Đọc sách

Cha danh 61. Bao cấp (Phạm Ngọc Lân)

“…Long chỉ thấy thương hại cho cả một thế hệ, mới chừng đó tuổi đã học cách lừa đảo người khác, xem  như là một điều tự nhiên để sống còn trong cái xã hội đảo điên này. Đã có thói quen lừa đảo, còn nhỏ lừa  đảo chuyện nhỏ, lớn lên sẽ lừa đảo chuyện gì lớn hơn?..” 

xephang_mua_luongthuc_thoibaocap01

« Bao cấp », hai chữ nghe lạ tai đối với những ai không sống ở nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa  Việt Nam trong thời gian hơn chục năm sau 1975 (1). Bao cấp có nghĩa là cái gì Đảng cũng lãnh đạo, cái gì  nhà nước cũng quản lý, cái gì nhân dân cũng làm chủ. Hai vế đầu, « đảng lãnh đạo » và « nhà nước quản lý » là thật, còn vế thứ ba « nhân dân làm chủ » là ảo, vì « làm chủ » ở đây phải hiểu là « làm chủ tập thể », nghĩa là mọi người đều làm chủ, nhưng từng cá nhân thì không ai làm chủ gì cả. Không ai có quyền có nhà máy riêng, có hãng xưởng riêng, có tiệm buôn riêng, có ruộng đất riêng. Tất cả đều là « công  nhân » hoặc « nhân viên » cho nhà nước, gọi chung là « công nhân viên ». 

Long và Mai đều là công nhân viên. Sở dĩ hai vợ chồng tuy là gốc « ngụy quân ngụy quyền » mà vẫn được tiếp tục làm việc trong chế độ mới, là vì chế độ này còn rất thiếu chuyên viên. Cả hai vợ chồng đều  là « công nhân viên trong biên chế » của nhà nước, Mai là « biên tập viên » của Đài Truyền Hình, Long là  « cán bộ giảng dạy » ở Đại Học Dược Khoa. 

Nhắc lại một chút lý thuyết cộng sản: trong một xã hội xã hội chủ nghĩa, mọi người sẽ « làm theo khả năng, hưởng theo kết quả », trong khi chờ đợi tiến lên xã hội cộng sản, lúc đó sẽ được « làm theo khả năng, hưởng theo nhu cầu » (cần gì có nấy !). Nhưng thời kỳ sau 1975 mới chỉ là « thời kỳ quá độ » để  tiến lên xã hội xã hội chủ nghĩa, nên « hưởng theo kết quả » cũng mới chỉ là một khẩu hiệu. Hơn nữa, trong thời kỳ quá độ này, chỉ một phần người dân là công nhân viên, rất nhiều người còn phải sống bên lề xã hội. Đó là những điều căn bản Long và Mai được học tập về nếp sống mới. 

Điểm quan trọng nhất khi làm công nhân viên là được ở lại thành phố, không bị đuổi đi vùng kinh tế mới. Chính thức là « thuyết phục » chứ không « đuổi », nhưng người dân vẫn nói là « đuổi », nghe nôm na hơn và cũng chính xác hơn. 

Thời gian chiến tranh, rất đông dân chúng phải bỏ làng mạc về sống ở thành thị, thường là tạm bợ trong những khu thiếu thốn mọi tiện nghi. Nay hòa bình rồi cần tạo điều kiện cho họ trở về quê cũ hoặc những vùng kinh tế mới. Khái niệm « vùng kinh tế mới » không có gì là mới mẻ. Năm 1954 khi có đợt gần một triệu người di cư từ Bắc vào Nam, chính phủ miền Nam lúc đó đã định cư phần lớn những người  này trong những khu kinh tế mới. Thời đó thành công vì sự cần cù của đồng bào di cư, vì tổ chức quy củ của chính phủ, vì có viện trợ dồi dào của Mỹ. Và những vùng trước kia hoang dã đã trở nên trù phú. 

Năm 1976 cũng phát động chiến dịch đi vùng kinh tế mới, không chỉ nhắm vào người dân tị nạn chiến  tranh sống tạm bợ, mà là cơ hội để đuổi ra khỏi thành phố những thành phần bị xem là ăn bám xã hội như thương gia, cựu quân nhân, công chức nay thất nghiệp, trong đó có gia đình những người bị đi học tập cải tạo (2). Tổ chức hấp tấp, làm cho có, cốt để báo cáo đã « vượt chỉ tiêu », cuối cùng nhiều nơi không thể sống  được, và rất nhiều người bị đưa lên những vùng này chẳng bao lâu lại đành trốn về thành phố sống vất vưởng, có khi trên vỉa hè ngay trước nhà cũ của mình nay đã bị tịch thu. 

So với những thảm cảnh đó, phải nói là Long và Mai quá may mắn! 

Long được hưởng 60 đồng lương hàng tháng. Mai đã tốt nghiệp đại học và theo chức vụ và công việc  của nàng (thực hiện những phim tài liệu cho truyền hình) đáng lẽ cũng được 60 đồng, nhưng thực tế chỉ được 20 đồng. Họ giải thích là trước kia Mai là xướng ngôn viên, đáng lẽ bị đuổi việc, nay được « lưu  dụng (3) » là tốt lắm rồi ! 

Thời buổi đó, quả thật được nằm trong « biên chế nhà nước » – đại khái tương đương với công chức  chính ngạch thời trước – là một lợi điểm lớn, xem như « ưu đãi » vì cuộc sống sẽ dễ thở hơn. Có lương  hàng tháng cũng quan trọng nhưng không phải là quan trọng nhất, đồng lương của cả hai vợ chồng gộp lại  chỉ đủ ăn một tuần, giỏi lắm 10 ngày là cùng, còn lại phải xoay xở. Quan trọng hơn nhiều là không phải  chịu sự « quản lý của địa phương », mà được hưởng sự « quản lý của cơ quan ». Trong chế độ mới này, ai  cũng phải « được quản lý ». Một cán bộ lãnh đạo cao cấp đã từng tuyên bố một câu xanh rờn « mọi công  dân đều cần được quản lý, quản lý tại nơi cư trú, quản lý tại nơi làm việc, và quản lý trên đường từ nơi cư  trú đến nơi làm việc ». 

Một thí dụ điển hình so sánh hai cách quản lý do cơ quan hay do địa phương: có lần Mai và Long cần lên Đà Lạt thăm ông cụ của Mai vẫn sống một mình giữ căn nhà trên đó, giấy phép đi đường được cơ quan cấp. Dĩ nhiên cũng phải làm đơn xin phòng tổ chức của cơ quan, kèm theo giấy giới thiệu của xếp (chủ nhiệm bộ môn), nhưng dầu sao trong cùng cơ quan cũng quen biết nhau cả, chạy qua chạy lại từ phòng này qua phòng kia cũng không xa lắm. Nếu là « địa phương quản lý » thì phải lên công an phường  làm thủ tục, chầu chực nộp đơn, rồi về chờ mấy ngày cho « trên » xét đơn, rồi công an khu vực đến nhà  thăm hỏi tại sao cần đi Đà Lạt, đi thăm ông cụ có chuyện gì quan trọng không, v.v. và v.v. Đó là thủ tục  bình thường, chưa kể đến đôi khi phải qua thủ tục « đầu tiên » nếu muốn cho mọi chuyện được giải quyết  nhanh chóng (“đầu tiên” nói lái là “tiền đâu?”, ám chỉ chuyện hối lộ). 

Rõ ràng là được « cơ quan quản lý » là một lợi điểm về phương diện giấy tờ thủ tục, nhưng còn đồng lương thì không thể đủ sống được. Tại sao một nhà nước mang danh « xã hội chủ nghĩa » lại trả lương quá ít như thế? Tại vì cái gì cũng chỉ có trên lý thuyết. Theo lý thuyết thì phương tiện sản xuất nằm trong  tay « nhân dân làm chủ » nhưng do « nhà nước quản lý » và được « đảng lãnh đạo ». Đảng lãnh đạo đề ra kế hoạch 5 năm phải sản xuất ra bao nhiêu gạo, bao nhiêu xe đạp, bao nhiêu giầy dép, v.v. Các sản phẩm đó được bán ra cho nhân dân với giá do nhà nước quy định. Những cán bộ công nhân viên như Long và Mai với số lương 60 đồng một người trên lý thuyết sẽ đủ sống một tháng nếu được mua tất cả những thứ  cần dùng theo giá của nhà nước bán ra. Nhưng thực tế khác xa với lý thuyết. Hàng

...
Read more
Cha danh 64. Một « thị thực định » (Phạm Ngọc Lân)

“…Tim Long đập mạnh, chàng không ngờ có chuyện được đi Pháp dễ dàng như vậy, chàng có làm thủ tục gì về phía chính phủ Pháp đâu! Trong đầu Long nhảy múa lung tung những hình ảnh của một cuộc sống mới trong một nước mà chàng sẽ không phải xin phép để đến sống ở một nơi nào đó…”

Read more
Cha danh 65. Vượt biên (Phạm Ngọc Lân)

“…Con người sống dù khổ cực đến đâu cũng phải được nuôi một hy vọng nào đó vào tương lai, hy vọng đời mình sau này sẽ khá hơn, và nhất là hy vọng đời con cháu mình sẽ khá hơn. Nếu không có một tia hy vọng nào thì cuộc sống chẳng còn ý nghĩa gì nữa…”

Read more
Cha danh 66. Thẩm vấn (Phạm Ngọc Lân)

“…Có thể nói trong đám con lai hay ra tụ tập ở đường Nguyễn Du nghe ngóng tin tức, tôi là người có học nhất và thành thạo Pháp ngữ, tôi giúp người khác viết một lá đơn,  tôi xem đó là một bổn phận giúp người ít học…”

Read more
Cha danh 67. Ra đi chẳng biết ngày về (Phạm Ngọc Lân)

“…Chàng nhận được hai tờ « Giấy Phép Xuất Cảnh », một tờ tên chàng, tờ thứ hai tên Mai và hai con đi kèm. Trong giấy xuất cảnh của Mai, trong mục « Quốc  Tịch », có viết tay « Việt Nam », còn trong giấy xuất cảnh của Long, mục « Quốc Tịch » bỏ trống…”

Read more
Cha danh 71 - Đấu tranh cho dân chủ (Phạm Ngọc Lân)

“…người cầm quyền chỉ có thể cầm tù thân xác chứ không thể khuất phục được người trí thức chân chính. Sau nhiều năm tháng bị trù dập họ vẫn giữ vững quan điểm của mình, tiếp tục làm những người bất đồng chính kiến chứ không chịu cúi đầu…”

Read more
Cha danh 72 - Nghĩa tử nghĩa tận (Phạm Ngọc Lân)

“…Càng ngẫm nghĩ càng tin tưởng đã có một sự phù trợ thiêng liêng nào đó khiến mình vượt được tất cả trở ngại để đến bên mộ mẹ, mặc chiếc áo tang theo truyền thống Việt, thắp bó nhang cắm trên nấm đất mới đắp, rồi sau đó hát cho mẹ nghe bài Lòng Mẹ…”

Read more
Cha danh 73. Đi tìm tung tích cha Hồi 3 (Phạm Ngọc Lân)

“…tôi có thể tin chắc lời mẹ kể là đúng: trên đảo năm 1943 có ba sĩ quan, một Đại Úy, một Trung Úy và một Thiếu Úy, mà cha tôi là Trung Úy. Tôi cũng hiểu thêm tại sao không tìm ra tài liệu nào về đảo Tagne trước năm 1945 : những tài liệu đó đã bị hủy khi có vụ đảo chính Nhật…”

Read more
Chủ nghĩa cộng sản (3) (Richard Pipes)

“…chế độ cộng sản được thiết lập ở Nga không phải là do kết quả của một cuộc khởi nghĩa của quần chúng: nó được áp đặt từ trên xuống bởi một nhúm người nấp sau các khẩu hiệu dân chủ…”

Read more
Chủ nghĩa cộng sản (4) (Richard Pipes)

“…Trong cuộc chiến tranh này, nước Nga Xô Viết phải giữ vai trò trung lập và chỉ tham gia khi hai bên đã cùng kiệt sức. Từ năm 1921, Moskva bí mật hợp tác quân sự với Đức chính là nhằm mục đích như thế…”

Read more