Những năm tháng ẩn náu tại tòa soạn Bách Khoa (Phần 2) (Nguyễn Gia Thưởng)

Lượt xem: 3364

Bạn đánh giá: 1 / 5

Ngôi sao có hiệu lựcNgôi sao không hiệu lựcNgôi sao không hiệu lựcNgôi sao không hiệu lựcNgôi sao không hiệu lực
 

...Đôi lúc chữ nghĩa không đủ để bày tỏ hết những tâm tình tôi giữ trong lòng, nhưng tôi cố gắng viết những trang này để lưu giữ lại những kỷ niệm không thể xóa nhòa trong ký ức của một thằng có một thời tứ cố vô thân. Mỗi lần 30 tháng Tư đến, những hình ảnh cũ, những cử chỉ thân thương của anh chị lại hiện trở về như mới ngày hôm qua...

Lập gia phả họ Hoàng và họ Nghiêm

Trong số sách vở anh Châu để trên tủ đặt dọc theo hành lang vào nhà, có một quyến sách in bia cứng thật đẹp. Tôi tò mò mở ra xem và biết quyển sách này là gia phả giòng họ Bùi. Trang giấy bên trong thuộc loại giấy bóng (brillant) bìa cứng, in chữ vàng. Tôi lật vài trang, rồi tôi trả lại sách nơi cũ. Tôi nghĩ mình cũng nên thử làm một quyển gia phả họ Hoàng để cho họ hàng còn biết đến nhau. Tôi chưa nghĩ đến việc để cho con cháu nó biết gốc gác của mình, vì lúc đó tôi chưa lập gia đình. Tôi đánh máy. Tôi ghi chép. Khi tôi bị trở ngại không nhớ rõ tên tuổi của ai đó trong họ tôi hỏi chị Huân và chị Hiền. Cuối cùng tôi lập được một bản gia phả khá hoàn chỉnh cho họ Hoàng. Vì bác Tăng (Hoàng Cao Tăng) có quá nhiều vợ nên tôi có ghi tất cả những người con không chính thức của bác là con riêng. Anh Hoàng Thanh Tâm khi nhận được quyển gia phả này than phiền với các chị là không nên ghi con riêng của bác, ghi con là được rồi.

Sau khi lập gia phả họ Hoàng, tôi lập gia phả họ Nghiêm, tức là gia phả bên bà ngoại của tôi. Bà ngoại của tôi tên là Nghiêm Mai Thư. Bà là vợ kế của ông ngoại tôi và chỉ sinh ra đúng một người con gái là mẹ tôi.

Khi lập gia phả của hai họ xong, tôi mới biết là hai chị, chị Huân và chị Hiền, có họ hai đàng với gia đình tôi. Tôi không ngờ hai chị quá gần gũi với chúng tôi. Trước khi làm gia phả tôi chỉ biết là mẹ tôi rất thân tình với hai chị nhưng không biết là có họ khắng khít như vậy. Mẹ của chị Huân, chị Hiền là chị của mẹ tôi. Bố của hai chị là cháu của bà ngoại tôi. Mẹ của hai chị mang họ Hoàng, bố của hai chị mang họ Nghiêm. Điều này giải thích phần nào những thịnh tình hai chị dành cho mẹ chúng tôi và cho anh em chúng tôi.

Chuyện mỹ phẩm Max Factor

Chị Huân quý mến mẹ tôi còn hơn chị ruột. Tuy rằng là hai cô cháu, nhưng hai người thương yêu nhau như chị em. Lúc đó chúng tôi còn ở nhà 1/4 Trần Tấn Phát, có một người chạy vào nhà hỏi mẹ tôi có muốn mua mỹ phẩm không. Anh này đưa ra một hộp phấn hiệu Max Factor. Mẹ tôi mừng rỡ tỏ ý muốn mua nhưng mẹ tôi không có đủ tiền để mua. Mẹ tôi chạy tới chị Huân để mượn tiền và hứa là nếu bán được sẽ chia đều phần lãi. Tôi không nhớ rõ số tiền là bao nhiêu. Sau khi mua xong, chị Huân đem những hộp mỹ phẩm này ra Chợ Bến Thành để chào bán. Họ mở ra xem và nói đây là hàng giả, họ từ chối mua. Bao nhiêu tiền bỏ ra để mua đồ giả này coi như mất toi. Mẹ tôi cũng chằng có tiền để trả lại cho chị Huân, thành ra chị Huân mất số tiền này mà không dám đòi mẹ tôi.

Tiếp đó là cơn sốt nuôi chim cút. Nhà nào cũng thi nhau nuôi cút. Bọn thương buôn Chợ Lớn phao tin đồn là trứng cút rất bổ, bổ hơn trứng gà nữa. Lúc đầu bọn này mua trứng cút giá rất cao. Hầu như nhà nào cũng nuôi để kiếm lời. Chị Huân đương lúc giá cao đã bán được một lố chim cút và nhờ đó gỡ lại số tiền đã mất trong vụ Max Factor. Sau đợt chị Huân bán ra, thị trường chim cút sập xuống. Những người nuôi chim cút ở đợt cuối hầu như mất hết.

Nhân vụ chim cút, tôi nhớ câu chuyện của chị Định tới nhà một ông bác. Ông bác này cũng nuôi chim cút. Chị Định là người nghĩ sao nói vậy, chị hỏi một câu thế này :

- Bác ơi, bác! Chim của bác lúc này đã lớn chưa, hả bác.

Ông bác cứng họng không biết trả lời ra làm sao, vì nếu trả lời thì thành ra mình là người thô tục, xàm xỡ. Tôi nhớ chuyện này mãi vì nó quá dí dỏm.

Vượt biển sang Thái Lan

Ngày tháng trôi qua mau chóng, chị Huân vẫn tiếp tục tìm mối để cho chúng tôi đi. Lần này chị Huân muốn cho cháu Quân đi cùng với tôi. Quân sắp tới tuổi phải đi nghĩa vụ quân sự, nó ở Việt Nam ngày nào chị Huân lo ngày ấy. Chúng tôi được tin con chị Định, thằng Ánh, thằng Đôn và thằng Điền đã sang tới Thái Lan. Mối chúng tôi đi lần này là cùng một mối với nhóm người đã đưa mấy đứa con chị Định đi thành công. Chị Huân thu xếp cho chúng tôi lên đường. Tôi và cháu Quân đi chuyến đầu. Mũn và Lu sẽ đi chuyến sau. Mỗi người đi như vậy mất 3 lượng vàng mỗi người.

Sáng sớm 5 giờ, cả nhà thức giậy. Hôm này quả là một ngày đặc biệt. Anh Châu đích thân đưa tôi và cháu Quân ra bến xe đò để đi Rạch Giá. Sau này chị Huân nói với tôi là anh Châu quý tôi hết mức vì chưa bao giờ anh Châu thức sớm để tiễn đưa một ai cả, chỉ có tôi là được hân hạnh này. Chúng tôi chuẩn bị quần áo và thức ăn khô. Người dẫn đường đến tận nhà gọi chúng tôi đi. Ra đến bến xe đò chúng tôi vội vàng từ giã anh Châu. Tôi không ngờ ngày đó là lần cuối tôi gặp anh Châu, vì sau này tôi không có cơ hội gặp anh nữa. Đến gần chiều hai đứa chúng tôi đến Rạch Giá. Chúng tôi đi hai chiếc xe lôi. Người đàn bà dẫn đường ngồi một chiếc. Tôi và Quân ngồi chung một chiếc. Đến một nơi tương đối vắng, hai chiếc xe lôi ngừng lại. Chúng tôi bước xuống và đi theo bà dẫn đường. Bà này nói nhỏ với tôi:

- Hai người tránh xa tôi nghe. Đừng có đi chung. Lỡ nó có bắt thì bắt hai đứa bay thôi. Thằng kia sao mà trắng quá vậy, dễ lộ lắm đó.

Bà ấy ám chỉ cháu Quân vì nước da của nó không rắm nắng như người ở Rạch Giá. Tôi đi chậm lại để cho bà ấy đi trước cách chúng tôi độ 5 thước. Hai cậu cháu chúng tôi chậm chạp theo sau. Đi một lúc chúng tôi đến gần một chiếc ghe đậu ở dưới bờ sông. Chúng tôi gặp một người đàn ông và ông này đưa chúng tôi xuống ghe. Chúng tôi ngồi trong ghe chờ những người khác đến. Ghe đậu gần đám sậy nên chúng tôi bị muỗi đốt ngứa khắp người. Đến gần sáng, tôi không biết lúc đó là mấy giờ, ghe đã đầy người và rời bến đi ra biển. Chiếc ghe đi qua gầm một chiếc cầu thình lình bị khựng lại. Mấy người phải ra ngoài lấy tay chống vào gầm cầu để đè ghe xuống cho nó lọt qua. Chúng tôi đi trễ độ chừng vài phút nữa coi như bị kẹt. Con nước đang lớn.

Các chiếc ghe «taxi » con kéo nhau ra chiếc ghe lớn. Trời đã bắt đầu sáng, chiếc ghe lớn còn chờ một chiếc taxi nữa. Cuối cùng chiếc taxi đến đúng vào lúc ông tài công chiếc ghe lớn định bỏ đi không chờ được nữa vì trời đã quá sang, tình hình quá nguy hiểm, dễ bị lộ. Trung, con anh Tú, đi trong chiếc ghe này. Tội nghiệp cu Quân và thằng Trung, hai đứa vừa bước lên ghe lớn là cả hai đều mặt mày tái xanh. Chúng nôn mửa tới tận mật xanh. Chúng nó bị xay sóng. Riêng phần tôi, tôi không bị gì cả. Tôi khám phá tôi không bị xay sóng.

Tiếng máy ghe nổ bình bịch đều đặn, chúng tôi ngồi xúm xít lại với nhau như những con cá mòi trong hộp. Hơi người bốc lên hôi hám pha lẫn với mùi nước đái khai nồng nạc. Gần tối, ông tài công cho phép một số người lên boong tàu để thở không khí trong lành. Khi trời bắt đầu tối, ông tài công kêu mọi người đừng đốt lửa hoặc bật đèn pin. Cách chúng tối khoảng 3, 4 cây số, có một chiếc tàu đang rọi đèn. Ông tài công sợ có thể đây là tàu của công an nên ông cho máy chạy hết tốc độ để thoát tầm kiểm soát của chiếc tàu này. Khoảng hơn một tiếng sau chúng tôi thấy ánh đèn của chiếc tàu này nhỏ dần. Chúng tôi biết mình đã thoát nạn. Ghe chạy vào lúc đêm im lặng, tôi nghe tiếng sóng vỗ vào ván ghe rất mạnh. Ván của chiếc ghe phát ra những âm thanh răng rắc, kẽo kẹt tưởng chừng chiếc ghe sắp vỡ tung ra từng mảnh.

Lúc này trên ghe nước ngọt đã cạn kiệt. Có người nảy sáng kiến không lấy gì làm khôn ngoan dùng nước biển để nấu cơm. Cơm nấu xong, chẳng ai ăn được miếng nào cả. Cớm với nước biển hòa lẫn với nhau tạo ra một vị đắng không tài nào nuốt nổi. Mọi người đành đổ cơm xuống biển hết, miệng vẫn còn vị đắng khó tả.

Tổng số người trên ghe là 133. Chiếc ghe dài chừng 15 thước và bề ngang 3 thước. Ông tài công có lẽ đã đi quen con đường này, biết tránh né, chúng tôi mừng thầm không gặp bọn cướp Thái Lan. Nhưng sự vui mừng này thật ngắn ngủi. Đến trưa thình lình chúng tôi nghe súng nổ. Có tiếng quát bắt chiếc ghe chúng tôi phải ngừng lại. Một chiếc ghe lớn hơn năm lần ghe chúng tôi cặp sắt vào ghe chúng tôi. Đây là một chiếc ghe của công an Việt Nam. Tôi lo sợ lại phải vào khám nằm thêm một lần nữa. Lần này mà về Rạch Giá chắc là tôi ở tù rục xương, nếu không may tôi gặp lại nhóm người đã cho tôi ngủ tại trụ sở cảnh sát trước đây vào đầu tháng 5 năm 1975. Họ ra lệnh đàn ông bước lên ghe của họ và đàn bà ở lại dưới ghe chúng tôi. Họ nói họ biết chúng tôi là những người vượt biên. Họ chẳng cần bắt chúng tôi làm gì. Họ giải thích là họ phải chở hết số người này về trại giam và họ mất một ngày không thu hoạch được gì. Họ nói bây giờ họ thả chúng tôi đi vì họ bắt chúng tôi cũng chẳng lợi ích gì. Thôi thì ai có bao nhiêu thì cho họ bấy nhiêu. Tôi móc hết tiền đưa cho họ vì tôi biết chằng cần nữa.

Tôi còn nhớ lúc đó tôi mặc trên người một cái khoác áo kiểu Jean nhung màu xanh dương đậm. Tôi chưa kịp lấy giấy tờ ra thì họ đã giựt cái áo này ra khỏi tay tôi. Tôi muốn giữ để làm kỷ niệm lệnh tha khỏi tù ở Phan Thiết. Rốt cuộc cũng mất luôn. Lúc đó, ai cũng khát nước vì trên ghe chúng tôi không còn nước ngọt nữa. Họ cho chúng tôi lấy nước ngọt của họ để uống và chứa trong những bình plastic 5 lít. Nhưng họ nhất định buộc ông tài công phải đưa vàng ra. Họ dí súng vào màng tang của ông. Sau một lúc hăm dọa, ông tài công đưa vàng cho họ, tôi không biết là bao nhiêu lượng. Cuối cùng họ thả cho chúng tôi đi.

Chính lúc công an bắt mọi người lên boong tàu và chia một bên đàn bà ở lại ghe và một bên đàn ông lên ghe của họ, người ta mới phát giác một bà ôm đứa con gái đã chết từ hồi nào rồi. Đứa bé khi lên tàu đã bị bệnh rồi và cuối cùng vì thiếu nước mà nó chết. Người ta quấn vải bọc xác nó lại và ném xuống biển hải táng cho nó.

Chiếc ghe chúng tôi tiếp tục lên đường tiến về hướng Thái lan. Suốt hành trình tôi không hề buồn tiểu. Có lẽ tinh thần lúc đó bấn loạn nên thân xác mất hết những phản ứng tự nhiên. Tôi leo ra ngoài thành ghe để đi tiểu. Tôi chờ mãi không thấy nước tiểu ra. Tôi cố rặn thì một đường nước tiểu nhỏ xíu chảy ra, nhưng màu nước tiểu đỏ như máu. Sau đó tôi ngồi xổm hai tay bám vào thành ghe, mông chổng ra biển để đại tiện. Tôi chẳng còn biết mắc cở là gì. Tôi chờ mãi không thấy gì, đành kéo quần đùi lên và chạy ra nằm ở đàng trước mũi ghe, không trở vào lòng ghe nữa.

Đến gần chiều, chiếc ghe cặp vào bờ của Thái Lan. Ông tài công kêu những người đi cùng với ông phá máy ghe cho hỏng và đục lủng tàu. Tôi ngơ ngác không hiểu gì cả. Chúng tôi nhảy xuống và vừa đi vừa lội vào trong bờ. Đột nhiên tôi thấy như đất dưới chân tôi di chuyển. Tôi định thần lại mới biết là tôi xay đất. Lên đất liền mà thấy đất quay trái với việc ở trên ghe bị xay sóng. Có một anh bạn đi cùng ghe nói nhỏ với tôi là họ phải phá ghe vì sợ tàu tuần biên của Thái kéo trở ra biển và thả trôi chiếc ghe, sống chết mặc bay. Chúng tôi ngồi ở dưới bãi cát, chờ cảnh sát đến đưa chúng tôi về trụ sở cảnh sát. Họ không làm khó dễ chúng tôi. Trong lúc chờ, anh bạn kể tiếp là anh đã vượt biên một lần và ghe của họ sắp cập vào đất Thái. Có một chiếc tàu Thái đến ghìm chiếc ghe của họ lại và kéo chiếc ghe của họ trở về lãnh hải Việt Nam. Anh ta và cô vợ bị bắt trở lại và bị giam ở tù Rạch Giá.

Trụ sở cảnh sát Khlong Yai

Chị Huân có khâu cho tôi ở thắt lưng quần hai chỉ vàng và tôi vẫn giấu được, không bị khám xét và moi móc. Một chỉ dùng để chi phí hối lộ ông cảnh sát trưởng nơi chúng tôi cập bến. Nhờ số tiền đút lót này, chỉ mấy ngày sau chúng tôi được Cao Ủy Tỵ Nạn đến lập thủ tục giấy tờ để nhập vào một trại tạm trú ở trên đất Thái. Họ đem màn, chiếu và mền cho chúng tôi. Họ phân phát thức ăn cho chúng tôi. Họ đem mấy cái bi ống cống đến và kêu gọi thanh niên đào đất để hạ mấy cái bi này xuống dùng làm hầm cầu tiêu.

Các nhà của Thái thường cất nhà sàn, nên chúng tôi lập trại, giăng màn ngủ ở dưới các nhà sàn. Khi Cao Ủy Tị Nạn hỏi có ai muốn sang ở trại người Kampuchea thì có một gia đình năm người tỏ ý muốn vào trại này, vì họ biết nói tiếng Kampuchea. Vài ngày sau số người này lại trở về bót cảnh sát ở lại với chúng tôi. Tôi dò hỏi mới biết là họ không dám ở lại trại Kampuchea vì trong trại này bọn Khmer Đỏ đã trà trộn vào và có những hành vi dọa nạt khủng bố những người trong trại.

Vì chúng tôi dựng lều bên cạnh đám cỏ dại cao nghều, mỗi lần đi đại tiện là tôi bị muỗi đốt xưng cả đít. Tôi cứ phải nhấp nhổm để muỗi không cắn. Nhưng cho dù có làm gì đi nữa, tôi cũng bị chúng cắn xưng luôn cả hai hòn ngọc.

Trại Leam Sing

Chúng tôi ở tại bót cảnh sát Khlong Yai, Laem Ngop, tỉnh Trat được hai tuần rưỡi. Tôi vội nhờ anh cảnh sát viên mua cho chúng tôi tem thơ và nhờ anh ấy bỏ thơ để báo tín về cho chị Huân. Sau đó chúng tôi được hai xe ca đến chở chúng tôi đến trại Leam Sing, ở Chanthaburi. Đây là một trại chính phủ Thái dành cho người tị nạn đến ở. Trại này nằm ngay bờ biển. Và số người tị nạn ở đây lên đến trên 1000 người. Trại được cảnh sát Thái canh giữ chu đáo. Họ mở cộng trại từ lúc 8 giờ sáng cho đến 8 giờ tối. Việc đi ra đi vào tương đối tự do.

Cứ độ hai ngày là có chiếc xe chở nước ngọt và củi đến cho chúng tôi, cung cấp miễn phí cho người tị nạn. Về thư từ và liên lạc bên ngoài có một ông cha người Mỹ lo cho trại. Vị linh mục này nhận thư bảo đảm và nhận tiền mandat và phần phối cho đến tận tay người gởi. Mỗi lần người nhận có thơ bảo đảm kèm theo tiền là vị này chiết ra 5, 10 baths để san sẻ cho những người không có thân nhân gởi tiền.

Khi mới vào trại chúng tôi được đưa đến một khu tiếp tân, dành riêng cho những người mới đến. Chúng tôi trú ngụ tại đây ba bốn ngày, trong khi chờ đợi kiếm được một nơi ở tươm tất hơn. Chúng tôi vào trại thì Ánh, thằng con trai lớn của chị Định tìm gặp ngay chúng tôi. Nó nghe tên chúng tôi ở trên loa phóng thanh của trại. Gặp được chúng nó, tôi vui mừng vô kể. Nó báo cho chúng tôi biết là hiện nay chúng nó ở trên một chiếc ghe cùng với 5, 6 người nữa. Nhưng có một số sắp lên đường định cứ ở nước thứ ba.

Tôi viết thư liên lạc với mẹ tôi ở bên Bỉ, báo cho cả nhà biết là chúng tôi đã đến Thái Lan, bình yên vô sự. Quân và Trung viết thư báo cho chị Huân và chị Tú biết tình hình trong trại. Chúng tôi ở khu tiếp tân được ba hôm, rồi chúng tôi phải rời đến một căn chòi nhỏ trong trại, mua với giá phải chăng của người ra đi định cư. Chúng tôi sống như vậy chờ ngày các phái đoàn Cao Ủy Tị Nạn hoặc phái đoàn Mỹ, Canada đến phỏng vấn.

Cha mẹ tôi may mắn liên lạc được với một cô ý tá người Bỉ làm cho Médecins Sans Frontière đang công tác tại Kampuchea. Cô ấy nghe tin tôi ở trong trại Leam Sing, có ấy lập tức đến thăm tôi và trao cho tôi số tiền 500 đô la. Nhận số tiền lớn này, tôi lo sợ bị cướp. May quá, đúng lúc đó, thằng Ánh báo cho tôi biết là chủ chiếc ghe anh em của Ánh đang ở nhờ họ sắp đi và cơ ý định bán. Tôi bảo với Ánh là tôi mua lại chiếc ghe đó và tôi sẽ dùng chiếc ghe đó để mấy cậu và chú cháu ở chung với nhau.

Tổ chức đời sống trong trại

Tôi vào trại được vài ngày là tôi mua một đôi dép Nhật để đi. Chỉ vài ngày sau tôi bị đánh cắp. Tôi đi mua một đôi khác nhưng rồi cũng bị đánh cắp luôn. Tôi bực quá không thèm mua dép nữa và đi chân không. Tôi đi chân đất cho đến ngày tôi được chuyển lên trại chuyển tiếp ở Bangkok, chờ ngày lên máy bay đi Bỉ. Nhân viên Thái trong trại rất ngạc nhiên khi thấy tôi không có giầy dép gì cả. Sau đó anh này đề nghị cho tôi vào phòng giầy dép để chọn một đôi cho tươm tất.

Mấy cậu cháu chúng tôi kéo nhau về ở trên chiếc ghe rộng lớn này. Chúng tôi tất cả có mười đứa: Tôi, Ánh, Đôn, Điền, Quân, Trung, ba anh chị em người Cà Mau, và hai người nữa mà tôi thương tình cho họ ở chung. Chiếc ghe này cũng là một chiếc ghe vượt biên và được kéo vào bờ Leam Sing để làm nhà ở. Họ đem lên bờ và lấy cây chống hai bên để giữ cho ghe thăng bằng. Chúng tôi câu điện từ ở ngoài vào và chỉ dùng để thắp đèn néon. Mỗi tối tôi cho chập giây điện để cho đèn sáng và đến sáng chúng tôi gỡ giây điện ra.

Trên ghe chúng tôi có hai phuy bằng plastic chứa được 100 lít nước. Tôi chia phiên cắt cử mỗi đứa một ngày đi gánh nước về và đem củi về. Đứa nào không làm thì bị đuổi ra khỏi ghe. Trong suốt thời gian tôi ở trên ghe, mọi người đều nghe lệnh tôi, không dám trễ nãi.

Vì không muốn giữ tiền mặt nhiều, tôi mua một máy radio casette Stéréo hiệu Sharp để nghe nhạc. Tôi chọn mua những băng nhạc Pop hiện hành để thưởng thức. Tôi tìm những bản nhạc đã phát hành trong thời gian tôi còn ở lại Việt Nam. Có những con buôn Thái vào tận trong trại để mua bán với dân tị nạn.

Mỗi buổi sáng tôi dắt cả bọn trên ghe của tôi đi ăn sáng. Mỗi một đưa như vậy ăn chỉ tốn có 2 bahts. Lúc đó 100 dollar đổi được 3.000 bahts. Các quán ăn Thái bên cạnh trại do người Việt biết nói tiếng Thái cai quản. Sáng nào tôi cũng ăn mì sào lá cải. Gia vị của Thái chỉ có đường và ớt. Tôi tiêu sài như vậy cho đến khi tôi đi lên đường đi Bỉ vẫn không hết tiền.

Đại Tá Phùng Ngọc Trưng và ông Diệm

Thời gian ở trong trại Laem Sing, tôi gặp được một vị Đại Tá người Huế tên là Phùng Ngọc Trưng. Ông thường mỗi sáng sang ghe tôi chơi để cùng uống trà với tôi. Sáng nào tôi cũng dạy sớm bắc nồi nước để nấu trà chờ bác Trưng sang thưởng thức. Tôi có nêu một thắc mắc mà tôi vẫn đặt ra cho gia đình cựu Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Tôi vẫn nghĩ rằng gia đình nhà họ Ngô hỏng việc và suy tàn là vì Đức Cha Ngô Đình Thục. Đức Cha Thục có ý định đưa đạo Công Giáo lên thành tôn giáo lớn ở Việt Nam. ĐC Thục là người anh lớn trong gia đình triệt để theo Khổng giáo. Ông Diệm vì theo gia giáo “quyền huỳnh thế phụ” nên không dám có lời ngăn cản những chuyện làm thái quá của ĐC Thục trong việc đàn áp Phật giáo. Tình hình mỗi lúc một xấu đi mà ông Diệm không thể làm gì được.

Bác Trưng có thời gian là aide de camp cho ông Diệm. Bác xác nhận những nhận xét của tôi là đúng. Ông Diệm không bao giờ dám cãi lại ĐC Thục và luôn luôn nghe lời và phục tòng Đức Cha Thục.

Bác Trưng cho tôi biết vào những tháng cuối cùng của Đệ Nhất VNCH, tại cơ quan bác làm việc bỗng dưng có một bày ong đến làm tổ trên một cành cây. Tổ ong tạo nên một khuôn mặt người như hề cười. Bác Trưng sai lính lệ phá tổ ong đó đi. Nhưng phá đi mấy lần chúng vẫn trở lại và làm lại cái mặt hề trêu ngươi đó. Sau khi nhà Ngô tan tác, bác Trưng nhớ lại sự kiện này và kể cho tôi nghe.

Sang đến Bỉ, tôi nghe tin Đức Cha Thục năm 1976 đã tấn phong bất hợp lệ cho năm giám mục tại Palmar de Troya, tại Espagne và bị Đức Giáo Hoàng Phaolô VI dứt phép thông công. Năm 1984 Đức Cha Thục đã xin trở về với Giáo Hội Công Giáo Lã Mà và mất này 13/12 cùng năm.

Làm việc với Ban Đại Diện trại

Nhờ tôi biết được tiếng Anh, một số người trong Ban Đại Diện trại kêu tôi làm thông dịch cho những ai được phái đoàn Mỹ tới phỏng vấn. Tôi làm được một tuần thì được mời nghỉ việc. Tôi chẳng hiểu gì cả. Mãi sau này tôi mới biết là ban đại diện trại này ăn tiền hối lộ của người ta. Người nào muốn được đi nhanh phải đút lót cho bọn họ để họ sửa thứ tự nộp đơn, nộp sau có thể đưa lên trước. Tôi biết được chuyện bọn họ ăn tiền vì một án mạng suýt xảy ra. Một anh thông dịch đã có tai tiếng từ lâu đòi tiền hối lộ đã bị đâm nhiều nhát dao. Anh này đã thông dịch sai để cho một anh mất đi cơ hội định cư bên Mỹ. Anh này cũng là tay anh chị nên không ngần ngại hạ thủ. Trong lúc tôi làm việc ở trong Ban Thông Dịch, tôi nói rõ đây là bổn phận của tôi đối với người đồng hương. Tôi không nhận tiền của ai cả. Những người được phái đoàn Hoa Kỳ phỏng vấn thường tỏ vẻ rất sợ sệt và khúm núm. Họ luôn luôn nói nhỏ với tôi là muốn đền đáp ơn thông dịch của tôi. Tôi từ chối thẳng thắn vì vậy tôi trở thành một vật cản cho cả một băng làm tiền.

Bác sĩ lấy thuốc gởi về Việt Nam bán

Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc hàng tuần đem thuốc men đến trại để phân phát miễn phí cho những ai cần. Trại cũng có bệnh xá để lo giúp những ai lâm bệnh. Tuy nhiên bệnh xá lại thiếu thuốc triền miên, có ai hỏi thì ông bác sĩ phụ trách bệnh xá luôn nói là hết. Tôi tò mò muốn điều tra xem thuốc đi đâu. Tôi theo dõi anh bác sĩ và thấy ông ấy đóng thùng đem ra bưu điện để gởi đi. Ông này không gởi một thùng mà rất nhiều thùng như vậy. Tôi búc tức nhưng tôi nghĩ mình chẳng ở trong trại này bao lâu nên không gây thù gây oán làm gì cho mệt. Tôi đành giữ im lặng không tố cáo hành vi bỉ ổi của tay bác sĩ vô nhân này.

Thể thao hàng ngày

Mỗi buổi sáng, sau khi uống nước trà với bác Trưng, tôi tập thể thao. Anh Đức (tôi không còn nhớ họ của anh) người đi cùng ghe với tôi chỉ cho tôi một số động tác để tập cho cơ thể mạnh khỏe. Hai tay đưa ra đàng trước, thân đứng đinh tấn. Mỗi lần đưa chân đá về đàng trước là thu hai tay về bên hông. Tôi cứ luân phiên đá chân phải song đá chân trái. Sau đó tôi ra xà ngang sắt, đu lên và hít 20 chục lần. Sau đó tôi ôm một bình plastic 5 lít rỗng, đậy nắp thật kín và bơi ra biển để tắm. Tô bơi ra xa độ 200 thước cách trại và tha hồ bơi thỏa thích, không có mảnh vải che thân. Bơi xong độ một tiếng tôi trở về trại và kéo tất cả đám trên ghe đi ăn sáng.

Thằng Trung tán gái

Thằng Trung có biệt tài đánh đàn tây ban cầm rất hay. Nó lại có giọng ấm truyền cảm đặc biệt. Nó thèm muốn được như ông Tăng để tha hồ ong bướm. Nó luôn xem ông Tăng là thần tượng của nó và phục tài ông ấy lắm. Chả trách bác Tăng trong gia đình tôi là một người rất hào hoa, phong nhã. Trong thời kỳ bác tôi làm Giám Đốc đài phát thanh Pháp Á, hầu hết các nữ phát ngôn viên của đài đều trở thành vợ bác. Có lần tôi được nghe mẹ tôi kể lại rằng bác trả lời câu hỏi: « Tại sao anh lắm bà thế ? » như sau: « Người ta yêu mình mà mình không yêu lại tội cho người ta chết, nên anh phải yêu lại ». Câu trả lời rất đơn giản nhưng nó cho thấy bác tôi sống thật với lòng mình và không che giấu chuyện tình ái của bác. Theo chỗ tôi biết, tôi có rất nhiều anh chị em họ vì với mỗi một bà, bác có tối thiểu là một người con.

Thằng Trung nó đóng kịch với tôi, làm như nó không biết gì về gái cả. Nó hỏi tôi cách tán tỉnh gái ra làm sao, o bê cô gái như thế nào. Tôi tình ngay chỉ vẽ cho nó tâm lý của các cô. Nó đi tán tình một cô và cô này mê nó như điểu đổ. Sau này tôi mới biết nó đã có hai cô vợ còn kẹt bên Việt Nam và có con với những cô này nữa. Nó là đứa được đi đầu tiên trong đám chúng tôi. Nó được Canada chấp thuận cho đi. Hôm tiễn đưa nó lên xe ca, hai chú cháu ôm nhau từ giã rươm rướm nước mắt. Con nhỏ bồ cũng khóc quá chừng.

Lên đường sang Bỉ

Vì không ai chỉ dẫn cho cách khai, tôi khai cha mẹ anh em tôi ở Bỉ. Nên ngày 13/03/1980 tôi lên đướng sang Bỉ. Mặc dù tôi thuộc ưu tiên thứ hai để đi định cư bên Mỹ, nhưng vì có thân nhân ở đâu, Cao Ủy Tỵ Nạn sắp xếp đi đến đó không có quyền khiếu nại. Cu Quân thuộc diện ưu tiên số một vì là trẻ vị thanh niên không có phụ huynh đi theo chăm sóc. Khi tôi đi thì cháu Quân vẫn còn ở trong trại, tôi không rõ nó lên đường đi Mỹ lúc nào và sau tôi bao nhiêu ngày. Trong thời gian ở trại, Thụy, em trai tôi ở Bỉ cho biết có một người anh của một người bạn đang hiện diện ở trong trại. Tôi được biết tên anh ấy là Vĩnh Nhường, anh của Vĩnh Thừa. Anh Nhường là Đại Úy của VNCH. Tôi gặp anh và trao cho anh một số tiền như lời em tôi dặn. Tôi mách nước cho anh Nhường khai trong lý lịch, nếu muốn đi Mỹ, nên ghi rõ tên tuổi tất cả cha mẹ anh em của mình nhưng phải nói là mất liên lạc không biết họ ở đâu. Quả nhiên sau này anh Nhường được định cư ở Mỹ. Sau đó anh Nhường làm giấy bảo lãnh cho hầu hết tất cả gia đình của anh đi Mỹ.

Những kỷ niệm khó quên

Tôi viết những trang này để lưu giữ những kỷ niệm không thể nào quên trong những ngày lang thang không nhà. Tôi kính tặng những trang này cho chi Huân, chị Hiền, anh Châu. Tôi luôn thương nhớ bá đứa cháu Mũn, Quân, Lu trong những ngày sống chung đầy yêu thương ở tại số nhà 160 Phan Đình Phùng. Tôi không thể trở về Việt Nam tiễn đưa anh Châu đến nơi an nghỉ cuối cùng vào năm 2006. Tôi đã nhiều lần muốn viết và ghi lại những kỷ niệm này, nhưng bất hạnh thay tôi chỉ dám viết khi anh Châu và chị Huân đã qua đời, chỉ vì tôi sợ những điều tôi viết ra sẽ liên lụy đến anh Châu và gia đình ở Việt Nam. Ngày tháng trôi qua thật nhanh, anh Châu đã ra đi được 13 năm rồi và chị Huân cũng đã về cõi vĩnh hằng. Khi tôi sang đến Bỉ, anh Châu không tiếc công gởi cho tôi quyển Kinh Dịch của Ngô Tất Tố và quyển 200 năm Dương Lịch và Âm lịch đối chiếu của Nguyễn Như Lân. Năm 1992, anh Châu còn gởi thêm cho tôi quyển Kinh Dịch (Đạo Người Quân Tử) của ông Nguyễn Hiến lê. Anh Châu ghi ở trang đầu: « Thân tặng em Thưởng kỷ niệm những ngày còn nghiên cứu Tử Vi ở quê nhà. Tháng 11/92. Đại diện cho gia đình tác giả, ký tên LNChâu ». Anh Châu viết kèm theo đó một lá thơ ghi như sau: « ... Ông Nguyễn Hiến Lê mất cuối năm 84 thì tới năm 88 bà Lê cạo đầu đi tu nên nhờ tôi đại diện cho gia đình cho xuất bản các sách của ông trước 75 và các bản thảo sau đó. ‘Kinh Dịch’ là cuốn ông Lê viết xong vào năm 79, ở nhà in được, căn cứ trên bản thảo viết tay nên đúng hơn bản in ở Cali. Tôi gởi sang tặng Thưởng, để lúc nào rảnh rỗi Thưởng có thêm sách đọc… »
Những quyển sách này tôi trân quý vô cùng vì đó là quà tặng với tất cả tấm lòng trìu mến của anh Châu.

Tôi học hỏi được rất nhiều nhờ tủ sách của anh Châu. Tôi không bỏ lỡ một cơ hội nào để đọc sách cả. Tôi miệt mài xem sách tử vi và chép lại một tập thơ Tử Vi nói là của cụ Lê Quý Đôn và những bài chỉ cách giải đoán trong tập san
Khoa Học Huyền Bí .

Trong dịp này tôi có chép lại được quyển Dịch Cân Kinh của Tử Y Hầu do Lạc Hà dịch. Anh Lạc Hà là một môn sinh của võ Đường Sa Long Cương của thầy Trương Thanh Đăng. Khi anh ra sách này, anh bị thầy Đăng khiển trách. Sau này tôi mới biết lý do. Hai mươi bốn phương pháp trong quyển này phải có thầy dầy kinh nghiệm luyện công chỉ bảo, nếu học không đúng cách thì sẽ bị tẩu hỏa nhập ma.

Sách vở anh Châu có rất nhiều vì đây là trụ sở của tòa báo Bách Khoa. Anh Châu là Chủ nhiệm nhưng không thấy anh viết. Có lẽ anh chẳng còn thi giờ để viết vì phải biên tập và trả lời thơ từ cho các văn nghệ sĩ gởi bài đến Bách Khao để cậy đăng.

Năm 1978, trong nhà, anh Châu và chị Huân luôn có hộp thuốc lá Bastos để mời khách, nhưng đến năm 79 thì không còn nữa. Kinh tế càng lúc càng trở nên khó khăn. Nhưng chúng tôi vẫn có ăn đầy đủ, chẳng thiếu thốn điều gì cả.

Có lẽ tin làm cho anh chị vui mừng nhất vào cuối năm 1979 là chúng tôi, cháu Quân, cháu Trung và tôi, đã an toàn cặp bến Thái Lan và được Cao Ủy Tỵ Nạn đưa vào trong trại chờ ngày định cư ở nước thứ ba. Sau đó là Lu (Xuân Khôi) và Mũn (Ngọc Hạnh) cũng đã an toàn đến trại Songkla.

Đôi lúc chữ nghĩa không đủ để bày tỏ hết những tâm tình tôi giữ trong lòng, nhưng tôi cố gắng viết những trang này để lưu giữ lại những kỷ niệm không thể xóa nhòa trong ký ức của một thằng có một thời tứ cố vô thân. Mỗi lần 30 tháng Tư đến, những hình ảnh cũ, những cử chỉ thân thương của anh chị lại hiện trở về như mới ngày hôm qua.

Nguyễn Gia Thưởng

*****

Toàn bộ tập san Bách Khoa trong Thư Viện online Người Việt

https://www.nguoi-viet.com/ThuVienNguoiViet/BachKhoa.php

*****

Những tài liệu tưởng nhớ đến anh Lê Ngộ Châu

lengochau_bachkhoa

Nhà báo Lê Ngộ Châu sinh ngày 30-12-1922, tại làng Phú Tải, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam. Ông từng làm hiệu trưởng một trường trung học ở Hà Nội (1951) trước khi sáng lập và làm chủ nhiệm kiêm chủ bút tạp chí Bách Khoa. Tòa soạn đặt tại nhà riêng của bà Châu (Nghiêm Ngọc Huân), số 160 Phan Đình Phùng (nay là Nguyễn Đình Chiểu, quận 3).

Qua 426 số báo, Bách Khoa là nơi thường xuyên góp mặt những cây bút đứng đắn, tên tuổi như: Á Nam Trần Tuấn Khải (1895-1983); Bình Nguyên Lộc (1914-1988); Bùi Giáng (1926-1998); Đông Hồ (1906-1969); Giản Chi (1904-…); Hoàng Xuân Hãn (1908-1996); họa sĩ Nguyễn Gia Trí (1908-1993); Nguyễn Văn Hầu (1926-1995); Nguyễn Văn Xuân (1921-…); Phạm Ngọc Thảo (1922-1965); Quách Tấn (1910-1992); Trần Văn Khê (1920-…); Võ Hồng (1921-…); Vương Hồng Sển (1902-1996), v.v…

Học giả Nguyễn Hiến Lê (1912-1984) đánh giá: “Trong lịch sử báo chí của nước nhà, tờ Bách Khoa có một địa vị đặc biệt. Không nhận trợ cấp của chính quyền, không ủng hộ chính quyền mà sống được 18 năm từ 1957 đến năm 1975 bằng tờ Nam Phong, có uy tín tập hợp được nhiều cây bút giá trị như tờ Nam Phong, trước sau các cộng tác viên được khoảng 100 người.” (Hồi ký, tr. 415) “… nhiều học giả miền Bắc nhận (BK) là một tờ báo nghiêm chỉnh, có lập trường đứng đắn, lý luận vững, ngôn ngữ đàng hoàng, họ thích đọc BK để hiểu các vấn đề miền Nam…” (tr. 417).

Nói tới báo chí tiếng Việt ở Mỹ, Giáo sư Hoàng Xuân Hãn (1908-1996) hỏi: “Có tờ nào giữ được trình độ cao như BK xưa ở SG chăng?” (báo Văn học số 132, Mỹ, 1996).

Nhà văn Vũ Hạnh (còn dùng bút danh Cô Phương Thảo, sinh 1926) trong bản thảo “Một chặng đường bút mực”) đã viết: “Từ 1957 đến 1975, cộng tác với tờ báo này tôi đã lần lượt vào tù cả thảy bốn lần. Ở tòa soạn, thỉnh thoảng tôi gặp ông Phạm Ngọc Thảo thường viết về các đề tài quân sự, và trong lần tôi bị bắt đầu tiên, tại Sài Gòn, ông Lê Ngộ Châu đã nhờ ông Thảo, bấy giờ là tỉnh trưởng Bến Tre, can thiệp với thiếu tướng Nguyễn Văn Là, tổng giám đốc cảnh sát SG, để tôi sớm được tự do.”

Tại nhà riêng, 11 giờ sáng Chủ Nhật 24-9-2006, nhà báo Lê Ngộ Châu đã nhẹ nhàng ra đi. Linh cữu quàn tại Nhà tang lễ Thành phố (đường Lê Quý Đôn, quận 3). Lúc 5 giờ sáng 26-9, ông được đưa về yên nghỉ trong đất riêng chùa Phổ Chiếu (Gò Vấp). Trong sổ tang, có hai câu thắm thiết của dịch giả Nguyễn Minh Hoàng (sinh 1933):

Duyên nợ Bách Khoa, anh vội ra đi, mây chiều gió sớm,
Cuộc đời dâu biển, tôi còn ở lại, ra ngẩn vào ngơ.

Đã đăng SGGP thứ Bảy, số 809, ngày 30-9-2006.

nghiem_ngoc_huan
Bà Lê Ngộ Châu (Nghiêm Ngọc Huân), các ông Lê Phương Chi, Trần Văn Chánh, Dũ Lan
(Nhà tang lễ Thành phố, tối Chủ Nhật 24-9-2006).

           © http://vietsciences.free.fr  và http://vietsciences.org  Dũ Lan Lê Anh Dũng

Lê Ngộ Châu, 160 Phan đình Phùng

Đặng Tiến Chia sẻ - ShareThis 1 bình luận 2.10.2009

Nhà báo Lê Ngộ Châu, điều hành tạp chí Bách Khoa tại Sài Gòn trước 1975, qua đời tại Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 24 tháng 9 -2006, thọ 83 tuổi.

Ít người biết đến tên Lê Ngộ Châu vì ông không viết sách, viết báo, chỉ âm thần phụ trách tòa soạn tạp chí Bách Khoa trong non hai mươi năm. Nhưng đa số những người làm văn học tại Miền Nam trước đây đều biết và quý mến, thậm chí chịu ơn ông dẫn dắt. Muốn hiểu tình cảm sâu đậm đó, phải biết Bách Khoa không những là tạp chí có đời sống lâu dài nhất (1957-1975), mà còn có những đóng góp lớn lao cho đời sống văn hóa Miền Nam thời đó.

Nhà văn Võ Phiến là người hợp tác chặt chẽ với Bách Khoa suốt thời gian này, đã nhận định chính xác:

Bảo tờ Bách Khoa thành công là không phải chỉ nghĩ đến cái tuổi thọ của nó mà thôi. Tuổi thọ dắt theo một số ưu điểm khác. Người ta nhận thầy Bách Khoa qui tụ được đông đảo cây bút thuộc nhiều thế hệ kế tiếp nhau ; nó phản ảnh các chuyển biến của văn học qua nhiều giai đoạn; nó lưu lại một khối lượng bài vở lớn lao và giá trị, một kho tài liệu cho việc tìm hiểu cuộc sống của Miền Nam trên nhiều phương diện: kinh tế, văn hóa, chính trị v.v… Trên Bách Khoa không phải chỉ có thơ văn, mà có cả những khảo luận về văn học, sử học, ngữ học, triết học, tôn giáo, hội họa, âm nhạc… ; như thế không những trên Bách Khoa có những tìm tòi về nguồn gốc dân tộc, về các vấn đề của văn học cổ điển nước nhà chẳng hạn, mà còn liên tiếp có những giới thiệu các trào lưu tư tưởng Âu Tây mới nhất lúc bấy giờ: tiểu-thuyết-mới, hiện tượng học, cơ cấu luận v.v…

Cũng như tờ Văn, Bách Khoa là một tạp chí dung hòa rộng rãi mọi khuynh hướng.

Không có chủ trương « văn nghệ cách mạng » cũng không chủ trương « vượt thời gian », nó đăng bài của các lão thi sĩ tiền bối Đông Hồ, Quách Tấn, Vũ Hoàng Chương lẫn truyện của Thanh Tâm Tuyền, Trùng Dương… Về mặt chính trị, sức dung hòa của nó khiến có lần Nguyên Sa nói đùa: Bách Khoa là một vùng xôi đậu. Nó đón nhận cả Nguyễn văn Trung, Nguyễn Ngọc Lan, Vũ Hạnh, lẫn Võ Phiến, Vũ Bảo…  (Văn học Miền Nam, Tổng Quan, 2000, tr. 239).

Nguyên Sa dùng chữ « xôi đậu » không nhất thiết là nói đùa. Ở một nơi khác, ông có viết « Bách Khoa với đời sống lâu dài không bị xếp vào hàng ngũ báo nhà nước » (Bách Khoa, số kỷ niệm 14 năm, 15-1-1971). Lời này bổ sung cho lời kia, và nói lên một sự thật kỳ lạ: Bách Khoa, nguyên ủy là của hội Văn Hóa Bình Dân, một hội đoàn trực thuộc văn phòng chính trị của Ngô Đình Nhu, do Huỳnh văn Lang chủ trì; hội này cai quản những trường Bách Khoa Bình Dân, do đó có tên báo Bách Khoa, còn gọi là Bách Khoa Bình Dân.

Huỳnh văn Lang giám đốc Viện Hối Đoái, người bỏ tiền ra báo, là bí thư Liên Kỳ Nam Bắc Việt Nam của đảng Cần Lao mà Ngô Đình Nhu làm tổng bí thư. Năm đầu, 1957, ông Lang điều khiển tờ báo, viết bài về kinh tế khi Phạm ngọc Thảo viết về quân sự, chính trị ; 1958 ông Lang đi tu nghiệp ở Mỹ, giao Bách Khoa cho Lê Ngộ Châu điều hành; năm 1963 ông Lang bị bắt vì tội kinh tài cho chế độ Diệm, thì Lê Ngộ Châu tiếp tục nhiệm vụ, anh em thường gọi là Lê Châu. Nhưng báo vẫn đứng tên Huỳnh văn Lang cho đến tháng 2-1965, báo phải đổi tư cách pháp nhân, lấy tên Bách Khoa Thời Đại, do Lê Ngộ Châu đứng tên chủ nhiệm, và đến tháng 1-1970, lấy lại tên Bách Khoa.

Với gốc gác như vậy mà Bách Khoa được xem như là báo « xôi đậu », không bị xếp vào hàng ngũ « báo nhà nước » như Nguyên Sa ghi lại, và đóng góp lớn lao với đời sống văn hóa như Võ Phiến nhận định, là nhờ công lèo lái của Lê Châu.

Nguyên Sa trong bài báo đã dẫn, đã mô tả một buổi họp tòa soạn, tại Ngân Hàng Quốc Gia, khoảng 1957: « bàn cãi về tờ Bách Khoa đã diễn ra sôi nổi. Lê Châu mặt trắng ngồi lặng lẽ, ít nói, hiền hòa. Thỉnh thoảng anh cất lời, toàn những lời nhẹ nhàng, vừa phải, nghiêm túc, không gây sóng gió nào ». Đúng là hình ảnh Lê Châu. Về mặt ứng xử hằng ngày, thì Vũ Hạnh có lần tập Kiều: «Ở ăn thì nết cũng hay, ra điều ràng buộc thì tay cũng già ». Đúng là Lê Châu.

Nhờ đức tính kín đáo, hòa nhã, Lê Châu đã tập hợp không những trên mặt báo nhiều khuôn mặt khác biệt, thậm chí trái ngược về hoàn cảnh, tính tình lẫn chính kiến, mà còn quy nạp được nhiều bè bạn đến từ những chân trời khác nhau, trong đời sống cụ thể hằng ngày. Chưa kể những tác giả sinh sống ở ngoài nước thường xuyên gửi bài về cộng tác.

Lê Châu kiến thức rộng, thường xuyên giao tiếp với quan chức hay các nhà văn hóa danh vọng, nhưng luôn luôn từ tốn, trong cách ứng xử hàng ngày, với những người viết trẻ tuổi. Ông đặc biệt lưu tâm đến những người viết mới, viết từ các tỉnh nhỏ, đặc biệt là từ Miền Trung.

Bách Khoa là một tờ báo phổ thông, chủ tâm vào những đề tài chính trị, quốc tế, kinh tế, khoa học, chỉ dành một phần cho văn học nghệ thuật, nhưng về lâu về dài đã có những đóng góp lớn lao cho bộ môn văn nghệ. Về sau, phần văn nghệ này lại là khối tài liệu quý giá.

Lê Châu còn là gương sáng về đức khiêm tốn trí thức. Hai chữ Bách Khoa bình thường được dịch ra tiếng Pháp là Encyclopédie theo nghĩa từ điển bách khoa, hoặc tư trào Bách Khoa trong văn học Pháp thế kỷ XVIII ; nhưng Lê Châu không nhận từ này, cho rằng quá to tát so với tờ báo. Ông dịch Bách Khoa là Variétés, sát nghĩa là « tạp chí ». Ông sành nhưng không sính tiếng Pháp.

Lê Châu là kẻ sĩ theo truyền thống, luôn luôn mực thước, trong nếp trung dung của cửa Khổng sân Trình và theo nếp mực thước, juste mesure của bực trí thức tân học. Trong đời sống, ông là người bảo thủ; trên cương vị chủ báo, ngược lại, ông khuyến khích văn chương trẻ và tư tưởng mới, nhưng chừng mực thôi.

Bách Khoa mỗi số cố công đưa xã hội Việt Nam đi kịp thời đại Âu Mỹ, nhưng Lê Châu không ưa thời thượng, dị ứng với lời văn hay thái độ kệch cỡm. Ông không ưa lối sống nghệ sĩ huênh hoang. Bách Khoa là báo trường vốn, có quảng cáo đều, có độc giả ổn định, nên không cần theo thời trang, câu độc giả. Khi đăng từng kỳ truyện « Vòng tay học trò », của Nguyễn thị Hoàng, sau này sẽ gây nhiều dư luận phản đối về mặt đạo lý (cô giáo yêu học trò) là Lê Châu có cân nhắc, và chứng tỏ tư tưởng phóng khoáng.

Có lẽ Bách Khoa là tạp chí giới thiệu nhiều nhất các phong trào tư tưởng mới, từ văn học đến triết học, ví dụ tư trào hiện sinh, mà lúc ấy không phải ai ai cũng hưởng ứng.

Khi được tin Lê Châu mất, tôi có điện thư cho nhà văn Trần Hoài Thư, anh trả lời là đã được Lữ Quỳnh điện thoại thông báo: cả hai cùng lò Bách Khoa. Anh kể: mình là quân nhân, từ Cao Nguyên về Sài Gòn, hẹn với người yêu – vốn là độc giả hâm mộ, từ Lục Tỉnh lên – tại tòa soạn Bách Khoa, 160 Phan đình Phùng. Sau đó hai người thành vợ thành chồng.

Tôi còn giữ trong tay số Bách Khoa Thời Đại đầu năm 1968, có đăng truyện « Trên Đồi nhìn xuống » ký tên Trần Quý Sách, bên cạnh truyện Võ Phiến, Võ Hồng, Linh Bảo; và bài thơ « Một vì sao lạ » ký Trần Hoài Thư bên cạnh thơ Đoàn Thêm, Bùi Khánh Đản và thơ Đông Hồ tặng Vũ Hoàng Chương.

Trụ sở Bách Khoa là nơi hẹn và là hộp thư. Chuyện tình Trần Hoài Thư, lúc ấy còn ký Trần Quý Sách, là chính đáng, còn những quan hệ linh tinh, bay bướm của các nhà văn, nam và nữ, thì hằng hà sa số. Nhưng Lê Châu không bao giờ kể.

Bây giờ thì anh vĩnh viễn im lặng.

Với nhiều bạn bè, dù là thân thuộc, Lê Châu vẫn là niềm bí ẩn lớn lao giữa cơn gió bụi của thời đại.

Khi kết hợp những người chính kiến khác nhau, trong suốt thời gian ấy, không biết Lê Ngộ Châu, trong ý thức hay tiềm thức, có nuôi ước mơ hòa giải và hòa hợp dân tộc hay không.

Tôi ngờ ngợ.

Đặng Tiến

Viết ngày 27/9/2006

Viết lại nhân ngày giỗ mãn tang Lê Ngộ Châu 24/9/2009

*****

Từ Huỳnh Văn Lang đến Lê Ngộ Châu đến các tác giả viết cho Bách Khoa (Nguyễn Thụy Hinh)

Tờ Bách Khoa là một trong số tờ báo có tuổi thọ cao nhất ở miền Nam trước 1975. Nó thọ 18 năm: Từ 1957 đến 1975 và ra được 426 số. Thử hỏi không có biến cố 30 tháng tư, nó sống thêm được bao lâu nữa? Trong suốt thời gian ấy hẳn có nhiều thay đổi về nhân sự, về nội dung và đường lối tờ báo, về sự gia tăng các tác giả viết bài. Người viết bài này xin giới thiệu lại hai khuôn mặt nổi bật nhất của tờ Bách Khoa và một số tác giả viết cho tờ Bách Khoa: Chủ nhiệm sáng lập, ông Huỳnh Văn Lang và người thừa kế ông Huỳnh Văn Lang, ông Lê Ngộ Châu.

1.- Chủ nhiệm sáng lập: ông Huỳnh Văn Lang

Tôi nhớ lại là khi tờ Bách Khoa ra đời, tên ông Huỳnh Văn Lang gắn liền với tờ báo. Đối với người đọc báo, tôi chỉ biết tờ Bách Khoa là do Huỳnh Văn Lang, bên cạnh có Hoàng Minh Tuynh. Nhưng đối với các tác giả viết bài sau này thì có thể  họ nghĩ khác, họ chỉ trực tiếp liên hệ với ông Lê Ngộ Châu nên nhận định có phần khác. Chẳng hạn trường hợp ông Nguyễn Hiến Lê Viết đến hơn 200 bài cho BK, đi lại tòa báo chắc hai lần hơn số bài ông viết và chỉ tiếp xúc với Lê Ngộ Châu. Ông sẽ có ý nghĩ khác, nhận xét khác về vai trò chủ bút. Làm sao tránh khỏi ?

Ông HVL là người sáng lập, góp vốn, xây dựng cơ sở, xin quảng cáo, viết bài chủ, chọn và kiểm duyệt bài. Mọi việc đều có ông Huỳnh Văn Lang dính vào. Nhờ ông mà nó sống còn trong lúc đầu. Mà nếu không có ông thì không thể có tờ Bách Khoa. Sau này, dù ông không thực sự còn nắm tờ báo, ông vẫn đứng đằng sau tài trợ.( Năm 1972, ông được giải thưởng Văn Bút 100.000 đồng, ông cũng trao lại cho ông Lê Ngộ Châu. Cũng như Hãng BGI, dù ông HVL không coi sóc tờ BK nữa, họ vẫn đăng quảng cáo trong suốt gần 20 năm, ở trang bìa sau)

Cho dù ông không trực tiếp điều hành, không liên lạc tiếp xúc với các nhà văn … Ông vẫn là chủ tờ báo và danh xưng đó, không ai có thể thay thế được, cho dù là ông Lê Ngộ Châu. Đó là công bằng mà nói.. 

Tuy nhiên, nhìn lại chặng đường Bách Khoa của những năm đầu cho thấy có một số điều không ổn. Thứ nhất, từ ông Huỳnh Văn Lang đến ông Hoàng Minh Tuynh cho thấy thiếu nhạy bén về văn học nghệ thuật, về truyện, về thơ văn, về hội họa. Chủ trương tờ báo nhắm vào sự hướng dẫn, truyền đạt và giáo dục người đọc.Tờ báo vì thế có nhiều  bài vở chuyên môn, chuyên ngành. Khá là khô khan. Thời đó, tôi đọc đã thấy không trôi, nay đọc lại cũng vẫn không lấy gì làm thích. Sau một thời gian thì số lượng các bài viết về tôn giáo có giảm đi nhiều.

Tôi nghĩ rằng làm báo khác làm thương mại. Không phải cứ có tiền là đủ. Cần một ý thức về văn hóa, một chủ trương sáng tạo về văn học và cần một hướng đi cho tờ báo. Có thể, khi làm báo, ông Huỳnh Văn Lang chỉ nhắm tới khía cạnh thực dụng, khía cạnh giáo dục, khía cạnh truyền bá kiến thức phổ thông đủ loại Hiểu như thế thì chưa đủ. Như lời nhận xét của ông Nguyễn Hiến Lê về tờ Bách Khoa: Lại thêm Bách Khoa không có một chủ trương mới mẻ cải cách cả về tư tưởng lẫn sự trình bày như tờ Phong Hóa, Ngày nay, trước sau vẫn giữ lập trường ôn hòa, đứng giữa, không theo Cộng, không theo Mĩ, như vậy làm sao nói một phong trào mà ảnh hưởng tới quốc dân được như nhóm Tự lực (Trích Hồi ký Nguyễn Hiến Lê, trang 549).

Nhận xét của ông nguyễn Hiến Lê cho thấy một cách rõ ràng tờ báo ít chú trọng đến văn chương, nghệ thuật.

Xem ra có vẻ coi nhẹ lãnh vực văn chương, nghệ thuật. Một số báo có độ hai truyện ngắn tùy tiên. Sau này thì có khá hơn. Vốn không quen biết nhiều giới nhà văn nhà báo nên tờ báo lúc đầu không tránh khỏi khô khan, đọc đến chán ngán. Nói đúng ra, không ai có thể làm báo một mình được. Bỏ tiền chưa đủ. Tờ báo sống còn, mạnh hay yếu tùy thuộc rất nhiều vào sự cộng tác của các nhà văn, nhà báo này.

Không có ông Huỳnh Văn Lang thì tờ báo Bách Khoa không sống nổi, nhưng không có sự hợp tác của vô số nhà văn thì Bách Khoa sẽ không có vóc dáng như mọi người trông đợi lúc bấy giờ.

Theo ông Nguyễn Hiến Lê, khi báo Bách Khoa ra được hai số thì nhà văn Nguyễn Ngu Í dắt bà Phạm Ngọc Thảo lại giới thiệu ông để nhờ ông giúp viết cho tờ Bách Khoa. Không ngờ, cuộc giới thiệu này trở thành duyên Văn Học. Nguyễn Hiến Lê trở thành cây bút chủ lực trong suốt 18 năm của Bách Khoa. Và nhiều nhà văn khác đã nối gót theo Nguyễn Hiến Lê như Võ Phiến, Đoàn Thêm, Bình Nguyên Lộc và hằng trăm nhà văn khác.

Ngày nay, ông Huỳnh Văn Lang muốn mọi người nhìn nhận lại vai trò người sáng lập, người tài trợ Bách Khoa, người chủ nhiệm đầu tiên. Thiết tưởng điều đó nên coi là một điều hiển nhiên không chối cãi được. Hãy trả cho Ceasar cái gì của Ceasar như điều Ông Huỳnh Văn Lang mong muốn.

Theo tôi, sự thành công của Bách Khoa không thể thiếu hai ông này. Mỗi người có một vai trò nhất định.

Ông Huỳnh Văn Lang cho biết trong một bài phỏng vấn: thường ông Lê Ngộ Châu một hai tuần phải mang bài vở tới nhà ông Huỳnh Văn Lang để ông đọc và duyệt. Như thế, trong giai đoạn đầu, khoảng 4, 5 năm, rõ ràng vai trò chủ nhiệm, chủ bút do ông Huỳnh Văn Lang đảm nhiệm.

Nhưng sau 4, 5 năm, những năm còn lại của tờ Bách Khoa, ai là người trách nhiệm phê duyệt, ai trách nhiệm trực tiếp bài vở, chọn bài, sửa bài?

Chắc hẳn nay là lúc ông Lê Ngộ Châu đảm nhận chẳng những vai trò quản lý tờ báo, thư ký tòa sọan mà kiêm thêm chủ bút tờ báo?

Vì thế, ông Huỳnh Văn Lang có thể yên tâm và hãnh diện vì chỗ của ông trong vai trò sáng lập viên và chủ nhiệm trong giai đoạn đầu không bị sứt mẻ.

Không có ông, BK đã không sống nổi. Mỗi kỳ phát hành một hai ngàn số mà chỉ bán được vài trăm số, chỉ có 2,3 chục độc giả mua báo dài hạn.

Ở giai đọan sau 1963, dù ông không còn làm chủ nhiệm nữa, ông vẫn có thể tự hào vì kiếm ra được người kế vị ông đã không làm uổng công trình xây dựng tờ Bách Khoa lúc ban đầu.Trước sau, danh dự và danh tiếng của ông không mất mát gì. Ông Lê Ngộ Châu có giỏi, có tài thì ông được tiếng thơm lây.

 

2.-Ông Lê Ngộ Châu: Kẻ thừa kế làm nên sự nghiệp

 

Không phải đợi đến năm 1963, ông Lê Ngộ Châu mới chính thức được giao vai trò chủ nhiệm Bách Khoa. Thực ra, thời gian ông Huỳnh Văn Lang đi du học từ năm 1958 đến tháng 5/1959 ở Mỹ, mọi công việc tòa sọan, bài vở đều do ông Lê Ngộ Châu một mình quyết đoán cả.

Theo ông Huỳnh Văn Lang thì cuối năm 1955, bộ tài chánh giới thiêu ông Hoàng Minh Tuynh làm phó cho ông ở Viện Hối Đoái. Lúc đó ông HVL đang cần một thư ký tòa sọan. Ông Tuynh bèn giới thiệu ông Lê Ngộ Châu. Cứ như lời xác nhận này của ông HVL thì tôi có cảm tưởng ông Lê Ngộ Châu làm thư ký tòa sọan Bách Khoa có thể là ngay từ đầu?   

Và sau này, có thể nói, không có bất cứ nhà văn nào mà không có lời lẽ trân trọng đối với ông Lê Ngộ Châu. Khen và trân trọng hết lời.  

Theo Nguyễn Văn Trung, (bài báo đầu tiên đăng trên BK là bài Tự tử, ký biệt hiệu Hoàng Thái Linh), thì ông Lê Ngộ Châu có thể đọc bài, sửa bài rồi đề nghị cắt hay thay đổi một đoạn. Mặc dầu không viết bao giờ, ông có khả năng thuyết phục cao, có bon sens, hiểu biết từng nhà văn, nắm được tất cả. Cuối cùng thì ai ai cũng đồng ý để ông sửa và cắt bài. 

Sau này, khám phá ra Nguyễn Thị Hoàng cũng là công của Lê Ngộ Châu. Ngoài ra còn Túy Hồng, Nguyễn Mộng Giác, Thế Uyên đều từ Bách Khoa mà lớn lên. 

Phần Tạ Tỵ thì viết về ông như sau: «Ông Lê Ngộ Châu, dáng người trắng trẻo, mập mạp, ăn nói rất khôn khéo. Lê Ngộ Châu tuy không phải nhà văn nhà thơ, nhưng có cái tài đọc văn, đọc thơ và biết giá trị của nó tới đâu. Ngay tờ Bách Khoa khởi đầu do Huỳnh Văn Lang chủ trương, sau vì lý do chính trị, Huỳnh Văn Lang, giám đốc sở Hối đoái bị thất sủng, trao lại cho Lê Ngộ Châu, khi đó giữ vai trò quản lý.(….). Lê Ngộ Châu, tính tình thẳng thắn, nhất là vấn đề tiền bạc, không làm mất lòng ai bao giờ, kể cả nhừng người anh không ưa... Anh em gặp nhau nói chuyện như bắp rang, cứ thêm một người lại thêm chuyện. Nhiều lúc căn phòng khách của Kim Lai chặt cứng không còn chỗ vì anh em đến quá đông»

 

Cứ theo như những nhận xét của Tạ Tỵ thì Lê Ngộ Châu có những đặc điểm sau đây:

 Có có khả năng, đọc bài, sửa bài. Đó là vai trò một chủ bút tốt.

- Tính nết ngay thẳng, tiền bạc sòng phẳng đâu ra đấy.

- Có khả năng quản lý, tài chánh để Bách Khoa không rơi vào tình trạng lỗ lã.

- Nhất là tính tình hòa nhã biết quy tụ người, nhờ đó Bách Khoa là tờ báo quy tụ được nhiều người viết nhất.

Theo ông Nguyễn Hiến Lê, trong Hồi kỳ của ông, trang 545 thì:«Khi báo có uy tín rồi, từ 1960 trở đi, Ông Châu tập hợp thêm được một số cây viết trẻ, từ đó báo đăng nhiều bài có giá trị cả biên khảo lẫn sáng tác và chính nhờ hợp tác với Bách Khoa mà những cây viết đó nổi tiếng như Vũ Hạnh, Võ Phiến, Lê Tất Điều, Cô Liêu, Ngu Í, Phạm Việt Châu, Phan Văn Tạo, Đoàn Thêm( hai người sau là những nhân viên cao cấp trong chính quyền Ngô Đình Diệm), nhất là các nữ tiểu thuyết gia Nguyễn Thị Hoàng, Trùng Dương, Thụy Vũ, Túy Hồng »

Cũng theo Nguyễn Hiến Lê: «ông Châu làm việc rất siêng, đọc hết mọi bài đã nhận được, đăng được hay không đều báo cho tác giả biết. Ông nhận rằng, ông đã bỏ lầm một số bài rất khá. Tôi mến ông, vì ông có tinh thần trách nhiệm, làm việc đàng hòang, biết cương quyết giữ vững chủ trương cả khi tờ báo suy, biết xét người, xét văn và có tình với người cộng tác: ai gặp tai nạn gì thì ông lại nhà thăm, tìm mọi cách giúp đỡ”. (Trích Hồi ký Nguyễn Hiến Lê, trang 553).

 

Nhà báo Hoàng Minh Tuynh sinh năm 1916 tại tỉnh Nam Định, sau năm 1950 định cư ở Sài Gòn và Bảo Lộc cho đến cuối đời. Thân phụ của ông là Hoàng Văn Tuân và thân mẫu là Lê Thị An.

Thuở nhỏ, ông học ở Hà Nội, đậu Tú tài rồi vào học Trường Đại học luật khoa Hà Nội, tốt nghiệp cử nhân luật chuyên về kinh tế, tài chánh.

Sau năm 1945, ông làm công chức trong ngành kinh tế ngân hàng, thường đi tu nghiệp ở các nước Tây phương (Pháp, Mỹ).

Sau hiệp định Genève, ông giữ chức Phó Tổng giám đốc Viện Hối đoái Sài Gòn (Tổng giám đốc là ông Huỳnh Văn Lang: 1922.... )

Năm 1957, ông cùng với Huỳnh Văn Lang và Lê Ngộ̣ Châu sáng lập tạp chí Bách khoa ở Sài Gòn (1957-1975) giữ chức chủ bút (1957-1963) rồi đến năm 1960, ông sáng lập tạp chí Mai và làm chủ nhiệm tạp chí này.

Bách khoa, Mai là hai tạp chí có chủ trương và lập trường văn hoá sống lâu năm nhất tại miền Nam. Bách khoa: (1957-1975), Mai: (1960-1963) cũng là nơi tập hợp được các cây bút nghiêm túc ở Sài Gòn trước năm 1975 như nhà văn đã viết: “Tạp chí Bách khoa là mảnh đất chính cho việc cầm bút dưới các bút hiệu cô Phương Thảo... Thực tế điều hành tờ báo là ở hai người, một là ông Hoàng Minh Tuynh, trí thức công giáo, tính tình hào hoa, có phần lãng mạn, sẵn sàng bỏ nhiều thì giờ cắt xén các bài trên báo chí ngoại quốc, kết lại thành từng mục để trao cho các anh em cộng sự khai thác tư liệu, hai là ông Lê Ngộ Châu trí thức miền Bắc di cư, nhưng là Phật tử lo phần trị sự. Ông Châu là người thông minh, tinh tế, nhạy bén trong xử sự và nhân hậu với anh em cộng tác” (Vũ Hạnh).

Năm 1963, ông từ bỏ đời sống công chức, đến năm 1977, ông mất tại thị xã Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng, hưởng thọ 61 tuổi

Viết về Tạp chí Bách khoa (1957-1975)

Thân gửi chị  Chủ nhiệm và anh Chủ bút Tạp chí Tân Văn,

Truớc tiên tôi, Huỳnh văn Lang, sáng lập và cựu Chủ nhiệm Chủ bút Bách khoa, xin thành thật cám ơn Tân Văn đã có những bài viêt về BK kể là hoàn toàn trung thực. Âu cũng là một nhiệm vụ của TV đối với văn học miền Nam, một nền văn học mà CS cố tình đả phá, xuyên tạc mà một số nhà văn gọi là quốc gia lại nhiều khi vô tình hay hữu ý đã hùa theo.

Tại sao tôi phải nói là “kể ra’’? Thật sự ở đời nầy, nhứt là khi viết về văn hóa văn học đã qua thì làm gì có hoàn toàn. Tuy nhiên tôi cũng muốn ghi thêm về một vài tiểu tiết, nhưng quan trong, để bổ túc cho TV số 6, tháng 1, 2008, chuyên đề Tạp chí Bách khoa.

Khi nói về tiến trình hình thành BK, TV đã bỏ qua một giai đoạn mà có 2 nguời đã đóng một vai trò thiết yếu không thua gì nguời sáng lập. Tôi muốn nói đến chị Phạm ngọc Thảo hay Phạm thị Nhiệm, em gái của giáo sư Phạm Thiều, truờng Pétrus Ký, Saigon. Nguời đầu tiên giữ chức vụ thư ký toà soạn và giới thiệu, nếu không nói là đem vào BK, những nhà văn Nguyễn hiến Lê, BS Nguyễn văn Ba, BS Duơng quỳnh Hoa... và nhứt là anh Nguyễn hữu Ngư (Nguyễn ngu Í), chính anh nầy là em nuôi của GS Phạm Thiều, đã giới thiệu thêm Buì Giáng, Nguyễn thị Hoàng v.v. Chị Thảo còn viết bài cho BK bút hiệu Minh Phong. Và nguời thay mặt tôi trực tiếp làm việc với chị Thảo là anh Hoàng minh Tuynh, lúc bấy giờ còn là phó Giám đốc Viện Hối Đoái cho tôi. Lúc tôi vắng mặt, chính anh Tuynh đã thay mặt tôi như là chủ nhiệm chủ bút làm việc với anh Châu, lúc không còn có chị Thảo nữa. Cho nên nói rằng anh Châu làm từ lúc đầu là sai hoàn toàn. (Chị Thảo hiện sống ở Cali, nếu thấy cần xác nhận điều tôi nói trên, chắc chắn chi Thảo sẽ vui lòng trả lời, chị đang ngồi xe lăn và yếu lắm, nhưng còn minh mẫn và nói chuyện điện thoại đuợc).

Kết: Viết về giai đoạn hình thành Bách Khoa mà không nhắc đến tên anh Hoàng minh Tuynh và chị Phạm thị Nhiệm là một điều thiếu sót không nhỏ vậy.                                                           

Huỳnh văn Lang 05-01-08

2.-Bách Khoa thời ông Huỳnh Văn Lang (1957-1963)

Dựa trên cuốn: Nhân chứng một chế độ, của ông Huỳnh Văn Lang và bài phỏng vấn của bà Tà Cúc trên báo Khởi Hành mà ông gửi cho tôi cũng như những cuộc điện đàm giữa tôi và ông, xin trình bày một số điểm về tờ Bách Khoa.

Các ông Lê Thành Cường, Đỗ Trọng Chu và Huỳnh Văn Lang là những người sáng lập các trường Bách Khoa Bình Dân. Từ chỗ đó, họ có ý ra một tờ báo lấy tên Bách Khoa. Thế là sau gần hai năm dự định, Bách Khoa ra đời với 30 người chung nhau đóng góp, mỗi người 1000 đồng để ra tờ Bách Khoa. Có một vị không được nhắc đến tên, nhất định chỉ đóng góp 500 thôi.

Ổ tờ bìa sau của tờ báo, trong suốt cả một năm trời, gồm 26 số báo, tôi đều đọc được tên 30 vị phần lớn là giới chuyên viên, không phải người viết báo. Tên cứ để đó, tiền đã đóng góp mà chẳng viết lách gì cả.

Tên họ lần lượt là quý ông Lê Đình Chân, Tăng Văn Chỉ, Đỗ Trọng Chu, Lê Thành Cuờng, Trần Lưu Dy, Lê Phát Đạt, Nguyễn Văn Đạt, Nguyễn Lê Giang, Phạm Ngọc Thuần Giao, Nguyễn Hữu Hạnh, Lê Văn Hoàng, Nguyễn Văn Khải, Phạm Duy Lân, Nguyễn Quang Lệ, Trần Long, Bùi Bá Lư, Dương Chí Sanh, Nguyễn Huy Thanh, Bùi Kiến Thành, Hoàng Khắc Thành, Phạm Ngọc Thảo, Bùi Văn Thịnh, Vũ Ngọc Tiến, Võ Thu Tịnh, Nguyễn Tấn Trung, Phạm Kim Tương, Hoàng Minh Tuy, Bùi Công Văn.

Theo lời ông Huỳnh Văn Lang, hết một phần ba là chuyên viên ngân hàng, làm dưới quyền của  ông Huỳnh Văn Lang. Rất ít người trong số 30 người có khả năng viết lách. Hầu như không có ai là nhà văn. Đặc biệt ông Lê thành Cường là một trong ba người khởi xướng hỗ trộ tờ Bách Khoa thì không nằm trong số 30 người.

Cộng lại số lượt các tác giả viết bài cho 24 số báo đầu tiên, năm 1957 cho thấy có Hoàng Minh Tuynh 18 bài, Phạm Ngọc Thảo 14 bài, Huỳnh Văn Lang 14 bài, Nguyễn Hiến Lê 10 bài, Đặng Văn Nhâm 8 bài, Võ Phiến 7 bài, Bs Nguyễn Văn Ba, 6 bài, Nguyễn Hữu Ngư, tức Nguiễn Ngu Í 6 bài, Mặc Thu 5  bài, Bình Nguyên Lộc 5 bài, Vi Huyền Đắc, dịch 4 bài, Yã Hạc dịch 4 bài. Đấy là những con số mà ông Huỳnh Văn Lang viết ra. Nhưng tôi thấy là còn nhiều người viết nữa chưa được nêu tên trong năm đầu tiên như Hào Nguyên Nguyễn Hòa, Lam Việt, Thuần Phong, Lê Văn, Minh Đức, Nguyễn Văn Mầu, cô Thoại Nguyên, Đông Xuyên, Vũ Ký, Huỳnh Đức Quang, Nguyễn Quý Bảo, Nguyễn Đồng, Thanh Bình, Vũ Tam Tư, Vũ Thừa Chi, Trần Văn Khê, Phan Văn Trí, Phan Lạc Tuyên, Á Nam Trần Tuấn Khải, Nguyễn Sung, Hoàng Thái Linh (Nguyễn Văn Trung), Hư Chu, Cô Liêu, Văn Quang, Minh Anh, Triệu đường, Tạ Ký, Vương  Hoà Đức, Trần Hà, Mai Lâm, Phạm Duy Lâm, Phan Khoang, Nguyễn Anh Linh, Phùng Bá Khanh, Huệ Châu, Phan Mai, Hồng Hy, Phạm Tường Trinh, Nguyễn Xuân Lan, Phạm Hoàng Hộ, Bùi Giáng, Lm Tuyên Uý Nguyễn Huy Lịch, Tuyết Nga, KC Thanh Trung, Cẩm Vân, Thiên Giang...

Bách Khoa đã tự túc về tài  chánh

Ngoài tờ Cách Mạng Quốc Gia, một thứ báo nhà nước ít người đọc, ông Ngô Đình Nhu, qua ông Trần Kim Tuyến đã tài trợ tiền bạc cho cánh miền Bắc ra các tờ Tự Do và tờ Sáng Tạo. Phía miền Nam thì giao cho ông Huỳnh Văn Lang và đám cựu kháng chiến. Chỉ có một điều là cánh miền Nam, do ông Huỳnh Văn Lang lập ra tờ Bách Khoa đã không nhận tiền trợ cấp của chính phủ.

Tờ báo Bách Khoa trong những năm đầu chắc chắn cầm cự và sống còn được là nhờ ông Huỳnh Văn Lang và đám bạn bè của ông cũng như 295.000 đồng của hội viên đóng góp lúc đầu.Từ đó ông đã mua nhà in Văn Hoá, số 412-414, đường Trần Hưng Đạo, mua căn nhà 160 đường Phan Đình Phùng, sau là  tòa soạn đồng thời là chỗ ở của ông Tổng thư  ký Lê Ngộ Châu.Tôi cũng nhận thấy khá nhiều những quảng cáo đăng tải trên Bách Khoa có ý giúp đỡ, tài trợ gián tiếp của các nhà băng như: Banque Franco- Chinoise, Air Laos, Cigarettes Mélia, hãng rượu Bình Tây, Bank of China, hãng Đồng hồ Vina, Pháp Á ngân hàng, The Chartered Bank, Phân Thần nông, Hãng giày Bata, Công ty Bảo hiểm Pháp Á, Việt Nam Bảo hiểm Phật Bà.

Cái hay của  Bách Khoa là lúc đầu do tư nhân tài trợ và có thể từ sau 1963 thì tự túc được về tài chánh. Cho nên cần đánh tan một vài dư luận thiếu cơ sở về sự tài trợ này.

Chẳng hạn việc suy đoán của anh Đặng Tiến cho rằng: "bà Khánh Trang, bí thư của bà Nhu hậu thuẫn ít nhiều." Ít nhiều là bao nhiêu? Không biết? Có lẽ việc suy đoán này chỉ là suy ra từ mối liên hệ giữa bá Khánh Trang với ông Hoàng Minh Tuynh. Chuyện bà Khánh Trang dùng tiền của bà Nhu để tài trợ Bách Khoa hoàn toàn không có thật. Hơn nữa bà Khánh Trang chỉ thực sự sống chung với ông Hoàng Minh Tuynh sau khi bà đi du học Mỹ về năm 1959, trong khi tờ báo đã có mặt từ đầu năm 1957. Mà đến năm 1959 thì vai trò của ông Hoàng Minh Tuynh đối với tờ báo BK đã mờ nhạt rồi? Vì thế năm 1960, ông ra tờ báo Mai mà một nửa số tác giả cộng tác là  từ bên Bách Khoa. Ra được 41 số thì tự đình bản. Việc anh Đặng Tiến còn suy đoán thêm có sự hỗ trơ cho Bách Khoa do một số công chức cao cấp như  ông Đoàn Thêm, Phan Văn Tạo, Trần Thúc Linh cũng chỉ là suy đoán. Các công chức cao cấp chính quyền thời đó có tiếng mà không có miếng như các ông Đoàn Thêm, Phan Văn Tạo lấy gì mà tài trợ ? Trần Thúc Linh là thẩm phán, thích hoạt động chính trị viết các tập phổ thông luật pháp và nếu có giúp gì cho Bách Khoa cũng là do thiện ý cá nhân mà thôi. Mặc dầu sau này họ đều cộng tác đều với Bách Khoa. Phan Văn Tạo nổi tiếng với truyện ngắn Cái bong bóng lợn. Ai thì tôi không biết, riêng ông Đoàn Thêm là một công chức thanh liêm, làm việc bên cạnh ông Diệm thì phải liêm chính thôi, từng sinh sống ở Montréal mới qua đời, làm gì có tiền để cấp cho Bách Khoa? Nói như thế, không sợ  gia đình ông Đoàn Thêm ở Montréal, Canada lên tiếng về sư đặt điều này? Với mục đích gì ? Xin nói thêm về ông Đoàn Thêm. Ông là con cụ Đoàn Triển, một gia đình danh tiếng đất Bắc. Một con người tự trọng, khắc khổ, siêng năng, liêm khiết viết rất đều đặn cho Bách Khoa về hội họa, văn học, cả Mỹ học nữa. Nhưng quan trọng nhất và được nhiều người  biết và trân trọng là những tập biên niên sử của ông. Theo tôi thì không ai viết môt cách trung thực và công bằng về ông Diệm bằng ông Đoàn Thêm.  Tính trung thực và ngay thẳng là điểm mạnh nhất trong các bài viết của ông mà không có bất cứ ai viết sử thời ông Diệm sánh bằng. Phần tôi, muốn viết gì về những giai đoạn chính trị thời kỳ ấy, tôi chỉ chịu khó lật sách của ông như một người học trò ham học là đủ.

Riêng ông Huỳnh Văn Lang xác nhận thêm một lần nữa là: "Phần tôi, đỡ gạt được bao nhiêu thì tôi cố, vì cho rằng độc lập của một tờ báo là bảo đảm tự do tư tưởng mà tự do tư tưởng là giá trị vô giá của một chế độ dân chủ. (Trích trang 426-427, Nhân chứng một chế độ, Tập 1, Huỳnh Văn Lang).

Trong những năm đầu, số lượng nhà văn cộng tác còn giới hạn lắm. Vỏn vẹn có ba người viết chính chia nhau ba lãnh vực. Huỳnh Văn Lang chuyên viết về kinh tế, hối đoái. Chẳng hạn như các bài: Hợp tác xã tiêu thụ. Một ít nhận xét về phong trào Hợp Tác xã ở Việt Nam. Kế Hoạch Kinh tế. Hoàng Minh Tuynh viết về xã hội, chính trị, nhất là tôn giáo như các bài: Chế độ dân chủ cổ điển: Hiệp Chủng Quốc Mỹ Châu. Trách nhiệm người công giáo đối với Hòa Bình, Thư chung của Đức Hồng Y Saliège, năm 1955. Giáo Hội với đà tiến triển của thế giới hiện nay. Phạm Ngọc Thảo viết về quân sự như: Một số ý kiến cho binh sĩ thêm: Gan dạ tại mặt trận. Đánh giặc mà không giết người. Lực lượng quân sự cơ động và lực lượng quânn sự địa phương.

Đặc biệt, Phạm Ngọc Thảo có viết một bài rất ngắn.  Vừa đúng một trang.Viết ngoài thông lệ. Nhưng gói ghém nhiều điều, ám chỉ nhiều thứ. Như một người có lòng với đất nước mình. Và tôi đặc biệt để ý, ông không bao giờ đề cập đến miền Nam, mà luôn luôn nói chung là nước Việt Nam. Bạn đọc bây giờ muốn hiểu sao thì tùy. Phần tôi, không hiểu được dụng ý của ông. Ông có thiên về bên kia không?

Bài có nhan đề: Tết nội hóa, tết Độc lập.

Nội dung luân lý và giáo dục trong giai đoạn đầu của tờ Bách Khoa

Trong những năm đầu, tờ báo có mục đích giáo dục, giảng dạy luân lý, tôn giáo khá là rõ.

Điều thứ nhất, cứ có một chỗ trống nào là tòa sọan nhét cho bằng được các câu châm ngôn, các tư tưởng của người xưa, các tư tưởng  khuyết danh, trích dẫn Cổ Học Tinh Hoa. Có thể vì càc câu châm ngôn đó ngắn gọn, đọc là dễ thấm, dễ bị nhiễm và dễ chấp nhận. Thật ra cũng là một điều tốt. Vì điều tốt, điều thiện đôi khi cần được nhắc đi, nhắc lại nhiều lần. Có số báo  Bách Khoa có lời rao rõ rệt như sau:" Danh ngôn, danh lý trong số này quy về ý chính: Đau khổ, ưu hoạn" .

Điều thứ hai, tính cách giáo dục dàn trải trên toàn diện một số bài viết đủ loại: Từ tư tưởng chính trị, xã hội, tôn giáo, lịch sử đến văn chương thơ phú. Các bài viết ấy có mục đích truyền đạt giúp mở mang thêm kiến thức, kiến văn cho rộng rãi. Đó cùng là một sắc thái đặc biệt của các tạp chí, các tập san của Việt Nam kể từ thời kỳ Nam Kỳ địa phận, Lục tỉnh Tân Văn, Đông Dương tạp chí, Nam Phong tạp chí vv..

Vì nhằm mục đích gíao dục như thế, các số Bách khoa lúc đầu đọc rất là khô khan và dễ chán. Số độc giả chưa tới con số ngàn. Báo dùng để bán cho các cơ quan chính quyền là chính.

Có lẽ hiểu được điều đó nên sau này những bài về tôn giáo của ông Hoàng Minh Tuynh mỗi ngày mỗi ít đi. Sau này, ông Hoàng Minh Tuynh lập ra tờ báo riêng, tờ Mai, báo tuần, dành nhiều chỗ cho giới trẻ. Nhưng cũng gặp thất bại.

Trong số những kẻ rao truyền đạo lý thành công nhất trong giới trẻ thời đó, phải nói đến Nguyễn Hiến Lê. Ông rao truyền đạo đức, luân lý không phải dạy đời mà nêu ra các gương danh nhân nên dễ thuyết phục. Bài viết đầu tiên của Nguyễn Hiến Lê là bài:" Heinrich Scheliemann: Một người trong non 40 năm chỉ ước ao được đào đất.

Cho nên, nói về Nguyễn Hiến Lê, phải nói ông là thày dạy của nhiều thế hệ thanh niên, thiếu nữ miền Nam. Nhờ ông mà nhiều thanh niên đã nên người, đã tìm được hướng đi có ý nghĩa cho đời sống.

Nếu hỏi ai là người viết nhiều nhất trên Bách Khoa ? Có lẽ không ai viết nhiều hơn Nguyễn Hiến Lê . Bách Khoa cộng cả thảy có 426 số thì trong đó có 242 số có bài của Nguyễn Hiến Lê . Bài cuối cùng ông đăng trên Bách Khoa số 424 .

Cho nên, nói đến truyện ai là linh hồn của tờ Bách Khoa thì phải nói ai bây giờ? Phần Nguyễn Hiến Lê, tự ông đã trả lời như sau:"Vì tôi cộng tác đều đều với Bách Khoa, từ đầu tới cuối, lại viết nhiều về nhiều vấn đề, nên độc giả có người cho tôi là cây viết cốt cán của tạp chí, tưởng tôi là một nhân viên quan trọng trong tòa soạn nên có bài muốn gửi đăng thì  gửi cho tôi nhờ tôi giới thiệu với ông chủ nhiệm Lê Ngộ Châu  Tôi đọc kỹ những bài họ viết rồi cũng đưa ý kiến với ông Châu, nhưng cũng cho họ biết sự quyết định đăng hay không là ở cả ông Châu...(Trích Hồi ký Nguyễn Hiến Lê, trang 553).

Ông Nguyễn Hiến Lê đã làm cái công việc: Của Sê ra thì trả cho sê ra

Vì thế bài viết này cũng tạm chấm dứt ở đây.

***** 

Ký ức về ông Bách Khoa Lê Ngộ Châu (Trần Trung Sáng)

Vào năm 17 tuổi, tôi nhận được một lá thư quan trọng, ấn tượng nhất trong cuộc đời đeo đuổi “giấc mộng văn chương”. Lá thư ấy có nội dung như sau : “Kính gởi ông …/ Chúng tôi đã nhận được hai truyện ngắn của ông gởi đến. Trong số này, chúng tôi sẽ in truyện ngắn : 'Con nai nhỏ trên đoạn đường gian nan'. Riêng truyện ngắn 'Con thằn lằn' không in được, vì bị Bộ Hốt cắt đục(1) cho là có sai phạm/ Chân thành cảm ơn sự cộng tác của ông. Kính chúc ông sức khoẻ và tiếp tục có nhiều sáng tác mới/ Ký tên : LÊ NGỘ CHÂU, Chủ nhiệm Tạp chí Bách Khoa”.

Thật khó tưởng tượng nổi cảm giác một cậu bé học trò mới tập tành viết lách khi nhận được những lời lẽ trân trọng bằng chính nét bút của Chủ nhiệm một tạp chí nghiên cứu - lý luận - sáng tác uy tín bậc nhất miền Nam. Đó là truyện ngắn đầu tay tôi được in với bút danh Tần Hoa và cũng là sáng tác duy nhất tôi được nhận nhuận bút ( với số tiền gần bằng một tháng lương công chức thời kỳ trước 1975).

Hơn 30 năm qua, dù cuộc sống với biết bao xáo trộn thăng trầm, đã không ít lần tôi phải gác bút để lo bươn chải chuyện áo cơm, thế nhưng cứ mỗi lúc tình cờ tìm gặp và đọc lại lá thư của ông Chủ nhiệm Bách Khoa trong những ngăn kéo cũ, tự nhiên một khát vọng nào đó của tuổi trẻ còn lẩn khuất ở trái tim bỗng cháy bùng lên dữ dội.

Dĩ nhiên lá thư nói trên, không thể làm cho tôi lập tức trở thành nhà văn. Nó cũng không làm cho tuổi trẻ tôi xấu hoặc tốt hơn người khác. Nhưng chắc chắn ký ức của tôi sẽ nghèo đi rất nhiều nếu thiếu mất một kỷ niệm tuyệt vời như vậy. Điều rất lạ, cho đến mãi về sau, dù đã in được nhiều đầu sách và thường xuyên cộng tác trên nhiều mặt báo cả nước, tôi vẫn chưa từng nhận được một lá thư hoặc một lời nói động viên nào từ các nhà xuất bản hoặc các ông chủ bút trân trọng như vậy.

Ông Lê Ngộ Châu sinh ngày 30-12-1922 tại làng Phú Tài, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam. Trước khi sáng lập và làm chủ nhiệm kiêm chủ bút tạp chí Bách Khoa, ông từng làm hiệu trưởng một trường trung học ở Hà Nội (1951). Trước 1975, toà soạn Bách Khoa đặt tại nhà riêng của bà Châu ( Nghiêm Ngọc Huân), số 160 Phan Đình Phùng (nay là Nguyễn Đình Chiểu quận 3 TP HCM)- là một địa chỉ rất quen thuộc của văn đàn thường được các nhà nghiên cứu, học giả, nhà văn, nhà biên dịch tên tuổi lui tới cộng tác như : Á Nam Trần Tuấn Khải (1895-1983), Bình Nguyên Lộc (1914-1988), Bùi Giáng (1926-1998), Đông Hồ (1906-1969), Giản Chi (1904...), Hoàng Xuân Hãn (1908-1996), hoạ sĩ Nguyễn Gia Trí (1908-1993), Nguyễn Văn Xuân (1921...), Phạm Ngọc Thảo (1922-1965), Quách Tấn (1910-1992), Trần Văn Khê (1920...), Võ Hồng (1921-... ), Vương Hồng Sển (1902-1996),v.v...

Học giả Nguyễn Hiến Lê (1912-1984) đánh giá: "Trong lịch sử báo chí của nước nhà, tờ Bách Khoa có một vị trí đặc biệt. Không nhận trợ cấp của chính quyền, không ủng hộ chính quyền mà sống được 18 năm từ 1957 đến năm 1975 bằng tờ Nam Phong, có uy tín tập hợp được nhiều cây bút giá trị như tờ Nam Phong, trước sau các cộng tác viên được khoảng 100 người". (Hồi ký, tr. 145)

Nhà văn Vũ Hạnh (lúc này còn có bút danh Cô Phương Thảo) trong lúc làm cán bộ kháng chiền hoạt động nội thành đã "chọn tạp chí Bách Khoa làm mảnh đất chính cho việc cầm bút". Nhà văn Nguyễn văn Xuân đánh giá ông Lê Ngộ Châu là người làm báo đứng đắn nhất của làng báo miền Nam.

Qua 426 kỳ báo của Bách Khoa, mỗi kỳ chỉ in một truyện ngắn (hoặc truyện dài nhiều kỳ), nhưng hầu như nhiều cây bút thành danh sau này tại miền Nam đều xuất hiện sáng tác đầu tay nơi đây. Trong đó, có thể kể những nhà văn tên tuổi đã xuất thân từ “lò” Bách Khoa như : Nguyễn thị Hoàng, Y Uyên, Hoàng Ngọc Tuấn...

Vào cuối tháng 9 hồi năm ngoái (2006), nhà báo Lê Ngộ Châu đã vĩnh viễn ra đi. Thời điểm đó, do tình hình thiên tai gây thiệt hại nặng nề trên nhiều tỉnh miền Trung, nên tang lễ của ông ít người chú ý. Tuy nhiên, với những gì ông đã làm được với tạp chí Bách Khoa, chắc chắn sẽ còn được nhớ mãi, bởi điều đó đã để lại sự đóng góp to lớn cho một giai đoạn phát triển của sự nghiệp văn nghệ và báo chí nước nhà.

15.05.2007
Ghi chú:

(1) Bộ Hốt cắt đục :lúc này báo chí thường dùng từ này để ám chỉ Bộ kiểm duyệt

*****

Người điều hành tạp chí Bách Khoa (Đặng Tiến)

     
Nhà báo Lê Ngộ Châu, điều hành tạp chí
Bách Khoa tại Sài Gòn trước 1975, đã qua đời tại Thành phố HCM, ngày 24 tháng 9 vừa qua, thọ 83 tuổi.

Ít người biết đến tên Lê Ngộ Châu vì ông không viết sách, viết báo, chỉ âm thần phụ trách tòa soạn tạp chí Bách Khoa trong non hai mươi năm. Nhưng đa số những người làm văn học tại Miền Nam trước đây đều biết và quý mến, thậm chí chịu ơn ông dẫn dắt. Muốn hiểu tình cảm sâu đậm đó, phải biết Bách Khoa không những là tạp chí có đời sống lâu dài nhất (1957-1975), mà còn có những đóng góp lớn lao cho đời sống văn hóa Miền Nam thời đó.

Nhà văn Võ Phiến là người hợp tác chặt chẽ với Bách Khoa suốt thời gian này, đã nhận định chính xác :

« Bảo tờ Bách Khoa thành công là không phải chỉ nghĩ đến cái tuổi thọ của nó mà thôi. Tuổi thọ dắt theo một số ưu điểm khác. Người ta nhận thầy Bách Khoa qui tụ được đông đảo cây bút thuộc nhiều thế hệ kế tiếp nhau ; nó phản ảnh các chuyển biến của văn học qua nhiều giai đoạn; nó lưu lại một khối lượng bài vở lớn lao và giá trị, một kho tài liệu cho việc tìm hiểu cuộc sống của Miền Nam trên nhiều phương diện : kinh tế, văn hóa, chính trị v.v… Trên Bách Khoa không phải chỉ có thơ văn, mà có cả những khảo luận về văn học, sử học, ngữ học, triết học, tôn giáo, hội họa, âm nhạc… ; như thế không những trên Bách Khoa có những tìm tòi về nguồn gốc dân tộc, về các vấn đề của văn học cổ điển nước nhà chẳng hạn, mà còn liên tiếp có những giới thiệu các trào lưu tư tưởng Âu Tây mới nhất lúc bấy giờ : tiểu-thuyết-mới, hiện tượng học, cơ cấu luận v.v….

Cũng như tờ Văn, Bách Khoa là một tạp chí dung hòa rộng rãi mọi khuynh hướng.

Không có chủ trương « văn nghệ cách mạng » cũng không chủ trương « vượt thời gian », nó đăng bài của các lão thi sĩ tiền bối Đông Hồ, Quách Tấn, Vũ Hoàng Chương, lẫn truyện của Thanh Tâm Tuyền, Trùng Dương… Về mặt chính trị, sức dung hòa của nó khiến có lần Nguyên Sa nói đùa : Bách Khoa là một vùng xôi đậu. Nó đón nhận cả Nguyễn văn Trung, Nguyễn Ngọc Lan, Vũ Hạnh, lẫn Võ Phiến, Vũ Bảo… » (Văn học Miền Nam, Tổng Quan, 2000, tr. 239).

Nguyên Sa dùng chữ « xôi đậu » không nhất thiết là nói đùa. Ở một nơi khác, ông có viết « Bách Khoa với đời sống lâu dài không bị xếp vào hàng ngũ báo nhà nước » (Bách Khoa, số kỷ niệm 14 năm, 15-1-1971). Lời này bổ sung cho lời kia, và nói lên một sự thật kỳ lạ : Bách Khoa, nguyên ủy là của hội Văn Hóa Bình Dân, một hội đoàn trực thuộc văn phòng chính trị của Ngô Đình Nhu, do Huỳnh văn Lang chủ trì ; hội này cai quản những trường Bách Khoa Bình Dân, do đó có tên báo Bách Khoa, còn gọi là Bách Khoa Bình Dân.

Huỳnh văn Lang là bí thư Liên Kỳ Nam Bắc Việt Nam của đảng Cần Lao mà Ngô Đình Nhu làm tổng bí thư. Năm đầu, 1957, ông Lang điều khiển tờ báo, viết bài về kinh tế khi Phạm ngọc Thảo viết về quân sự, chính trị ; 1958 ông Lang đi tu nghiệp ở Mỹ, giao Bách Khoa cho Lê Ngộ Châu điều hành ; năm 1963 ông Lang bị bắt vì tội kinh tài cho chế độ Diệm, thì Lê Ngộ Châu tiếp tục nhiệm vụ, anh em thường gọi là Lê Châu. Nhưng báo vẫn đứng tên Huỳnh văn Lang cho đến tháng 2-1965, báo phải đổi tư cách pháp nhân, lấy tên Bách Khoa Thời Đại, do Lê Ngộ Châu đứng tên chủ nhiệm, và đến tháng 1-1970, lấy lại tên Bách Khoa.

Với gốc gác như vậy mà Bách Khoa được xem như là báo « xôi đậu », không bị xếp vào hàng ngũ «báo nhà nước» như Nguyên Sa ghi lại, và đóng góp lớn lao với đời sống văn hóa như Võ Phiến nhận định, là nhờ công lèo lái của Lê Châu.

Nguyên Sa trong bài báo đã dẫn, đã mô tả một buổi họp tòa soạn, tại Ngân Hàng Quốc Gia, khoảng 1957: «Bàn cãi về tờ Bách Khoa đã diễn ra sôi nổi. Lê Châu mặt trắng ngồi lặng lẽ, ít nói, hiền hòa. Thỉnh thoảng anh cất lời, toàn những lời nhẹ nhàng, vừa phải, nghiêm túc, không gây sóng gió nào». Đúng là hình ảnh Lê Châu. Về mặt ứng xử hằng ngày, thì Vũ Hạnh có lần tập Kiều: «Ở ăn thì nết cũng hay, ra điều ràng buộc thì tay cũng già». Đúng là Lê Châu.

Nhờ đức tính kín đáo, hòa nhã, Lê Châu đã tập hợp không những trên mặt báo nhiều khuôn mặt khác biệt, thậm chí trái ngược về hoàn cảnh, tính tình lẫn chính kiến, mà còn quy nạp được nhiều bè bạn đến từ những chân trời khác nhau, trong đời sống cụ thể hằng ngày.

Khi được tin Lê Châu mất, tôi có điện thư cho nhà văn Trần Hoài Thư, anh trả lời là đã được Lữ Quỳnh điện thoại thông báo: cả hai cùng lò Bách Khoa. Anh kể : mình là quân nhân, từ Cao Nguyên về Sài Gòn, hẹn với người yêu, vốn là độc giả hâm mộ, từ Lục Tỉnh lên, tại tòa soạn Bách Khoa, 160 Phan đình Phùng. Sau đó hai người thành vợ thành chồng. Trụ sở Bách Khoa là nơi hẹn và là hộp thư; chuyện Trần Hoài Thư, lúc ấy dường như còn ký Trần Quý Sách, là chuyện tình chính đáng, còn những quan hệ linh tinh, bay bướm của các nhà văn, nam và nữ, thì hằng hà sa số. Nhưng Lê Châu không bao giờ kể.

Bây giờ thì anh vĩnh viễn im lặng.

Với nhiều bạn bè, dù là thân thuộc, Lê Châu vẫn là niềm bí ẩn lớn lao giữa cơn gió bụi của thời đại.

Đặng Tiến
Orleans, 27/9/2006