Cửu bình - Bài bình luận số 9 (Đại Kỷ Nguyên)

Bạn đánh giá:  / 1
DỡHay 
Chọn cỡ chữ

Bài bình luận số 9

Bản tính lưu manh của Đảng Cộng Sản Trung Quốc


Cảnh sát đang bắt học viên Pháp Luân Công,
những người đang kháng cáo ôn hòa tại quảng trường
Thiên An Môn ngày11/5/2000 (AFP/Getty Images)

Lời mở đầu

Cuộc vận động chủ nghĩa cộng sản mà ồn ào hơn một thế kỷ chỉ mang lại cho nhân loại chiến tranh, nghèo khổ, đẫm máu và chuyên chế. Với sự sụp đổ của Liên Bang Sô Viết và các Đảng Cộng Sản Đông Âu, vở kịch tai hại và tàn bạo này cuối cùng đã bước sang màn chót vào cuối thế kỷ vừa qua. Không một ai, từ thường dân đến Tổng bí thư Đảng, còn tin vào những lời ma quỷ của chủ nghĩa Cộng Sản nữa.

Chính quyền của Đảng cộng sản ra đời không phải “theo ý trời” (quân quyền thần thụ) [1] cũng không phải từ bầu cử dân chủ. Ngày nay, khi niềm tin tưởng triệt để vào sự sinh tồn của nó đã bị hủy diệt thì tính hợp pháp của sự chấp chính này đang đối diện với một thử thách chưa từng có trong lịch sử.

Đảng cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) đã không muốn tuân theo trào lưu lịch sử mà tự động thoái xuất khỏi võ đài lịch sử. Thay vào đó, nó sử dụng các loại thủ đoạn lưu manh đã được hình thành trong nhiều thập niên qua các cuộc vận động chính trị để bắt đầu lại một vòng tìm kiếm tính hợp pháp, và để hồi sinh sự tranh đấu điên loạn của nó.

Các chính sách cải cách và cởi mở của Đảng cộng sản Trung Quốc che đậy một ý định tuyệt vọng là duy trì lợi ích tập đoàn và chính quyền độc tài của nó. Dù rằng bị trói buộc chặt chẽ, các thành quả kinh tế vẫn cứ đạt được bởi nỗ lực của nhân dân Trung Quốc trong 20 năm qua, tuy vậy vẫn không thuyết phục được ĐCSTQ buông con dao đồ tể của nó xuống. Thay vào đó, ĐCSTQ đã ăn cắp các thành quả này và sử dụng chúng để chứng thực việc nắm chính quyền của nó là hợp pháp, làm cho các hành động lưu manh từ trước đến nay của nó còn giả dối và lầm lạc hơn. Điều đáng sợ hơn là ĐCSTQ đang toàn lực hủy diệt nền tảng đạo đức của toàn thể dân tộc, cố gắng biến đổi mỗi một công dân Trung Quốc, trở thành các kẻ lưu manh ở mức độ khác nhau để tạo nên một hoàn cảnh sinh tồn mà “thăng tiến với thời gian” cho ĐCSTQ.

Vào thời điểm lịch sử hôm nay, đặc biệt quan trọng cho chúng ta hiểu được tường tận tại sao Đảng cộng sản lại hành động giống như những tên lưu manh, và cho chúng ta nhận diện cái bản tính lưu manh của nó, có như vậy đất nước Trung Quốc mới có thể đạt được ổn định và hòa bình lâu dài, bước vào một thời đại không có Đảng cộng sản càng sớm càng tốt, và xây dựng một tương lai huy hoàng của một đất nước đã được hồi phục.

I. Bản chất lưu manh của Đảng Cộng Sản từ xưa đến nay không thay đổi

1. Sự cải cách của Đảng Cộng Sản là cho ai?

Trong lịch sử , cứ mỗi lần Đảng cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) gặp phải nguy cơ nó sẽ biểu lộ một số dấu hiệu cải tiến, làm mê hoặc người dân mà hình thành những ảo tưởng về ĐCSTQ. Nhưng không một ngoại lệ, các ảo tưởng đã tan vỡ từng lần, từng lần một. Ngày nay ĐCSTQ đang theo đuổi các lợi ích ngắn hạn nhằm trình diễn một màn thịnh vượng kinh tế để một lần nữa thuyết phục người dân tin vào các ảo tưởng của Đảng Cộng Sản. Tuy nhiên, những xung đột căn bản giữa lợi ích của bản thân Đảng cộng sản, với lợi ích của quốc gia dân tộc đã quyết định rằng sự thịnh vượng giả tạo này sẽ không kéo dài lâu nữa. “Sự cải cách” mà ĐCSTQ đã hứa hẹn chỉ có một mục đích: duy trì sự thống trị của Đảng Cộng Sản Trung Quốc. Đó là một cải cách yếu kém khập khiễng, một thay đổi trên bề mặt chứ không phải bản chất. Nằm bên dưới của sự phát triển khập khiễng là đang tiềm ẩn một nguy cơ to lớn của xã hội. Một khi nguy cơ bùng nổ, quốc gia và dân tộc một lần nữa sẽ gặp khổ nạn.

Với sự thay đổi lãnh tụ, thế hệ lãnh đạo mới của ĐCSTQ không có phần trong cuộc cách mạng cộng sản thời xưa, bởi thế sẽ có ít uy tín và ít tín nhiệm hơn trong việc điều hành quốc gia. Giữa cơn nguy cơ về tính cách hợp pháp của nó, việc bảo vệ lợi ích Đảng của ĐCSTQ đã trở thành một bảo đảm căn bản càng ngày càng tăng nhằm duy trì quyền lợi của những cá nhân trong nội bộ của ĐCSTQ. Ích kỷ mà không kiềm chế được là bản tính của Đảng cộng sản . Hy vọng vào một Đảng như vậy mà có thể hiến dâng chính nó để phát triển quốc gia một cách hòa bình thì chỉ là một mơ tưởng hão huyền.

Chúng ta hãy xem tờ Nhân dân nhật báo, cái loa của ĐCSTQ, đã nói gì trên trang đầu vào ngày 12/7/2004: “Những phương pháp biện chứng trong lịch sử đã dạy cho những người của ĐCSTQ điều sau đây: Điều nên đổi thì tất phải thay đổi, nếu không, suy đồi sẽ theo sau. Điều gì không nên đổi thì quyết không thể thay đổi, nếu không, nó sẽ dẫn đến tự huỷ diệt.”

Cái gì cần phải giữ không đổi? Tờ Nhân Dân nhật báo giải thích như thế này: “Đường lối cơ bản của Đảng là 'một trung tâm, và hai điểm cơ bản' phải kéo dài vững chắc trong trăm năm không một dao động”[2]. Người ta không nhất thiết phải hiểu cái gọi là “trung tâm” và “điểm cơ bản” thực ra là cái gì, song mọi người đều biết rằng cái quyết tâm của tà linh cộng sản là duy trì lợi ích tập thể, và sự chuyên chế độc tài sẽ không bao giờ thay đổi. Chủ nghĩa cộng sản đã bị thất bại trên toàn cầu, đang bị sụp đổ đến độ càng ngày càng suy tàn. Tuy nhiên, trong khi vẫy vùng hấp hối thì một thứ gì càng thối nát lại càng có tính tàn phá. Bàn luận về cải biến dân chủ với Đảng Cộng Sản chẳng khác gì yêu cầu cọp dữ thay bộ da của nó.

2.Không có Đảng Cộng Sản thì Trung Quốc đó sẽ làm thế nào ?

Trong khi Đảng Cộng Sản đang suy bại, người ta bất ngờ khám phá ra rằng, qua nhiều thập niên, tà linh phụ thể của Đảng cộng sản với những thủ đoạn lưu manh thiên biến vạn hóa đã tiêm nhiễm những yếu tố tà ác của nó vào trong mọi khía cạnh đời sống của người dân.

Khi Mao Trạch Đông chết, nhiều người đã khóc cay đắng trước tấm hình của Mao, tự hỏi “Không có Mao chủ tịch, Trung Quốc sẽ làm thế nào?” Mỉa mai thay, 20 năm sau, khi Đảng Cộng Sản đã mất tính hợp pháp để nắm chính quyền quốc gia của nó, Đảng Cộng Sản Trung Quốc (ĐCSTQ) đã cho lan rộng một đợt tuyên truyền mới làm người dân một lần nữa lại tự hỏi một cách lo âu: “Nước Trung Hoa sẽ làm được gì nếu không có Đảng Cộng Sản?”

Trên thực tế, sự khống chế chính trị lan tràn khắp nơi của ĐCSTQ đã khắc sâu vào nền văn hóa hiện tại và tư tưởng người Trung Quốc đến nỗi ngay cả chuẩn mực mà người Trung Quốc đánh giá ĐCSTQ đều có dấu ấn của ĐCSTQ hoặc xuất phát từ ĐCSTQ. Nếu trong quá khứ ĐCSTQ khống chế dân chúng bằng cách tiêm nhiễm những yếu tố của nó vào họ, thì giờ đây ĐCSTQ đã đến lúc phải gặt hái những gì nó gieo mầm, bởi vì những điều thấm nhuần trong tâm trí người dân đã được tiêu hóa và hấp thụ vào từng tế bào của họ. Người dân suy nghĩ dựa theo lý luận của ĐCSTQ, và tự đặt mình vào vị trí của ĐCSTQ mà phán xét đúng sai. Nói về việc ĐCSTQ thảm sát các sinh viên biểu tình ngày 4/6/1989, có người bảo “Nếu tôi là Đặng Tiểu Bình tôi cũng sẽ dập tắt cuộc nổi loạn bằng xe tăng”. Trong cuộc đàn áp Pháp Luân Công, có người hùa theo rằng “Nếu tôi là Giang Trạch Dân, tôi cũng sẽ tiêu diệt Pháp Luân Công.” Về việc cấm tự do ngôn luận, có người bảo rằng “Nếu tôi là Đảng cộng sản tôi cũng làm như vậy.” Chân lý và lương tri không còn nữa, chỉ còn lại lô-gic của Đảng cộng sản. Đây là một trong những thủ đoạn độc ác và ghê tởm nhất của ĐCSTQ mà đã được ĐCSTQ sử dụng vì bản tính lưu manh của nó. Khi nào những độc tố tinh thần mà ĐCSTQ đã tiêm nhiễm vào vẫn còn trong đầu óc người ta, thì ĐCSTQ càng có cơ hội tiếp tục thâu đoạt năng lượng để duy trì sinh mạng lưu manh của nó.

“Nước Trung Quốc sẽ làm được gì nếu không có Đảng Cộng Sản?” Lối suy nghĩ này phù hợp chính xác với mục đích của ĐCSTQ là làm cho người dân suy luận theo lô-gic của nó.

Dân tộc Trung Hoa đã trải qua 5000 năm lịch sử văn minh của họ mà không có Đảng cộng sản. Thực tế, không một quốc gia nào trên thế giới lại ngừng tiến triển xã hội chỉ vì sự sụp đổ của một chế độ nào đó. Tuy nhiên sau hàng chục thập niên dưới sự thống trị của ĐCSTQ, người ta đã không còn nhận ra được sự thực này. Sự tuyên truyền lâu dài của ĐCSTQ đã rèn luyện người dân nghĩ Đảng như là mẹ đẻ của họ. Chính trị của ĐCSTQ có mặt ở khắp nơi đã khuất phục người ta, làm cho họ không thể nhận thức được cuộc sống không có Đảng cộng sản sẽ ra sao.

Không có Mao chủ tịch, Trung Quốc đã không đổ vỡ; vậy không có Đảng cộng sản thì nước Trung Hoa sụp đổ hay sao? !

3. Ai là nguồn thật sự gây rối loạn?

Rất nhiều người biết và không thích những hành vi lưu manh của Đảng Cộng Sản Trung Quốc (ĐCSTQ), và ghê tởm những thứ đấu tranh và dối trá của nó. Nhưng đồng thời họ lại sợ hãi những cuộc vận động chính trị của ĐCSTQ và những bạo động gây rối loạn, rồi sợ rằng sự rối loạn một lần nữa sẽ viếng thăm Trung Quốc. Bởi thế, mỗi khi ĐCSTQ hăm dọa người dân với chữ “rối loạn”; người dân liền im lặng chấp nhận sự thống trị của ĐCSTQ, cảm thấy bất lực khi đối diện với quyền lực chuyên chế của ĐCSTQ.

Trên thực tế, với hàng triệu quân đội và cảnh sát võ trang, ĐCSTQ là nguồn rối loạn thật sự. Những người dân thường không tài nào gây nên hoặc có khả năng khởi xướng rối loạn cho quốc gia. Chỉ có ĐCSTQ thoái hóa mới nhẫn tâm mang đất nước đến rối loạn qua bất cứ dấu hiệu thay đổi nào. “Ổn định quan trọng hơn tất cả mọi thứ” và “Nhổ tận gốc mầm mống của tất cả các yếu tố nguyên nhân làm bất ổn định” — các khẩu hiệu này đã trở thành nền móng lý luận mà ĐCSTQ dùng để đàn áp người dân. Vậy ai là nguyên nhân lớn nhất tạo ra sự bất ổn định tại Trung Quốc? Chẳng phải là ĐCSTQ, một chính quyền chuyên dùng bạo lực? ĐCSTQ là chủ mưu của rối loạn, và sau đó đến lượt nó lại dùng chính sự rối loạn nó tạo ra ấy để ép buộc người dân. Những bọn lưu manh xưa nay đều làm như thế cả .

II. Phát triển kinh tế trở thành tế phẩm của Đảng Cộng Sản Trung Quốc

1. Lạm dụng danh nghiã để cướp đoạt những thành quả từ công khó nhọc của nhân dân

Đảng cộng sản Trung Quốc(ĐCSTQ) tự nhận “tính hợp pháp” của nó do từ sự phát triển kinh tế hơn 20 năm qua. Tuy nhiên trên thực tế sự phát triển này đã dần dần đạt được nhờ nhân dân Trung Quốc lao động, sau khi những gông cùm của ĐCSTQ được nới lỏng một chút, do đó sự phát triển kinh tế không liên quan gì đến công lao của chính ĐCSTQ. Dầu vậy, ĐCSTQ đã tuyên bố là sự phát triển kinh tế này là do thành tựu của chính nó, và yêu cầu người dân phải biết ơn Đảng, như thể là sẽ không có một phát triển nào nếu không có ĐCSTQ. Trong thực tế tất cả chúng ta đều biết rằng có nhiều quốc gia phi cộng sản, từ lâu đã đạt được việc tăng trưởng kinh tế nhanh chóng hơn nữa.

Những thể tháo gia đạt được huy chương vàng tại thế vận hội Olympic đã bị đòi hỏi phải cám ơn Đảng Cộng Sản. Đảng không ngần ngại sử dụng hình ảnh bày đặt “thể thao đại quốc ” để tự ca tụng mình. Trung Quốc đã trải qua nhiều khổ nạn trong bệnh dịch SARS, nhưng tờ Nhân Dân nhật báo lại nói rằng Trung Quốc đã chiến thắng vi khuẩn “dựa theo lý luận cơ bản, đường lối cơ bản, cương lĩnh cơ bản và kinh nghiệm cơ bản của Đảng”. Việc phóng vệ tinh Thần Châu 5 của Trung Quốc đã được thực hiện bởi các chuyên gia khoa học và kỹ thuật không gian, nhưng ĐCSTQ đã lấy đó làm bằng chứng để chứng minh rằng chỉ có ĐCSTQ mới có khả năng hướng dẫn người dân Trung Quốc bước vào hàng các cường quốc trên thế giới. Sự kiện Trung Quốc làm chủ tổ chức Thế Vận Hội Olympic năm 2008, là thực ra các nước Tây phương ban cho Trung Quốc cái “cành Ô-liu” (biểu trưng của đề nghị hòa bình) để khuyến khích Trung Quốc cải thiện tình hình nhân quyền, nhưng ĐCSTQ dùng điều này để nâng cao những tuyên bố về tính hợp pháp của nó, và để dùng như một cái cớ để trấn áp người dân Trung Quốc. “Tiềm lực thị trường lớn mạnh” của Trung Quốc có được nhờ vào các nhà đầu tư ngoại quốc, bắt nguồn từ năng lực tiêu thụ của 1.3 tỷ người dân của Trung Quốc. ĐCSTQ đã chiếm đoạt tiềm lực này, và rồi biến nó thành võ khí sắc bén dùng để làm áp lực các xã hội phương Tây phải hợp tác với sự thống trị của ĐCSTQ.

Đảng cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) qui tội tất cả những sự việc xấu vào các lực lượng phản động và các người có dụng tâm xấu làm, trong khi đó nhận những sự việc tốt về cho ban lãnh đạo của Đảng. ĐCSTQ sử dụng mỗi một thành quả để khiến cho việc tuyên bố về tính hợp pháp trong sự thống trị của nó có sức thuyết phục hơn. Ngay cả những việc làm sai mà ĐCSTQ phạm phải có thể được biến thành cái gì đó “tốt” để phục vụ các mục đích của nó. Ví dụ khi sự thật về vấn đề lan tràn khủng khiếp của bệnh AIDS không còn che dấu được nữa, ĐCSTQ đột nhiên chế tạo ra một bộ mặt mới. Chúng khéo léo vận chuyển bộ máy tuyên truyền, sử dụng tất cả mọi người từ minh tinh nổi tiếng đến Tổng bí thư Đảng để tô vẽ chân dung ĐCSTQ, kẻ thủ phạm đầu sỏ, thành người tiêu diệt bệnh AIDS, người thách đấu với bệnh tật của nhân loại, và như là một điều may mắn cho bệnh nhân. Trong việc giải quyết những vấn đề liên quan tới sống chết nghiêm trọng như vậy, tất cả những gì ĐCSTQ có thể nghĩ đến là làm thế nào mà sử dụng vấn đề đó để tự ca ngợi mình. Chỉ có ĐCSTQ mới có khả năng hành động nhẫn tâm, lưu manh chiếm đoạt và hoàn toàn không kể gì đến mạng sống con người.

2. Việc làm ngắn hạn gây nên bất lợi kinh tế

Đối diện nghiêm trọng với “nguy cơ về tính hợp pháp”, ĐCSTQ đã thực hiện các chính sách cải cách và mở cửa vào thập niên 80 để duy trì sự thống trị của nó. Háo hức thành công nhanh chóng đã đặt Trung Quốc vào một thế bất lợi mà những nhà kinh tế học gọi là “tai họa cho kẻ đến muộn”.

Những khái niệm “tai họa cho kẻ đến muộn” hoặc là “lợi thế cho kẻ đến muộn”, mà một số các học giả đã gọi, là chỉ về sự kiện của các quốc gia lạc hậu, có nghĩa là sự phát triển được khởi công muộn, có thể bắt chước các nước tiến bộ trước, trong nhiều mặt. Có hai hình thức bắt chước: bắt chước hệ thống xã hội và bắt chước các mô hình kỹ thuật và công nghiệp. Thông thường bắt chước hệ thống xã hội là khó, vì cải tổ hệ thống có thể gây nguy hiểm đến quyền lợi tương lai của một số tập đoàn chính trị hay xã hội. Vì vậy các quốc gia lạc hậu có khuynh hướng bắt chước kỹ thuật của các nước tiên tiến. Mặc dầu bắt chước kỹ thuật có thể tạo nên phát triển kinh tế nhất thời, nhưng nó có thể dẫn đến nhiều may rủi tiềm ẩn hoặc ngay cả thất bại đối với mục tiêu phát triển dài hạn.

Đảng cộng sản Trung Quốc(ĐCSTQ) chính là đang đi theo con đường “tai họa cho kẻ đến muộn”, một con đường thất bại. Qua hai thập niên vừa rồi, “bắt chước kỹ thuật” của Trung Quốc đã thật sự dẫn đến một số thành tích, mà ĐCSTQ đã chiếm về phần mình, hầu để chứng minh “tính hợp pháp” của nó, và tiếp tục ngăn cản cải cách chính trị mà có lẽ sẽ làm hại tới lợi ích riêng của ĐCSTQ. Vì vậy, lợi ích lâu dài của quốc gia đã bị hy sinh.

3. Cái giá thảm thương phải trả cho sự phát triển kinh tế của Đảng Cộng Sản Trung Quốc

Trong khi Đảng Cộng sản Trung Quốc(ĐCSTQ) không ngừng khoe khoang về tiến bộ kinh tế của mình, thì trên thực tế, kinh tế Trung Quốc ngày nay sắp hạng trên thế giới còn thấp hơn thời của vua Càn Long (1711-1799) trong triều đại nhà Thanh. Trong thời vua Càn Long, GDP (Gross Domestic Products hay Tổng sản lượng quốc nội) của Trung Quốc được coi như bằng 51% của tổng số trên thế giới. Khi Tôn Trung Sơn thành lập nước Cộng hòa Trung Quốc (thời Quốc Dân Đảng) vào năm 1911, GDP của Trung Quốc bằng được khoảng 27% của tổng số thế giới. Vào 1923, tỷ lệ phần trăm giảm xuống, nhưng vẫn còn được 12%. Đến 1949, khi ĐCSTQ nắm chính quyền, tỷ lệ xuống đến 5.7%, nhưng đến 2003, GDP của Trung Quốc giảm xuống ít hơn 4% tổng số của thế giới. Tương phản với sự tụt dốc kinh tế trong thời kỳ Quốc Dân Đảng vì phải trải qua nhiều chục năm chiến tranh, thì sự tụt dốc kinh tế liên tục trong thời kỳ ĐCSTQ nắm quyền lại xảy ra trong thời hòa bình.

Ngày nay, để hợp pháp hóa quyền lực của mình, ĐCSTQ hăm hở muốn đạt thành công nhanh chóng và những lợi ích tức thời. Sự cải cách kinh tế khập khiễng mà ĐCSTQ đã phát động hầu để bảo vệ lợi ích riêng tư cho chính nó, là một tổn thất lớn cho quốc gia. Sự phát triển kinh tế nhanh chóng trong 20 năm qua, tới một phạm vi rộng, được xây dựng trên sự lạm dụng hoặc ngay cả lãng phí các nguồn tài nguyên, và đã đạt được với cái giá của sự tàn phá môi trường. Một phần lớn GDP của Trung Quốc đạt được bằng cách hy sinh những cơ hội của các thế hệ tương lai. Vào 2003, Trung Quốc đã đóng góp dưới 4% cho kinh tế thế giới, trong khi đó mức tiêu thụ về sắt, xi măng và những vật dụng khác lên đến 1/3 tổng số tiêu thụ toàn cầu [3].

Từ thập niên 1980 đến cuối thập niên 1990, những vùng đất bị bỏ hoang ở Trung Quốc tăng từ 1.000 đến 2.460 ki-lô mét vuông (386 đến 950 dặm vuông). Đất trồng trọt cho mỗi đầu người cũng giảm sút từ 2 mẫu vào năm 1980 đến 1,43 mẫu vào năm 2003 [4]. Phong trào lớn mạnh thu hồi/giải tỏa đất đai rầm rộ để phát triển, đã làm Trung Quốc mất 100 triệu mẫu đất để trồng trọt trong vòng chỉ vài năm. Tuy nhiên, thực tế tỷ lệ đất thu hồi được đem sử dụng chỉ là 43%. Hiện thời, tổng số lượng nước phế thải là 43,95 triệu tấn, vượt quá 82% dung lượng của môi trường. Trong bảy hệ thống sông ngòi chính, thì 40,9% lượng nước không thích hợp để dùng cho người và súc vật uống. 75% mương hồ bị ô nhiễm nên đã sinh ra các mức độ phú dưỡng rong rêu, chất bẩn trong nước khác nhau[5]. Chưa bao giờ sự xung đột giữa người và sự Tự Nhiên tại Trung Quốc lại căng thẳng như ngày nay. Trung Quốc hay thế giới không tài nào cưỡng lại sự phát triển không lành mạnh như vậy. Bị che mắt bởi hào nhoáng bề mặt của các cao ốc và biệt thự, người dân không biết đến sự khủng hoảng sinh thái đang treo lơ lửng. Tuy nhiên, hễ đến lúc luật tự nhiên trừng phạt nhân loại, nó sẽ mang đến những hậu quả thảm khốc cho nước Trung Hoa.

So sánh với nước Nga từ sau khi rũ bỏ chủ nghiã cộng sản, đã thực hiện cải cách kinh tế và chính trị cùng một lúc. Sau khi trải qua một khoảng thời gian khó khăn ngắn, Nga bắt đầu phát triển nhanh chóng. Từ năm 1999 đến năm 2003, GDP của Nga đã tăng tổng số được 29,9%. Mức sống người dân cũng được cải thiện đáng kể. Giới thương mại Tây phương đã không những bắt đầu bàn luận “hiện tượng kinh tế Nga”, mà còn bắt đầu đầu tư vào Nga —một thị trường nóng hổi mới— trên phạm vi rộng. Thứ hạng của Nga trong các quốc gia hấp dẫn nhất để đầu tư, đã nhảy từ vị trí thứ 17 vào năm 2002 đến vị trí thứ 8 trong năm 2003, lần đầu tiên trở thành một trong 10 nước hấp dẫn nhất trên thế giới để đầu tư.

Ngay cả Ấn độ, một quốc gia mà trong tư tưởng của hầu hết người dân Trung Quốc là nghèo nàn và đầy những xung đột sắc tộc, đã hưởng được sự phát triển vượt bực và đạt được thành tựu phát triển kinh tế với tỷ lệ là 7- 8% hằng năm từ khi cải cách kinh tế vào năm 1991. Ấn Độ có hệ thống pháp luật khá đầy đủ về kinh tế thị trường, một hệ thống tài chính dồi dào, một hệ thống dân chủ phát triển tốt, tâm thái người dân ổn định. Quốc gia này đã được cộng đồng quốc tế công nhận là một nước có tiềm lực phát triển lớn.

Tương phản lại, ĐCSTQ, chỉ tham gia vào cải cách kinh tế mà không có cải cách chính trị. Bộ mặt kinh tế giả tạo nở rộ nhất thời đã cản trở “sự phát triển các hệ thống xã hội” tự nhiên. Chính sự cải cách không đầy đủ này đã gia tăng sự mất cân bằng trong xã hội Trung Quốc và làm các mâu thuẫn xã hội càng thêm sâu sắc. Những lợi tức tài chính mà người dân đạt được lại không được các hệ thống xã hội ổn định bảo vệ. Hơn thế nữa, trong quá trình tư hữu hóa các tài sản quốc gia, những kẻ nắm quyền hành trong ĐCSTQ đã lợi dụng quyền thế để nhét đầy vào túi riêng của mình.

4. Đảng Cộng Sản Trung Quốc không ngừng gian lận nông dân

Đảng cộng sản Trung Quốc(ĐCSTQ) dựa vào nông dân để đoạt quyền lực. Những người nông dân trong các vùng Đảng Cộng Sản thống trị, đã cống hiến tất cả những gì họ sở hữu cho ĐCSTQ từ lúc nó mới phôi thai. Nhưng sau khi ĐCSTQ nắm quyền lực quốc gia, những người nông dân đã phải trải qua một sự phân biệt đối xử trầm trọng.

Sau khi ĐCSTQ thành lập chính quyền, nó đã sắp xếp một hệ thống vô cùng bất công: đó là hệ thống đăng ký cư trú. Hệ thống này ép buộc chia người dân thành 2 loại: nông dân và dân thành thị, tạo ra một sự chia rẽ vô lý và chống đối trong nội bộ quốc gia. Nông dân không có bảo hiểm sức khỏe, không có tiền trợ cấp thất nghiệp, không có tiền hưu trí và không được vay tiền ngân hàng. Người nông dân không những thuộc giai cấp bần cùng nhất tại Trung Quốc, mà cũng là giai cấp bị đánh thuế nặng nhất. Nông dân cần phải trả tiền cho quỹ tiết kiệm bắt buộc, quỹ trợ cấp xã hội, quỹ quản lý hành chánh, lệ phí giáo dục bổ xung, lệ phí kiểm soát sinh đẻ, lệ phí tổ chức và huấn luyện quân đội, lệ phí xây đường quốc gia và lệ phí bồi thường quân sự. Bên cạnh tất cả lệ phí này, họ còn phải bán một phần thóc lúa mà họ đã sản xuất theo một tỷ lệ cố định cho nhà nước như là một yêu cầu bắt buộc, và phải trả thuế nông nghiệp, thuế đất, thuế sản xuất vùng đặc biệt, thuế giết mổ và còn thêm vào nhiều thuế khác. Ngược lại dân cư thành thị không phải trả thuế và những lệ phí này.

Vào đầu năm 2004, Thủ tướng Ôn Gia Bảo đã phát hành “hồ sơ số 1” nói rằng nông thôn Trung Quốc đang đối diện với tình thế khó khăn nhất từ khi bắt đầu cải cách kinh tế vào năm 1978. Lợi tức của hầu hết nông dân đã không tăng hoặc ngay cả còn xuống dốc. Họ càng nghèo hơn, và sự cách biệt lợi tức giữa dân nông thôn và dân thành thị tiếp tục nới rộng ra.

Trong một lâm trường ở phía đông tỉnh Tứ Xuyên, nhà chức trách cấp trên đã chi ra 500 ngàn đồng yuan (khoảng 60.500 đô la Mỹ) cho một chương trình trồng lại rừng. Những người lãnh đạo lâm trường trước hết bỏ túi 200 ngàn đồng yuan, rồi mới phân phối 300 ngàn đồng yuan còn lại để trồng rừng. Nhưng mỗi khi qua mỗi một cấp quản lý, số tiền lại bị mất dần, cuối cùng chỉ còn lại một ít dành cho những nông dân trong vùng, những người mà thật sự trồng rừng. Chính quyền không cần phải lo lắng rằng những người nông dân sẽ từ chối làm việc vì ngân khoản không đủ. Những nông dân này quá nghèo đến nỗi họ phải làm việc với tiền công rất ít. Đây là một trong những lý do mà sản phẩm sản xuất tại Trung Quốc “made in China” lại rất rẻ.

5. Dùng lợi ích kinh tế để uy hiếp các nước Tây phương

Nhiều người tưởng rằng buôn bán với Trung Quốc sẽ thúc đẩy nhân quyền, tự do ngôn luận và cải cách dân chủ cho Trung Quốc. Sau hơn một thập niên, điều này đã được chứng minh rằng chỉ là mơ tưởng. Điển hình nhất chính là nguyên tắc làm ăn buôn bán ở Trung Quốc và các nước Tây phương. Sự công bằng và sáng tỏ tại các nước Tây phương được thay thế bởi những quan hệ riêng cá nhân, hối lộ và biển thủ ở Trung Quốc. Nhiều công ty Tây phương đã trở thành thủ phạm hàng đầu vì đã làm trầm trọng thêm sự thối nát của Trung Quốc. Một số công ty ngay cả còn giúp ĐCSTQ dấu diếm các vi phạm nhân quyền và đàn áp chính dân chúng của nó.

Đảng cộng sản Trung Quốc(ĐCSTQ) hành động như Mafia bằng cách chơi ván bài kinh tế trong chính sách đối ngoại. Hợp đồng chế tạo máy bay cho Trung Quốc sẽ được giao cho nước Pháp hay nước Mỹ thì còn tùy thuộc vào quốc gia nào có thể ngậm miệng về vấn đề nhân quyền của ĐCSTQ. Nhiều thương gia Tây phương và chính trị gia bị dẫn dắt và khống chế bởi lợi ích kinh tế từ Trung Quốc. Một số công ty kỹ thuật về thông tin từ Bắc Mỹ đã cung cấp các sản phẩm đặc biệt cho ĐCSTQ để ngăn chặn Internet. Để đi vào thị trường Trung Quốc, một số website Internet đã đồng ý tự kiểm duyệt và lọc đi tin tức mà ĐCSTQ không thích.

Căn cứ trên thống kê từ Bộ Thương Mại của Trung Quốc, vào cuối tháng 4 năm 2004, Trung Quốc đã thống kê được tổng cộng 990 tỉ đô la Mỹ, tiền đầu tư của ngoại quốc trong nhiều hợp đồng khác nhau. Đầu tư từ tiền vốn ngoại quốc đã có tác dụng 'truyền máu' mạnh mẽ cho nền kinh tế của ĐCSTQ. Nhưng trong quá trình 'truyền máu' này, sự đầu tư của ngoại quốc đã không mang các khái niệm của dân chủ, tự do và nhân quyền làm thành nguyên tắc cơ bản cho người dân Trung Quốc. Thay vào đó ĐCSTQ đã lợi dụng sự hợp tác "vô điều kiện" từ phía các nhà đầu tư ngoại quốc, chính quyền ngoại quốc và sự xu nịnh của vài quốc gia để tuyên truyền cho sự thống trị tư bản. Bằng cách lợi dụng sự thịnh vượng kinh tế trên bề mặt của Trung Quốc, các viên chức ĐCSTQ đã trở nên cực kỳ lão luyện trong việc cấu kết với các nhà buôn bán đầu tư để phân chia tài sản quốc gia và ngăn chặn cải cách chính trị.

III. Kỹ thuật tẩy não của Đảng Cộng Sản Trung Quốc: Từ “thô sơ” đến “tinh xảo”

Người ta thường nghe nói rằng: “Tôi biết trong quá khứ Đảng Cộng Sản Trung Quốc (ĐCSTQ) hay dối trá, nhưng lần này nó nói sự thật”. Mỉa mai thay, khi hồi tưởng lại, đây là câu mà người dân nói mỗi lần ĐCSTQ tạo ra sai lầm nghiêm trọng trong quá khứ. Điều này phản ảnh khả năng mà ĐCSTQ đạt được qua nhiều thập niên là dùng dối trá để lường gạt người dân.

Người ta đã thành lập một số kháng cự để chống lại những lời hoang ngôn quá mức của ĐCSTQ. Để đáp lại, sự tuyên truyền và bịa đặt của ĐCSTQ đã trở nên “tinh xảo” và “chuyên nghiệp” hơn. Tiến bộ từ những tuyên truyền theo kiểu khẩu hiệu trong quá khứ, những lời dối trá của Đảng cộng sản đã trở nên “trau chuốt” và “tinh xảo” hơn. Đặc biệt dưới tình trạng bưng bít tin tức mà ĐCSTQ đã dựng lên chung quanh Trung Quốc, nó bịa đặt những điều dựa trên một phần sự kiện để đánh lạc hướng công chúng, những điều mà ngay cả còn độc hại và dối trá hơn là những chuyện bịa đặt thông thường.

Chinascope (Trung Quốc Tụ Tiêu), một tờ báo tiếng Anh, có một bài viết vào tháng 10 năm 2004 phân tích những trường hợp mà ĐCSTQ đã sử dụng những cách thức chế tạo lời dối trá để che đậy sự thật. Khi vụ SARS bùng nổ tại Trung Quốc đại lục vào năm 2003, thế giới bên ngoài nghi ngờ Trung Quốc dấu diếm tin tức về bệnh dịch, tuy rằng ĐCSTQ đã nhiều lần chối bỏ để không thừa nhận nó. Để tìm hiểu ĐCSTQ có thành thật trong việc báo cáo bệnh SARS hay không, tác giả của bài viết đã đọc tất cả trên 400 báo cáo về vụ SARS từ lúc khởi đầu cho đến tháng 4 năm 2003 trên website Tân Hoa.

Những báo cáo này nói rằng: Ngay lúc SARS xuất hiện, chính quyền tại trung ương và các cấp địa phương đã huy động các chuyên gia kịp thời chữa bệnh cho các bệnh nhân và sau đó họ đã lành bệnh và được xuất viện. Đối phó với các thành phần gây rối kích động dân chúng đi mua sắm hàng hóa tích trữ để tránh đi ra ngoài phòng khi bệnh dịch lan tràn, chính quyền đã lập tức chận đứng tin đồn, và xúc tiến ngăn ngừa tin đồn lan rộng, vì vậy trật tự xã hội đã được ổn định trở lại. Mặc dầu một số ít các lực lượng chống Trung Quốc vẫn khăng khăng nghi ngờ chính quyền Trung Quốc che dấu sự thật, hầu hết các quốc gia khác và dân chúng không tin vào các tin đồn này. Hội chợ Giao dịch Thương mại Quảng Châu sắp tới sẽ có sự tham gia lớn nhất chưa từng có của các doanh nghiệp trên khắp thế giới. Khách du lịch từ nước ng̣̣oài khẳng định rằng du lịch đến Trung Quốc rất an toàn. Đặc biệt, các chuyên gia từ Hội Y Tế Thế Giới - WHO [những người đã bị lường gạt bởi ĐCSTQ], đã công bố rằng chính quyền Trung Quốc đã sẵn sàng cộng tác, và có biện pháp thích đáng để đối phó với SARS, vì vậy sẽ không có vấn đề gì. Các chuyên gia đã phê chuẩn cho tỉnh Quảng Đông được tiến hành mở Hội chợ (sau hơn 20 ngày trì hoãn) sau khi đã khảo sát vùng này.

Trên 400 bài viết này đã cho tác giả một ấn tượng rằng ĐCSTQ rất trung thực trong suốt bốn tháng này, đã hành động một cách có trách nhiệm để bảo vệ sức khỏe dân chúng, và đã làm cho mọi người tin rằng ĐCSTQ đã không che dấu bất cứ điều gì. Tuy nhiên, vào 20-4-2003, Văn Phòng Thông Tin của Hội Đồng Quốc Gia (Quốc vụ viện Tân văn) đã công bố trong buổi họp báo của họ rằng SARS đã thật sự lan tràn tại Trung Quốc, và như vậy thừa nhận gián tiếp rằng chính quyền đã che đậy bệnh dịch. Chỉ khi đó tác giả này mới thấy sự thật và hiểu các thủ đoạn lưu manh, lường gạt và “tiến cùng thời gian” mà ĐCSTQ đã sử dụng.

Trong cuộc tổng tuyển cử ở Đài loan, Đảng cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) sử dụng cùng một chiến thuật “trau chuốt” và “tinh xảo” như trên, để tung tin rằng bầu cử tổng thống sẽ dẫn đến các tai họa lớn như là tỷ lệ tự sát lên cao, thị trường chứng khoán sụp đổ, tăng trưởng “bệnh kỳ quặc” hay bệnh tâm thần, di dân ra khỏi đảo, gia đình bất hòa, thái độ bất cần đời, thị trường chứng khoán suy thoái, bắn giết bừa bãi, biểu tình và chống đối, bao vây dinh thự tổng thống, xã hội mất an ninh, trò hề chính trị, v.v… ĐCSTQ đã nhét đầy vào đầu người dân Trung Quốc Đại Lục với những luận điệu này từng ngày trong sự cố gắng hướng dẫn người dân để họ tin rằng tất cả những tai họa này sẽ là kết quả tệ hại của cuộc bầu cử, và Trung Quốc không bao giờ nên tổ chức bầu cử dân chủ.

Về vấn đề Pháp Luân Công, ĐCSTQ đem ra ngay cả các cách thức kỹ thuật tinh xảo hơn với lừa gạt mà được chế tạo để chụp mũ Pháp Luân Công. Những màn biểu diễn của ĐCSTQ nối tiếp nhau mà đến. Thảo nào mà quá nhiều người dân Trung Quốc bị lừa gạt. Sự tuyên truyền lưu manh của ĐCSTQ quá dối trá đến nỗi nạn nhân của nó đã mù quáng tin vào những lời dối trá và nghĩ rằng họ đã nắm chắc sự thật.

Sự tuyên truyền tẩy não của Đảng cộng sản Trung Quốc qua nhiều thập niên trong quá khứ đã biến đổi trở nên “tinh xảo” và “tỉ mỉ” trong việc lường gạt dối trá, mà là sự bành trướng tự nhiên của bản chất lưu manh.

IV. Ngụy trang nhân quyền của Đảng Cộng Sản Trung Quốc

1. Từ tranh giành dân chủ để đoạt quyền lực đến thống trị độc tài và ngụy trang nhân quyền

“Trong một quốc gia dân chủ, chủ quyền nên nằm trong tay người dân, đây là sự việc đi theo nguyên lý của Trời Đất. Nếu một quốc gia tuyên bố dân chủ, mà chủ quyền không thuộc về người dân, điều đó nhất định là không đi đúng đường, và chỉ có thể được coi là lệch hướng, và quốc gia này không phải là một quốc gia dân chủ… làm sao có được dân chủ mà không chấm dứt sự cai trị của Đảng và không có một cuộc bầu cử phổ thông? Trả lại nhân quyền cho nhân dân!”

Có phải trích dẫn trên là giọng điệu từ một bài viết của “kẻ thù nước ngoài” để đả kích Đảng cộng sản Trung Quốc chăng? Thực ra, tuyên bố trên là từ Tân Hoa Nhật Báo, tờ báo chính thức của ĐCSTQ, đăng ngày 27-9-1945.

Đảng cộng sản Trung Quốc(ĐCSTQ) từng tuyên bố ầm ỹ phải “tổng tuyển cử” và đòi hỏi “trả lại quyền lợi cho người dân”, nay lại xem “tổng tuyển cử” như là một sự cấm đoán, bởi vì nó đang nắm quyền lực. Những người dân được mệnh danh là “cai quản và làm chủ đất nước” không có bất cứ quyền hạn nào để tự quyết định cho chính họ. Không có ngôn từ nào thích hợp để mô tả bản tính lưu manh của Đảng Cộng Sản.

Nếu bạn cho rằng những gì đã xong rồi thì hãy để cho qua, và tà giáo Đảng cộng sản mà đã từng gieo rắc giết chóc và thống trị quốc gia bằng dối trá, nay sẽ lại tự cải tổ, đi theo thiện lành, và sẵn lòng “trả lại quyền lợi cho nhân dân”, bạn lại lầm to rồi. Chúng ta hãy nghe tờ Nhân Dân nhật báo, cái loa chính của ĐCSTQ đã nói vào ngày 23/10/2004, 60 năm sau lời tuyên bố trước công chúng đã được trích dẫn bên trên: “Kiểm soát chặt chẽ hình thái ý thức là nhu cầu căn bản cho cơ sở tư tưởng và nền tảng chính trị để củng cố sự chấp chính của Đảng”.

Gần đây nhất, Đảng cộng sản Trung Quốc(ĐCSTQ) đã đưa ra cái gọi là “chủ nghĩa ba không”[6], mà cái 'không' thứ nhất là “phát triển mà không tranh luận”. “Phát triển” chỉ là giả tạo, nhưng “không bàn luận” được nhấn mạnh để trở thành “một tiếng nói, một hội trường”, mới chính là mục đích thật sự của Đảng cộng sản Trung Quốc.

Khi Giang Trạch Dân được phỏng vấn bởi một phóng viên nổi tiếng, Mike Wallace, của đài CBS vào năm 2000, về vấn đề tại sao Trung Quốc không tổ chức bầu cử dân chủ, Giang đã trả lời: “Người Trung Quốc học thức quá kém”.

Tuy nhiên, ngay từ ngày 25/2/1939, ĐCSTQ đã kêu gào trong tờ Tân Hoa nhật báo rằng “Họ (Quốc Dân Đảng) nghĩ rằng sự thực hiện nền chính trị dân chủ tại Trung Quốc không phải ngày nay, mà là những năm về sau. Họ hy vọng rằng vấn đề chính trị dân chủ nên đợi đến lúc trình độ học vấn và sự hiểu biết của người dân Trung Quốc được nâng lên ngang với các nước dân chủ của giai cấp tư sản ở Âu châu và Mỹ châu… nhưng, chỉ ở dưới chế độ dân chủ thì mới có thể giáo dục và huấn luyện dân chúng dễ dàng hơn”.

Sự khác biệt trong cách giả đạo đức giữa những gì Tân Hoa nhật báo đã nói vào năm 1939 và những gì Giang Trạch Dân nói vào năm 2000 đã miêu tả linh động sự thật về bộ mặt lưu manh của Đảng cộng sản Trung Quốc.

Sau vụ Tàn Sát Thiên An Môn vào năm 1989, ĐCSTQ lại đứng sắp hạng trên khán đài thế giới với một thành tích nổi tiếng về vi phạm nhân quyền trầm trọng. Lịch sử đã cho ĐCSTQ một cơ hội chọn lựa: con đường thứ nhất là tôn trọng người dân của mình, và thực sự cải thiện nhân quyền, còn con đường thứ hai là cứ tiếp tục chà đạp nhân quyền bên trong Trung Quốc trong khi giả vờ với thế giới bên ngoài là tôn trọng nhân quyền để trốn tránh sự lên án của quốc tế.

Bất hạnh thay, Đảng cộng sản Trung Quốc(ĐCSTQ), luôn luôn giữ bản tính lưu manh, đã chọn con đường thứ hai mà không mảy may do dự. Nó đã tập họp và duy trì một số lớn bọn lưu manh nhưng có tài trong các lãnh vực khoa học và tôn giáo, và đặc biệt chỉ dẫn cho họ dựng lên những tuyên truyền giả dối tại hải ngoại, để thổi phồng lên các tiến bộ về nhân quyền của ĐCSTQ. Nó bịa đặt một loạt những nhân quyền ngụy biện như “quyền sinh tồn”; hoặc là "quyền ấm no" (lý lẽ biện hộ như sau: Khi người ta đói khát thì không thể có quyền lên tiếng hay sao? Ngay cả khi những người đói khát không thể lên tiếng được, vậy những người ăn uống no đủ cũng không thể lên tiếng cho những người đói khát hay sao?) ĐCSTQ vẫn cố gắng lừa gạt người dân Trung Quốc và các nước dân chủ Tây phương bằng cách chơi các ván bài về nhân quyền, ngay cả còn trắng trợn tuyên bố rằng “hiện nay là thời kỳ tốt nhất về nhân quyền của Trung Quốc”.

Nghị quyết số 35 của Hiến pháp Trung Quốc có qui định rằng: người dân của nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc được tự do phát biểu, xuất bản, nhóm họp, hội đoàn, biểu tình, và diễn hành. Đảng cộng sản Trung Quốc(ĐCSTQ) chỉ đơn giản chơi chữ mà thôi. Dưới sự thống trị của ĐCSTQ, vô số công dân bị tước đoạt quyền tự do tín ngưỡng, ngôn luận, xuất bản, hội họp và biện hộ cho quyền lợi. ĐCSTQ còn ra lệnh rằng việc đệ đơn thỉnh cầu lên cấp trên của một số đoàn thể nhất định cũng bị xem là bất hợp pháp. Hơn một lần vào năm 2004, một số tập thể thường dân đệ đơn xin diễn hành tại Bắc Kinh. Thay vì cho phép, chính phủ lại bắt giam những người đệ đơn. Chính sách “một quốc gia, hai chế độ” áp dụng cho Hồng Kông được phê chuẩn bởi hiến pháp của ĐCSTQ đều là trò lừa bịp. ĐCSTQ nói rằng sẽ không có thay đổi tại Hồng Kông trong vòng 50 năm, tuy nhiên nó đã cố gắng đổi hai chế độ thành một bằng cách cố tình thông qua một luật độc tài tà ác, là Nghị Quyết số 23, chỉ vỏn vẹn trong vòng 5 năm kể từ khi Hồng Kông được trả về cho Trung Quốc [7].

Một mánh khóe mới thật nham hiểm được tận dụng bởi Đảng cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) là giả vờ “nới lỏng tự do ngôn luận” để che lấp sự theo dõi và khống chế chặt chẽ đại quy mô của nó. Người Trung Quốc ngày nay có vẻ nói lên ý nghĩ của mình một cách tự do hơn, bên cạnh đó, mạng điện báo Internet khiến cho tin tức lan rộng nhanh hơn. Như thế ĐCSTQ tuyên bố rằng bây giờ nó cho phép tự do ngôn luận; có rất nhiều người tin theo điều này. Nhưng đây chỉ là một biểu hiện giả tạo. Không phải Đảng Cộng Sản trở nên tốt lành, mà là Đảng không thể ngăn chặn sự phát triển xã hội và tiến bộ kỹ thuật. Chúng ta hãy xem xét ĐCSTQ đang đóng vai trò gì trong khía cạnh của mạng Internet: nó phong tỏa các website, gạn lọc tin tức, theo dõi phòng chat (nói chuyện qua máy điện toán), kiểm soát email (thư điện toán), và rồi buộc tội những người sử dụng mạng điện báo. Mỗi một điều Đảng cộng sản làm đều hoàn toàn ngược lại với trào lưu tiến bộ. Ngày nay, với sự giúp đỡ của các nhà tư bản mà không quan tâm đến nhân quyền và lương tri, cảnh sát ĐCSTQ đã được trang bị những máy móc kỹ thuật cao để có thể theo dõi, từ bên trong xe tuần tra, mọi hành động của những người dùng Internet. Khi chúng ta nhìn vào sự suy đồi của ĐCSTQ —phạm vào những hành vi tà ác giữa thanh thiên bạch nhật— trong bối cảnh của phong trào toàn cầu hướng về tự do dân chủ, làm thế nào mà chúng ta có thể mong rằng nó có tiến bộ trong nhân quyền? Chính ĐCSTQ đã nói tất cả: “Nó nới lỏng bên ngoài nhưng thắt chặt bên trong”. Bản tính lưu manh của Đảng cộng sản không bao giờ thay đổi.

Để tạo nên một hình ảnh tốt đẹp cho chính mình tại Ủy Ban Liên Hiệp Quốc về nhân quyền, năm 2004 ĐCSTQ đã dàn cảnh một loạt các hoạt động trừng phạt nghiêm khắc những người vi phạm nhân quyền. Tuy nhiên, sự kiện này chỉ là dành riêng cho con mắt quan sát của những người ngoại quốc mà thôi, và không có thực chất. Bởi vì kẻ chà đạp nhân quyền lớn nhất tại Trung Quốc là chính Đảng cộng sản Trung Quốc, và cựu Tổng bí thư Giang Trạch Dân, cựu bí thư Ủy ban Pháp Lý và Chính Trị Lỗ Cán, bộ trưởng Chu Vĩnh Khang và phó bộ trưởng Lưu Kinh của Bộ Công An. Sự trình diễn của chúng về trừng phạt những kẻ vi phạm nhân quyền cũng giống như một tên ăn cắp đang hò hét: “ Bớ người ta, bắt thằng ăn cắp!”.

Tương tự như hành động của một tên hiếp dâm hàng loạt là, khi còn có thể trốn khỏi tầm quan sát của công chúng, hắn thông thường tấn công 10 cô gái trong một ngày. Sau đó, có quá đông người chung quanh nên hắn chỉ tấn công một cô gái trước đám đông. Có thể nói rằng tên hiếp dâm đã thay đổi tốt hơn hay sao? Từ việc hắn tấn công sau lưng cho đến việc cưỡng hiếp trước công chúng chỉ chứng tỏ rằng tên vô lại này thật còn đê tiện và trơ tráo hơn trước. Bản tính của tên hiếp dâm không thay đổi chút nào cả. Những gì thay đổi chỉ là hoàn cảnh đã không còn dễ dàng để cho hắn thực hành tội ác nữa.

Đảng cộng sản Trung Quốc(ĐCSTQ) cũng chỉ giống như tên lưu manh hiếp dâm hàng loạt đó. Bản tánh độc tài của ĐCSTQ và bản năng sợ hãi về mất quyền lực đã quyết định rằng nó sẽ không tôn trọng quyền lợi của người dân. Nhân lực, nguồn vật chất, và các nguồn tài chính dùng để ngụy trang nhân quyền của ĐCSTQ đã vượt quá xa các nỗ lực của nó trong việc cải thiện thật sự về nhân quyền. Đảng cộng sản lưu manh tàn phá, giết chóc bừa bãi ở khắp nơi trên đất Trung Hoa, điều này là nỗi bất hạnh lớn nhất cho người dân Trung Quốc.

2. Lợi dụng thủ đoạn "Luật pháp", "ăn mặc Âu phục" để giở trò lưu manh.

Để bảo vệ lợi ích riêng của những tập đoàn có đặc quyền, một mặt Đảng cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) xé tan ngụy trang cũ của chúng, hoàn toàn bỏ bê công nhân, nông dân, và dân chúng, mặt khác lại gia tăng các thủ đoạn lưu manh và dối trá càng ngày càng nhiều đến nỗi tiếng xấu về vi phạm nhân quyền của ĐCSTQ đã bị phơi bày ra cộng đồng quốc tế. ĐCSTQ đã sử dụng những danh từ quen thuộc như là “cai trị trong vòng luật pháp ”, “thị trường”, “vì dân”, và “cải cách”,v.v. để làm lẫn lộn tâm trí người ta. Bản tánh tà ác lưu manh của Đảng cộng sản Trung Quốc không hề thay đổi dù có tự khoác lên mình “bộ Âu phục” [tức là cái vỏ văn minh]. Hình ảnh như vậy chỉ càng đánh lạc hướng người dân hơn là khi ĐCSTQ khoác “bộ y phục của Mao” [theo lý thuyết của Mao]. Trong tác phẩm Trại gia súc của George Orwell (xuất bản năm 1945), các con heo học cách đứng và đi bằng hai chân. Tài nghệ mới có này đã tạo bộ mặt mới cho con heo, nhưng nó không thay đổi được bản tính heo của nó.

       Tạo ra luật lệ và qui định mà vi phạm Hiến pháp Trung Quốc

Luật pháp và những qui định trái với Hiến pháp đã được truyền xuống tới các nhân viên thực thi pháp luật tại nhiều tầng cấp. Họ lấy lý do như “căn cứ vào pháp luật” mà cản trở những nỗ lực của dân chúng trong việc chấm dứt cuộc đàn áp, lấy lại tự do và duy hộ nhân quyền.

       Giải quyết vấn đề phi-chính trị bằng các thủ đoạn chính trị

Một vấn đề xã hội bình thường sẽ được thổi phồng lên ngang hàng với “tranh đoạt quần chúng với Đảng”, hoặc “mất Đảng thì mất nước”, hay “nổi loạn”, “lực lượng thù địch”. Đảng cộng sản Trung Quốc cố tình chính trị hóa các vấn đề phi chính trị để có thể sử dụng các cuộc vận động chính trị như một công cụ tuyên truyền để kích động lòng thù hận của dân chúng.

       Vấn đề chính trị được giải quyết bằng các thủ đoạn phi-chính trị

Mánh khóe mới nhất của Đảng cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) dùng để tấn công các công dân ủng hộ dân chủ và các phần tử trí thức có tư tưởng độc lập, là lập ra “những cái bẫy” để cầm tù những người này. Những “cái bẫy” như vậy bao gồm tạo ra các tội trạng dân sự giả tạo như là tội mãi dâm và trốn thuế. Kẻ tấn công cố giữ không làm ồn để tránh sự chỉ trích của các nhóm bên ngoài. Những tội này, đủ để hủy hoại thanh danh của người bị tố cáo, và cũng được dùng để làm nhục nạn nhân trước công chúng.

Nếu như phải nói rằng bản tính lưu manh của Đảng cộng sản Trung Quốc có biến đổi, thì đó là nó đổi thành càng ngày càng đáng sỉ nhục hơn và càng không có nhân tính.

Bạn đọc hiện có

Đang có 273 khách và thành viên đang online

Thống kê bạn đọc

Hôm nayHôm nay462
Hôm quaHôm qua5313
US
UNITED STATES
US

Luật rừng trong rừng luật

Tìm bài và tác giả

Đón Nhận Ủng Hộ

Cảm ơn các bạn đã tín nhiệm. Chúng tôi cần sự giúp đỡ của các bạn dù khiềm tốn để tiếp tục phục vụ các bạn hữu hiệu hơn.

Số tiền:

Hồi ký trùm gián điệp Đông Đức Markus Wolf