, quan sát các phụ huynh gồm cả người Pháp lẫn người Việt, ai nấy đều quần áo bảnh bao theo kiểu tây phương, chỉ có mẹ mình mới từ Hà Nội vào mặc chiếc áo dài. Long thấy áo dài của mẹ đẹp lắm chứ, nhưng vẫn thấy nó bị lạc lõng giữa đám đông người lạ mặc toàn âu phục. Hơn nữa họ nói chuyện với nhau toàn bằng tiếng Pháp, chứng tỏ họ không phải cùng giới với mình. Long cảm thấy rõ ràng điều này, nhưng cố làm ra vẻ thản nhiên, nghĩ đến lời mẹ dặn: « Nhà mình nghèo con ạ, không thể đua đòi với người ta được đâu. Con có may mắn được học trường có quy củ của Pháp, cùng với con cái nhiều gia đình quyền quý, con phải cố gắng học cho giỏi thì không ai có thể khinh con được, dù người ta biết là nhà con nghèo. »

Long nhớ lời mẹ dặn, vượt qua được mặc cảm và chăm chú chuyên cần học hành. Và cũng phải nhớ là trong lớp thì mang tên theo giấy khai sinh là Jean Martin, ở nhà thì vẫn gọi là Long. Đầu năm cậu bé còn bỡ ngỡ và gặp vài khó khăn trong môn học thuộc lòng vì trí nhớ về văn tự hơi kém, nhưng Long giỏi trong các môn khác, nhất là toán, nên cuối năm đứng hạng nhì trong lớp gần bốn mươi học sinh. Long còn nhớ mãi thằng bạn đứng nhất lớp tên là Guy B. hình dáng mảnh khảnh còn nhỏ hơn Long, tính tình hiền lành, nhớ được là nhờ tấm hình chụp chung cả lớp vào cuối năm.

phamngoclan_lop_dixieme
Lớp Dixième trường Jauréguiberry niên khóa 1951-52.
Tác giả ngồi hàng giữa, thứ sáu kể từ trái qua.

Hết niên học, lễ phát thưởng diễn ra trong nhà chơi (préau) rộng của trường. Một khán đài gỗ được dựng lên ở một đầu nhà, phụ huynh học sinh ngồi chật kín cả phần còn lại. Hôm đó cả bà ngoại, mẹ và cha dượng của Long đều có mặt, ngồi bên cạnh các phụ huynh học sinh khác, rất hãnh diện vì con cháu mình đã biết đọc biết viết tiếng Pháp, ngoài tiếng Việt đã được dạy ở nhà từ lâu. Hãnh diện hơn nữa khi Long được gọi lên lãnh phần thưởng mấy cuốn sách to và nặng ơi là nặng đối với đứa bé 8 tuổi.

Trong thâm tâm mẹ của Long lúc đó chắc cũng cám ơn Trời Phật đã cho mình một đứa con như thế, mặc dù nó chẳng phải là đứa con mà bà mong muốn lúc ban đầu.

Phạm Ngọc Lân
(Cha vô danh – Chuyện kể cuộc đời một người Việt lai Pháp)

Ghi chú:

 (1) “Je vais vous dire ce que me rappellent, tous les ans, le ciel agité de l’automne, les premiers diners à la lampe et les feuilles qui jaunissent dans les arbres qui frissonnent ; je vais vous dire ce que je vois quand je traverse le Luxembourg dans les premiers jours d’octobre, alors qu’il est un peu triste et plus beau que jamais ; car c’est le temps où les feuilles tombent une à une sur les blanches épaules des statues. Ce que je vois alors dans ce jardin, c’est un petit bonhomme qui, les mains dans les poches et sa gibecière au dos, s’en va au collège en sautillant comme un moineau”. (Anatole France: Le livre de mon ami - Les humanités).

(2) Jean Bernard Jauréguiberry (1815-1887) là một Đô đốc Hải quân Pháp và một nhà lãnh đạo chính trị, dân biểu, rồi nghị sĩ « không thay thế được (inamovible) », hai lần làm Bộ trưởng Hải quân (Ministre de la Marine). Nhưng tại sao một ngôi trường ở Sài Gòn lại mang tên của ông? Vì khi ông còn là Đại tá Hải quân, chỉ huy chiến hạm Primauguet trong hạm đội của Đô đọc Rigault de Genouilly, chính ông là người đã tấn công Đà Nẵng năm 1858 và Sài Gòn năm 1859, mở màn cho thời kỳ thuộc địa ở Đông Dương.

Khi Việt Nam lấy lại chủ quyền năm 1954, trường Jauréguiberry – vẫn còn là một trường tiểu học Pháp cho đến năm 1975 – được đổi tên thành Saint-Exupéry, một nhà văn nổi tiếng của Pháp. Năm 2010, nhà trường mang tên « Trường trung học thực hành Sài Gòn – Khoa quản lý giáo dục». Bên ngoài vẫn là « trường tường đỏ » như xưa.

(3) Có độc giả cho biết đường Ngô Thời Nhiệm thời Pháp tên là Jauréguiberry, giống như tên trường. Trên mạng Internet, có nơi nói đường Hồ Xuân Hương (song song với đường Ngô Thời Nhiệm) thời Pháp tên là Jauréguiberry, nơi khác nói là đường Dispensaire.

(4) Trò chơi đọ sức : hai đối thủ chống tay lên bàn, hai cánh tay móc vào nhau, lấy sức kéo cánh tay đối thủ vật xuống mặt bàn. Thời đó tiếng lóng gọi là « pạc co », tùy thời và tùy địa phương có cách gọi khác nhau.

(5) Có nhiều giải thích khác nhau, nhưng cùng chung mẫu số là « bờ rô» do người bình dân đọc theo kiểu Việt Nam một từ tiếng Pháp nào đó, chẳng hạn như « Beaux Jeux », « Peugeot », « Préau »… Ông Vương Hồng Sển, một người biết khá nhiều về Sài Gòn xưa (tác giả cuốn Sài Gòn Năm Xưa) cũng không giải thích tại sao người ta gọi vườn này là « Bờ Rô ».