Tượng mộ đang mất… (Văn Công Hùng)

Lượt xem: 527

“…không còn không gian làng truyền thống thì chiêng và các loại hình nghệ thuật dân gian như Hri (hmon, khan), xoang... cũng không còn đất để tồn tại, và không còn người sử dụng vải thì nghề dệt thổ cẩm cũng chả còn...”

Tượng mồ, từ lâu đã được coi như là một trong những “đặc sản” cả về vật chất và tinh thần của người Tây Nguyên.

Nó là sản phẩm của một phong tục, tục bỏ mả. Người ta làm một lần rồi bỏ, mãi mãi. Nhưng mà người ngoài nhìn vào thì thấy, té ra nó là một tuyệt tác nghệ thuật.

Bỏ mả, không thờ cúng nhiều đời như người Kinh, có nhiều lý do giải thích, nhưng tôi thiên về lý do: Nó phù hợp với đời sống du cư một thời.

Mỗi khi bỏ mả, việc đầu tiên phải chuẩn bị là làm tượng mồ. Lên núi lấy những cây gỗ nguyên, rồi chỉ bằng cái rựa và cây rìu, cộng với tư chất tài hoa bẩm sinh bản năng, chỉ bằng những nét vạc thô, nhưng những cái tượng mồ hết sức sống động, hết sức đẹp, hết sức có hồn... tăm tắp đứng bên nhà mồ. Khi nào xong thì mới bắt đầu lễ bỏ mả.

Tượng mồ sẽ thay người sống đi với người chết mãi mãi. Từ mai mọi vui buồn sướng khổ sẽ có tượng này thay ta chia sẻ với mình. Này là hình dáng người sống buồn đau ôm mặt khóc người chết. Này là chú khỉ tinh nghịch sẽ cùng người chết bầu bạn. Này là mẹ cha, này là hàng xóm... người chết mang theo tất cả những gì lúc sống mình từng có để không lẻ loi lúc sống ở thế giới A tâu, cái thế giới chỉ nằm trong hình dung, trong tưởng tượng, trong ý nghĩ... chứ nào ai đã thấy bao giờ.

Tôi đã lang thang không biết bao nhiêu lần trong các khu nhà mồ, dưới ánh chiều chạng vạng mà mê mẩn ngắm vẻ đẹp mê hồn của các pho tượng mồ. Chúng, những pho tượng mồ ấy, không chỉ là những súc gỗ vô tri vô giác, mà dưới đôi bàn tay khéo léo của nghệ nhân cộng với một cõi tâm thức thiêng liêng của họ, đã trở thành một tuyệt tác dân gian. Dưới ánh chiều, tất cả mọi pho tượng mồ như thức cả dậy, lung linh và huyền ảo, mỗi pho tượng có một sắc thái biểu cảm riêng, một đời sống riêng, hợp thành một thế giới sống động. Người ta nói rằng không phải ai và không phải lúc nào cũng có thể đẽo được tượng mồ. Mỗi làng thường chỉ có vài người, và chỉ vào lúc xuất thần nhất, họ mới làm. Tất nhiên đấy là những phút xuất thần trong khuôn khổ, bởi chỉ khi nào bỏ mả thì người ta mới làm tượng mồ, và những pho tượng ấy chỉ đặt ở nhà mồ. Những pho tượng ấy chính là một thế giới người thu nhỏ với tất cả mọi cung bậc tâm trạng tình cảm. Những người đàn bà ôm mặt khóc, những người đàn ông đánh trống, những hình người cả đàn ông đàn bà khoả thân với bộ phận sinh dục được đặc tả và phóng đại... tất cả hiện lên sinh động rực rỡ và lộng lẫy như cuộc sống vốn vừa diễn ra trước đấy bước vào. Tất nhiên âm hưởng chung là buồn hiu hắt, nỗi buồn không chỉ toát ra từ các pho tượng, mà còn từ khung cảnh khu nhà mồ. 

Ðẽo một cây gỗ thành hình người thì dễ, ai cũng có thể làm được, nhất là các nhà điêu khắc, nhưng thổi hồn vào đấy cho nó thành tượng mồ với khắc khoải những kiếp người thì chỉ nghệ nhân bản địa tây nguyên làm được trong những thời khắc nhất định. Những thời khắc loé sáng của tâm linh như những "vụ nổ tâm thức" theo cách nói của lý thuyết hiện đại, chính là lúc con người thăng hoa nhất, nhập thân nhất, phiêu diêu với người đang nằm dưới đất đen đất đỏ kia. Người đẽo tượng thì lý giải rất tự nhiên: Giàng bảo làm. Thế thôi.

Là tôi vừa xuống Plei Bông, ngôi làng rất đẹp của họa sĩ Xu Man ngày nào. Đây là nơi rất nhiều văn nghệ sĩ đã xuống ăn ở và sáng tác thời họa sĩ Xu Man còn sống. Có 3 địa điểm rất đẹp mà ai từng đến đây cũng đều phải ra thăm ngó là nhà rông, giọt nước và khu nhà mồ với rất nhiều tượng mồ.

Nhưng giờ, khi ra thăm mộ họa sĩ Xu Man tôi đã... choáng trước sự nguy nga của khu nhà mồ của làng này: Tất cả đã xi măng và tôn hóa. Và, không có một ngôi/ khu mộ nào có tượng nữa. Và nữa, hình như người ta cũng chôn cất người chết vĩnh viễn như người Kinh chứ không bỏ mả nữa. Tất cả các ngôi mộ đều tăm tắp một kiểu: huyệt xi măng, thành mộ và gắn ảnh người chết. Phía trên lợp tôn phỏng mô hình nhà rông, mái dốc vút cao, mộ càng mới thì tôn càng nhiều màu sắc. Trong ngôi mộ của họa sĩ Xu Man có 3 người nằm: Xu Man, vợ ông và con trai thứ.

Có thể tạm thời lý giải như thế này chăng: Ngoài việc học theo người Kinh một cách tự phát việc xây mộ kiên cố, còn một yếu tố rất quan trọng nữa chi phối là: Không còn gỗ để làm. Điều này nó phù hợp với luật lâm nghiệp hiện nay. Và khi không được làm thì sẽ lụt nghề. Cũng như nhà rông, chắc chỉ một thời gian nữa, nếu có đủ nguyên liệu cho các làng làm lại nhà rông truyền thống thì... cũng không còn người biết làm, bởi đây là các nghệ nhân, họ làm toàn bằng sự tài hoa thiên bẩm cộng với sự truyền nghề tự phát. Lâu không được làm, các nghệ nhân qua đời hết rồi, thế là... hết nghề. Chả phải ngẫu nhiên mà các tỉnh Tây Nguyên đều mở các lớp dạy đánh chiêng, dạy dệt vải, đan lát, dạy làm tượng nhà mồ vân vân... Vấn đề là, gỗ ở đâu để làm tượng thì hình như người ta chưa nghĩ tới. Chưa nghĩ tới nhưng các khu nhà mồ đã và đang hoàn toàn vắng bóng tượng mồ... Thêm nữa, đẽo tượng hoàn toàn không phải là nghề, nó không thể là nghề chuyên nghiệp như mấy ông thợ mộc người Kinh cũng như không phải nghiệp như mấy anh họa sĩ điêu khắc... Nó hết sức nghiệp dư và ngẫu hứng, nó hoàn toàn tự phát...

Cũng như thế, không còn không gian làng truyền thống thì chiêng và các loại hình nghệ thuật dân gian như Hri (hmon, khan), xoang... cũng không còn đất để tồn tại, và không còn người sử dụng vải thì nghề dệt thổ cẩm cũng chả còn...

tuong_mo01
He he tượng mồ đểu ở một nhà hàng Pleiku

nha_mo
Nhà mồ làng ông Xu Man Plei Bông hiện tại

tuong_mo02

tuong_mo02
Tượng mồ zin

Văn Công Hùng

Nguồn: vanconghung.com/2019/01/tuong-mo-ang-mat