Cha danh - 17. Sài Gòn, Hòn Ngọc Viễn Đông - 1951 (Phạm Ngọc Lân)

Lượt xem: 149

”...Long vẫn chưa hiểu làm cách nào mà mấy cái lá hái ở đâu về vò nát trong nước ra một màu xanh thật đẹp, rồi chỉ cần lọc lấy cái nước đó để một thời gian là đông lại thành chất thạch mềm mại trông mát mắt..”

Sài Gòn đầu thập niên 50 vẫn còn xứng đáng với tên gọi « Hòn Ngọc Viễn Đông », một danh xưng không biết có tự lúc nào, chắc do một ông văn sĩ lãng mạn nào đó nghĩ ra! Sài Gòn trước kia là thủ đô của Nam Kỳ (1), sau đó là thủ đô miền Nam trong thời gian đất nước chia đôi, và cuối cùng là « thủ đô kinh tế » của nước Việt Nam thống nhất.

Tuy Long sinh ra tại Sài Gòn nhưng phải chờ đến 7 tuổi cậu bé Long mới khám phá ra thành phố này khi theo gia đình từ Hà Nội vào, đặt chân lên Bến Nhà Rồng (2) vào mùa hè năm 1951. Đây là bến tàu thủy quan trọng của cảng Sài Gòn, nằm bên khu Khánh Hội, gần cầu Quay (3).

ben_nharong
Bến Nhà Rồng ngày xưa (hình lấy trên mạng Internet)

cau_quay
Cầu Quay ngày xưa, ở vị trí « quay 90 độ » cho tàu bè đi qua (hình lấy trên mạng Internet)

Chiếc tàu nhỏ mất 3 ngày đi từ Hải Phòng vào Sài Gòn. Một điều lạ là cậu bé Long không nhớ được chi tiết nào về chuyến đi này. Lần đầu tiên được đi tàu thủy, được thấy các bến cảng nhộn nhịp, được ngắm cảnh biển rộng bao la, lẽ ra trí óc còn mới mẻ của đứa trẻ 7 tuổi phải ghi lại những hình ảnh này mới phải, vậy mà Long không nhớ gì cả. Chỉ biết một điều do mẹ nói lại là bị say sóng. Chắc vì vậy mà bộ óc không muốn giữ lại những hình ảnh làm gợi nhớ cái cảm giác khó chịu kia.

Cha dượng và mẹ Long đã quyết định vào Nam phần vì sợ, phần vì trong Nam dễ sống hơn. Phần sợ có lẽ nặng hơn là chuyện công ăn việc làm. Chiến tranh lúc đầu chỉ là những tiếng vang qua báo chí và đài phát, nhưng năm 1951 đã bắt đầu lan dần đến gần Hà Nội. Ông Quy cha dượng của Long đã từng là tự vệ thành ở thủ đô, đã từng tản cư theo kháng chiến, nhưng sau đó lại « dinh-tê » về Hà Nội, lại đăng lính trong quân đội Pháp. Nếu cộng sản thắng thế thì số phận ông sẽ ra sao ? Và thực tế đã cho thấy rằng ông sợ là phải! Sau 1954 khi chế độ cộng sản áp đặt lên nửa nước phía bắc, những người như ông Quy bị đưa đi cải tạo vô hạn định trong những trại tù khổ sai. Và 21 năm sau, cảnh đó lại tái diễn với một quy mô lớn hơn khi chế độ cộng sản bao trùm lên cả nước dưới mỹ từ « học tập cải tạo ».

Nhưng đó là chuyện sau này. Trở lại mùa hè 1951, gia đình Long 6 người gồm bà ngoại, cha dượng và mẹ, Long và hai em gái 3 và 1 tuổi đặt chân lên bến tàu Sài Gòn, bắt đầu một cuộc sống mới. Trước khi quyết định ra đi, mẹ của Long đã liên lạc với ông C. sống trong Sài Gòn. Ông C. là em rể của ông Phó, hai ông bà vào Sài Gòn từ lâu. Ông làm nghề thầu khoán xây cất nhà cửa, làm ăn phát đạt, gia đình khá giả. Ông tìm một người tín cẩn để lo việc sổ sách kế toán. Ông Quy mới giải ngũ, đang tìm việc, được tiếng là tính tình cẩn thận, và nhất là người « trong gia đình » nên còn ai hơn trong công việc này nữa!

Cả gia đình được hai người con ông C. đón ở bến tàu và đưa về nhà trên Đa Kao. Cậu bé Long lần đầu trong đời thấy một đại lộ với con đường lớn ở giữa được chia hai, lại kèm thêm hai đường nhỏ hai bên với rất nhiều cây to rợp bóng mát, đó là đại lộ Charner sau này là đại lộ Nguyễn Huệ. Rồi con đường Catinat xinh xắn, nơi hò hẹn của nam thanh nữ tú Sài Thành năm xưa với các nhà hàng sang trọng của Pháp, sau này sẽ là đường Tự Do, và sau nữa là Đồng Khởi.

dailo_charner

Đại lộ Charner xưa rất nhiều cây to bóng mát (hình lấy trên mạng Internet), nay là đại lộ Nguyễn Huệ. Mỗi dịp Tết đến đại lộ này trước đây có chợ hoa, ngày nay biến thành « đường hoa ». Ngôi nhà đồ sộ ở cuối đường thời Pháp thuộc gọi là « Nhà Xã tây », sau trở thành Tòa Đô Chánh, sau nữa là Ủy ban Nhân dân Thành phố.

duong_catinat
Đường Catinat thời Pháp thuộc, khúc trước nhà hát thành phố. Nhìn kỹ thấy khách sạn Continental có quảng cáo thuốc lá Cotab, một loại thuốc lá thơm chế tạo ngay tại Sài Gòn. (hình lấy trên mạng Internet)

Nhà thờ Đức Bà vừa uy nghi sừng sững giữa một khu vực rộng lớn, vừa gần gũi ấm áp với màu gạch hồng tươi (4) nổi bật sau khu vườn cỏ xanh mướt với bông hoa được chăm sóc kỹ lưỡng (5). Sau đó rẽ qua đại lộ Norodom đi từ dinh Toàn quyền đến Sở thú, sau này là đại lộ Thống Nhất bắt đầu từ dinh Độc Lập, và sau nữa trở thành đại lộ Lê Duẩn bắt đầu từ hội trường Thống Nhất. Chỉ có Sở Thú muôn đời vẫn là Sở Thú, không thay tên đổi họ…

nhatho_ducba01
Nhà thờ Đức Bà năm 1882 mới khánh thành, chưa có 2 tháp nhọn, và năm 1951, có tháp nhọn nhưng chưa có tượng Nữ Vương Hòa Bình (hình lấy trên mạng Internet)

nhatho_ducba02
Nhà thờ Đức Bà năm 1971 với tượng Nữ Vương Hòa Bình phía trước. (hình lấy trên mạng Internet). Năm 2010, nhà thờ vẫn như xưa không có gì thay đổi, nhưng chung quanh cây cối bớt đi nhiều.
Phía sau là tòa nhà mới dùng làm khu thương mại.

Quẹo trái vào đường Albert Premier (sau này là đường Đinh Tiên Hoàng) là đến Đa Kao, một khu xinh xắn của Sài Gòn, thời đó còn xem như một khu tách riêng tuy chỉ cách trung tâm Sài Gòn chưa đến 2 cây số. Xưa là một khu yên tĩnh của giới trung lưu, với những ngôi nhà nhỏ nhưng khang trang, một khu có chợ riêng (chợ Đa Kao), có rạp chiếu bóng riêng (rạp Casino Dakao).

casino_dakao
Rạp xi-nê Casino Dakao thời xưa (hình lấy trên mạng Internet)

Ông bà C. có căn nhà lầu rộng rãi trên đường Faucault (sau này là Nguyễn Phi Khanh). Hai ông bà niềm nở đón tiếp cả gia đình Long, sẽ ở tạm đấy trong khi chờ đợi tìm được nhà. Nhắc lại bà C. là em ruột ông Phó nên tận tình giúp đỡ gia đình Long trong bước đầu bỡ ngỡ. Ngay hôm sau ông Quy theo ông C đến sở làm để nhận công việc mới.

Sau gần 2 tuần tá túc ở Đa Kao, gia đình Long dọn về một căn nhà ở khu Chợ Quán, đường « rue de l’Eglise » (có nghĩa là « đường Nhà thờ » vì có nhà thờ Chợ Quán trên đường này) nay đổi tên là đường Trần Bình Trọng. Khu Chợ Quán này nằm khoảng giữa Sài Gòn và Chợ Lớn, vắt ngang qua « đường xe lửa giữa (6) » là đường Galliéni nối liền Sài Gòn với Chợ Lớn, tức là đường Trần Hưng Đạo ngày nay.

Đây là một căn nhà nhỏ bằng gỗ mái tôn, nằm trong một dãy nhà giống nhau, vách ngăn hai căn cũng chỉ là ván mỏng nên hàng xóm nói to là nghe rõ mồn một. Cũng may mua được căn bìa nên chỉ có một hàng xóm bên phải. Trước nhà có cái sân nhỏ, ông Quy mua những thanh gỗ mỏng về cắt nhọn một đầu để đóng thành cái hàng rào thấp sơn trắng trông rất đẹp mắt. Rồi làm một cái giàn cho hoa thiên lý, về đêm tỏa hương thơm ngát. Ngày nào đẹp trời, buổi tối mọi người kê ghế ngồi hóng mát dưới giàn hoa thiên lý, vừa đỡ tốn điện thắp đèn trong nhà, vừa thưởng thức mùi thơm ngào ngạt của hoa. Nếu không có gió thì đã có quạt giấy, thời đó quạt máy còn là xa xỉ phẩm đối với đa số người dân Sài Gòn.

Tối tối ngồi hóng mát nhìn ông đi qua bà đi lại ngoài đường là một thú tiêu khiển giản dị để nghỉ ngơi sau một ngày làm việc mệt mỏi. Một buổi tối Long thấy một người đàn bà đứng tuổi dìu một ông cụ già mặc đồ bà ba lụa trắng đi chậm chạp ngoài đường. Ông cụ có dáng vẻ quý phái, rất khác với những người sống trong xóm bình dân này. Bà ngoại nói nhỏ vào tai Long : « Vua Thành Thái (7) đó ! ». Trời! Trí óc non nớt của Long không hiểu tại sao một ông vua lại đi dạo trong xóm bình dân như xóm này. Nhưng bà ngoại giải thích rằng ngày xưa vua Thành Thái sống trong cung điện ngoài Huế, sau đó bị đi đày ở xa lắm, nay được trở về nước là mừng lắm rồi, tuy phải ở xóm bình đân cũng còn hơn ở nước người tận đâu đâu. Long chưa hiểu được « bị đi đày » là thế nào, nên cũng bán tín bán nghi không biết bà ngoại có nói đùa không. Mà nếu thật thì Long cũng có chút tự hào, đâu phải thằng bé nào cũng được sống cùng xóm với một ông vua đâu! Dù là ông vua đã bị đi đày chăng nữa!

Bên kia đường là một bãi trống bỏ hoang cỏ dại mọc um tùm, có hàng rào ngăn cách với đường cái. Nghe nói bãi đó kéo dài vào tận phía sau trường Pétrus Ký (8), nhưng Long bé quá có thấy cái trường này bao giờ! Ngược lại cậu bé 7 tuổi nhớ nhất là chuyện ma người ta kể về cái bãi này. Nhiều ma lắm, ban đêm có ma trơi bay lượn tùm lum, người ta dọa thế. Long chỉ nghe tiếng « ma » cũng đã khiếp vía rồi, không biết ma trơi hình dáng ra sao, nhưng chắc dễ sợ lắm! Sở dĩ nhiều ma vì có lời đồn rằng nơi đây cả trăm năm trước đã có cả ngàn người già trẻ trai gái lớn bé bị xử tử, thây vùi chôn tại chỗ, sau cuộc nổi loạn của Lê Văn Khôi (9).

lang_ong_levanduyet01
Lăng Ông tức lăng Tả Quân Lê Văn Duyệt ở Bà Chiểu
(hình lấy trên mạng Internet)

lang_chaca
Lăng Cha Cả tức lăng Giám mục Bá Đa Lộc gần Tân Sơn Nhứt
(hình lấy trên mạng Internet)

Trái lại có một bãi khác không có ma nhưng có… chó ! Bãi này Long rất rành – dù là rất sợ chó – không có hàng rào như bãi trước mặt nhà, và chạy từ hông nhà về phía sau, rộng lắm. Xa xa là một xóm nhà thấp thoáng sau hàng me to phủ rợp một khu giống như cảnh làng quê, dù đây vẫn là quận 5 cùa thành phố Sài Gòn. Những người sống trong xóm này có nghề làm sương sâm. Sở dĩ Long rành cái bãi đó vì những buổi chiều nóng nực, nếu Long có nhà – thí dụ ngày thứ năm được nghỉ học – là mẹ sai mang một cái tô bằng nhôm đi vào trong xóm mua sương sâm về cả nhà ăn. Lần đầu bà ngoại đi mua dắt Long đi theo cho biết, sau đó Long phải đi một mình, mẹ nói phải đi cho dạn dĩ thêm, con trai gì mà nhút nhát quá, mở mồm không ra! Thật ra Long không sợ phải tới nhà người ta nói năng dài dòng gì cả, vì đã mua một lần người ta biết mặt, tới chỉ cần đưa cái tô nhôm và tiền đã biết trước là bao nhiều rồi, không khó khăn gì. Nhưng mà sợ chó! Vì có mấy con chó thấy người lạ là sủa ầm ĩ, mà chó thả rong chứ đâu có dây buộc! Thật ra loại chó này không dữ lắm, chỉ sủa vậy thôi chứ chưa thấy cắn ai bao giờ, nhưng Long sợ thì vẫn cứ sợ. Mẹ nói sợ thì cầm cây gậy theo, nhưng Long nghe mấy đứa bạn nói chó mà thấy người cầm gậy là nó càng sủa dữ hơn nữa, thấy chó dữ phải ngồi xuống làm như lượm đá liệng thì con chó mới sợ! Nhưng mà ngồi xuống lỡ nó nhào tới cắn, thì cắn vô mặt là chết rồi!

Qua được cửa ải chó rồi, đến căn nhà vẫn mua quen, có một bà đứng tuổi và một cô bé giúp bà. Lá sương sâm để trong mấy cái thau nhôm to, lần nào Long sang cũng thấy hai bà cháu ngồi vò lá. Long vẫn chưa hiểu làm cách nào mà mấy cái lá hái ở đâu về vò nát trong nước ra một màu xanh thật đẹp, rồi chỉ cần lọc lấy cái nước đó để một thời gian là đông lại thành chất thạch mềm mại trông mát mắt. Có cần phải thêm chất gì cho nó đông lại thì Long không biết, đến đó mua thì chỉ thấy hai bà cháu cặm cụi bóp lá bằng tay thôi.

Về nhà sương sâm được cắt miếng cho vào ly, thêm chút đường cát và nước đá mẹ sai Long đi mua ở quán tạp hóa đầu đường. Quấy đều lên, thạch vỡ thành từng mảnh nhỏ. Trời nóng đang khát nước, mỗi hớp sương sâm mát rượi thấm vào cơ thể là một vài giây hưởng cái thú vui bình dị của con người sống gần gũi với thiên nhiên chưa bị ô nhiễm bởi những hóa chất lan tràn sau này. Thật đáng tiếc khi xã hội tiến lên theo đà văn minh của thế giới, con người lại phải tiêu thụ những món ăn thức uống đóng hộp với bao nhiêu hóa chất bảo quản, chẳng còn ai tự tay chế biến những món bình dân đơn giản mà tinh khiết như thế nữa…

Trong năm đầu tiên sống ở Sài Gòn này, Long còn khám phá học hỏi được rất nhiều điều. Nhưng chuyện thú vị nhất in sâu vào ký ức cậu bé 7 tuổi là những kỷ niệm trên đường đi học…

(Còn tiếp)

Phạm Ngọc Lân
(Cha vô danh – Chuyện kể cuộc đời một người Việt lai Pháp)

Ghi chú:

(1) Sài Gòn trước đây là thủ đô của Nam Kỳ, và cũng là « thủ đô kinh tế » của toàn cõi Đông Dương. Tên gọi Nam Kỳ được dùng trong thời kỳ Pháp thuộc, tiếng Pháp là Cochinchine. Nam Kỳ là một trong 5 thành phần của Đông Dương gồm Bắc Kỳ (Tonkin), Trung Kỳ (Annam), Nam Kỳ (Cochinchine), Cao Miên (Cambodge) và Lào (Laos). Nam Kỳ là một thuộc địa, do người Pháp cai quản trực tiếp, còn 4 phần kia là những « nước bảo hộ » vẫn có chính phủ riêng của mình nhưng có quan chức Pháp đứng bên cạnh « bảo hộ ».

Nam Kỳ được chính thức trả lại cho Việt Nam qua hiệp ước Elysées ký kết ngày 8 tháng 3-1949 giữa Tổng thống Pháp Vincent Auriol và Quốc trưởng Bảo Đại, và đạo luật ngày 4 tháng 6-1949 của Quốc hội Pháp thay đổi quy chế thuộc địa của Nam Kỳ để trả lại cho Quốc Gia Việt Nam.

(2) Bến Nhà Rồng là thương cảng của Sài Gòn, nằm trên sông Sài Gòn, khu Khánh Hội. Bến này có từ những năm đầu tiên của thời kỳ Pháp thuộc. Người dân gọi nôm na là « bến Nhà Rồng » vì trên nóc một ngôi nhà lớn tọa lạc nơi đây có tượng hai con rồng. Ngôi nhà này được bắt đầu xây cất từ năm 1863, do công ty « Messageries Maritimes » (vận tải đường biển) dùng làm trụ sở cho công ty.

Hiện nay ngôi nhà này trở thành nhà Bảo tàng Hồ Chí Minh, để kỷ niệm người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã từ bến cảng này đi qua Pháp trên tàu Amiral Latouche Tréville năm 1911.

(3) Cầu Quay là một cây cầu bằng sắt bắc qua kênh Bến Nghé ở khúc sát với sông Sài Gòn, có từ đầu thế kỷ 20. Đây là một cây cầu độc đáo ở Việt Nam, có khúc giữa quay ngang 90 độ trên một trục lớn, mở ra hai bên cho tàu bè qua lại. Cây cầu này được thay bằng một cầu bằng xi măng trong thập niên 60 là cầu Khánh Hội, lúc đó không còn quay nữa, nhưng người dân vẫn quen miệng gọi là cầu Quay. Đến năm 2006, một cầu Khánh Hội mới trên đại lộ Đông Tây được xây thay cho cầu cũ.

Cầu Quay là cầu cuối cùng trên kênh Bến Nghé trước khi con kênh này đổ vào sông Sài Gòn. Những cây cầu khác trên con kênh này ngày xưa được xây cao lên cho tàu bè đi qua như cầu Mống (chỉ dành cho người đi bộ, trên mạng Internet có nơi ghi lầm là cầu Quay), cầu Ông Lãnh, cầu Chữ Y, cầu Chà Và, v.v…

(4) Gạch dùng để xây nhà thờ Đức Bà Sài Gòn (khởi công vào năm 1877, khánh thành năm 1880) chở từ bên Pháp qua là gạch của vùng Toulouse. Thành phố Toulouse ở miền nam nước Pháp được mệnh danh là « la ville rose », « thành phố hồng » vì đa số các kiến trúc lớn của thành phố đều xây bằng gạch có màu hồng tươi. Trên mạng Wikipedia tiếng Việt ghi gạch của nhà thờ Đức Bà là gạch Marseille là không chính xác, vì gạch không phải là nguyên liệu chính dùng ở thành phố Marseille. Wikipedia tiếng Pháp ghi rõ là gạch của Toulouse.

(5) Sau này, năm 1959 giữa vườn hoa có bức tượng bằng cẩm thạch trắng đặt từ bên Ý mang qua, đó là tượng « Nữ Vương Hòa Bình », đến nay vẫn còn. Trước năm 1945 là một bức tượng bằng đồng của Giám mục Adran, có tên Việt Nam là Bá Đa Lộc, tay dắt Hoàng. Mộ của ông có tên là Lăng Cha Cả gần khu Tân Sơn Nhứt.

(6) Sở dĩ người bình dân gọi đại lộ Trần Hưng Đạo là đường « xe lửa giữa » vì ngày xưa có đường rầy xe điện đặt giữa đường, trong khi các đường khác có xe điện chạy (như đường Paul Blanchy là Hai Bà Trưng ngày nay) thì đường rầy nằm một bên, gần lề đường.

(7) Thành Thái là Hoàng đế thứ 10 của triều Nguyễn, bắt đầu từ Hoàng đế Gia Long năm 1802 và chấm dứt với Hoàng đế Bảo Đại năm 1945. Thành Thái lên ngôi lúc 10 tuổi năm 1889 và bị chính quyền bảo hộ Pháp truất phế năm 1907 vì ông có tư tưởng và hành vi chống Pháp. Ông bị quản thúc ở Vũng Tàu cho đến năm 1916 thì bị đày ra đảo Réunion một thuộc địa khác của Pháp ở Phi châu, cùng với con là Hoàng đế Duy Tân nối ngôi ông rồi cũng bị truất phế vì có tinh thần chống Pháp. Gia đình ông sống trong cảnh nghéo túng ở đảo Réunion. Năm 1945 vua Duy Tân tử nạn trong một tai nạn máy bay, vua Thành Thái được trở về nước năm 1947 nhưng không được về cố đô Huế mà phải sống tại một ngôi nhà ở Sài Gòn (vì vậy tác giả có dịp thấy). Ông mất năm 1954 và được mang về Huế an táng.

 (8) Pétrus Trương Vĩnh Ký tên lúc mới sinh năm 1837 là Trương Chánh Ký, sau đổi là Trương Vĩnh Ký, quê ở Vĩnh Long, học chữ Hán từ nhỏ. Cha mất sớm lúc ông 8 tuổi, ông được một linh mục công giáo để ý khi thấy ông có trí thông minh vượt bực, đã khuyên mẹ ông cho đi học Quốc ngữ và theo đạo Công giáo. Tên thánh cùa ông là Jean-Baptiste, Pétrus là tên chữ ông dùng sau này, tự là Sĩ Tải.

 Sau đó ông được gửi qua học một trường đạo ở Penang (hiện nay thuộc Mã Lai). Trở về Việt Nam với vốn liếng vững chắc về ngôn ngữ cũng như văn hóa Pháp, lại biết thông thạo nhiều ngoại ngữ Tây phương cũng như Đông phương, và được thấm nhuần văn hóa Khổng Mạnh, ông nghiễm nhiên trở thành gạch nối lý tưởng cho chính quyền thuộc địa thiết lập tại Nam Kỳ từ sau hiệp ước Nhâm Tuất 1862. Năm 1863, ông được cử làm thông ngôn cho phái đoàn Phan Thanh Giản qua Pháp thương thuyết để lấy lại 3 tỉnh miền đông Nam Kỳ (thương thuyết thất bại, sau này ông Phan Thanh Giản, một vị quan nổi tiếng cương trực đã phải tự vẫn vì sức yếu không chống nổi quân Pháp làm mất thêm 3 tình miền tây).

Ông Trương Vĩnh Ký được xem là ông tổ của làng báo Việt Nam vì là chủ nhiệm tờ Gia Định Báo, tờ báo đầu tiên bằng Quốc ngữ. Ông cũng là tác giả hơn 100 tác phẩm văn học, ngôn ngữ, lịch sử, địa lý, từ điển, dịch thuật. Ông là người có công lớn đi tiên phong trong việc quảng bá Quốc ngữ, cũng là người đầu tiên phiên âm truyện Kiều từ chữ Nôm ra Quốc ngữ. Ông mất năm 1898.

Trường Pétrus Ký là một trường trung học nổi tiếng của Sài Gòn, xây cất từ năm 1927. Sau năm 1975, ngôi trường mang tên của một học giả uyên bác có công với nền văn học Việt Nam là Pétrus Ký bị đổi thành Lê Hồng Phong, tên của một lãnh tụ đảng Cộng sản Việt Nam, cũng là một đảng viên của hai đảng Cộng sản Trung Quốc và Liên Xô.

(9) Lê Văn Khôi là con nuôi của Tả Quân Lê Văn Duyệt (1763-1832). Lê Văn Duyệt là một tướng thân cận của Chúa Nguyễn Ánh, có công lớn trong việc giúp Nguyễn Ánh trở nên Hoàng đế Gia Long và lập ra triều Nguyễn năm 1802.

Vua Gia Long lập đô ở Phú Xuân là thành phố Huế ngày nay, và trao cho Lê Văn Duyệt làm tổng trấn Gia Định, được dân miền Nam tôn kính vô cùng. Khi ông mất năm 1832, lăng của ông ở khu Bà Chiểu (« Lăng Ông Bà Chiểu ») thu hút rất đông người đến chiêm ngưỡng cúng bái. Sau này trở thành thông lệ vào mỗi dịp Tết, Lăng Ông đông nghẹt người đến tế lễ, hái lộc và xin xăm.

 Sau khi Lê Văn Duyệt qua đời, vua Minh Mạng bãi chức Tổng Trấn Gia Định và chia miền Nam thành 6 tỉnh gọi là Lục Tỉnh, được cai quản theo luật lệ của triều đình trung ương Huế. Vì nhiều lý do, vua Minh Mạng ghét Lê Văn Duyệt nhưng vì uy tín quá lớn của ông ở miền Nam nên không dám làm gì lúc ông còn sống. Khi Lê Văn Duyệt mất, vua Minh Mạng sai một viên quan từ Huế vào buộc Lê Văn Duyệt nhiều tội, và xét xử nhiều thân quyến của ông, trong đó có Lê Văn Khôi.

 Lê Văn Khôi lúc còn trẻ ở ngoài Bắc khởi binh làm loạn, bị quan quân đuổi đánh chạy vào Thanh Hóa, gặp Lê Văn Duyệt xin đầu thú, được ông tin dùng và nhận làm con nuôi. Khi có vụ án Lê Văn Duyệt năm 1833, Lê Văn Khôi bất bình vì cách hành xử của quan lại triều đình bèn làm loạn, giết quan triều đình và dấy binh khởi nghĩa. Được sự ủng hộ của đông đảo người dân miền Nam, Lê Văn Khôi nhanh chóng làm chủ cả Lục Tỉnh. Triều đình Huế đem quân vào Nam dẹp loạn, Lê Văn Khôi yếu thế phải rút vào thành Phiên An (tên khác của thành Gia Định) cố thủ, và mất vì bệnh tại đây năm 1834. Năm 1835 thành Gia Định thất thủ, gần 2000 người kể cả già trẻ lớn bé trai gái đều bị đem ra một bãi đất trống chém đầu, rồi chôn trong một hố tập thể gọi là Mả Ngụy.

Mả Ngụy nằm ở đâu trong thành phố Sài Gòn hiện nay ? Có mấy giả thuyết khác nhau (Ngã Sáu Sài Gòn, trường đua Phú Thọ, bệnh viện Bình Dân, nhưng không có gì chính xác, cũng không thấy nói đến khu đất sau trường Pétrus Ký ! Thật là một chuyện lạ vì một mồ chôn tập thể khổng lồ như vậy mà không để lại một dấu tích chính xác nào.