Cửu bình - Bài bình luận số 6 (Đại Kỷ Nguyên)

Bạn đánh giá:  / 0
DỡHay 
Chọn cỡ chữ

Bài bình luận số 6

Đảng Cộng Sản Trung Quốc phá hoại văn hoá dân tộc


Bảng hiệu tuyên truyền cho chiến dịch
"Phê bình Lâm Bưu và Khổng Tử"
(AFP/Getty Images)

Lời mở đầu

Văn hóa là linh hồn của một dân tộc. Đối với nhân loại yếu tố tinh thần này cũng quan trọng ngang như yếu tố vật chất là giống nòi và đất đai.

Lịch sử nền văn minh của một dân tộc là lịch sử của các sự phát triển văn hóa. Sự phá hủy hoàn toàn văn hóa của một dân tộc dẫn tới sự diệt vong của dân tộc đó. Những dân tộc cổ xưa sáng tạo ra các nền văn minh huy hoàng đã bị xem như biến mất khi văn hóa của chúng biến mất, mặc dù người của các dân tộc đó vẫn tồn tại. Trung Quốc là quốc gia duy nhất trên thế giới có nền văn minh cổ đã liên tục trải qua trên 5000 năm. Sự phá hủy nền văn hóa truyền thống là một tội ác không thể tha thứ.

Nền văn hóa Trung Quốc, được tin là do Trời truyền xuống, đã bắt đầu bởi những thần thoại như sự tạo ra trời và đất của Bàn Cổ [1], sự tạo ra con người của Nữ Oa [2], sự xác định hàng trăm cây thuốc của Thần Nông [3], và sự phát minh ra chữ Trung Quốc của Thương Hiệt [4]. “Người thuận theo Đất, Đất thuận theo trời, Trời thuận theo Đạo, và Đạo thuận theo Tự nhiên”[5]. Sự uyên thâm về sự hòa hợp giữa người và trời của Đạo gia đã chảy trong huyết mạch của nền văn hóa Trung Quốc. “Cái đạo của Đại Học là rõ ràng ở chỗ Đức sáng”[6]. Khổng Tử đã mở một trường để dạy học hơn 2000 năm trước và đã truyền bá ra xã hội tư tưởng Nho gia mà đại biểu gồm năm đức hạnh chính là nhân, nghĩa, lễ, trí, và tín. Trong thế kỷ đầu tiên, Phật pháp của Phật giáo đã truyền sang phương đông tới Trung Quốc với sự nhấn mạnh vào tính Thiện và sự cứu độ tất cả các chúng sinh, đó là “từ bi phổ độ”. Nền văn hóa Trung Quốc đã được phong phú thêm. Sau đó, Nho gia, Đạo gia, và Phật gia đã trở thành các niềm tin bổ xung cho nhau trong xã hội Trung Quốc, đưa triều đại nhà Đường (618-907 sau công nguyên) lên đến đỉnh của sự huy hoàng và thịnh vượng, được biết đến trên khắp thế gian.

Mặc dù dân tộc Trung Quốc đã trải qua nhiều lần bị phá hoại và đả kích trong lịch sử, nền văn hóa truyền thống của Trung Quốc đã chứng tỏ là có sức sống, sức dung hợp cực kỳ to lớn, và tinh hoa của nó đã liên tục được truyền xuống. Sự hợp nhất giữa trời và người đại biểu cho quan niệm về vũ trụ của tổ tiên chúng ta. Mọi người đều tin rằng ở hiền gặp lành, và ở ác gặp ác. Một đức hạnh cơ bản là 'đừng làm cho người khác những gì mình không muốn'. Trung, hiếu, tiết, nghĩa là tiêu chuẩn cho cách làm người trong xã hội, và năm đức hạnh chính của Nho gia là nhân, nghĩa, lễ, trí, và tín đã đặt ra nền tảng đạo đức cho từng cá nhân và toàn xã hội. Văn hóa của Trung Hoa thể hiện ra Thành (thành thật), Thiện (lương thiện), Hòa (hòa vi quý), Dung (bao dung) những đặc điểm ưu tú này. Sự tưởng nhớ chung tới những người đã quá cố của người Trung Quốc cho thấy lòng sùng kính tới “trời, đất, vua, cha mẹ và thầy giáo”. Đây là sự biểu lộ văn hóa của các truyền thống gốc rễ của Trung Quốc, nó bao gồm sự kính trọng thần thánh, trời và đất (Thiên Địa), sự trung thành với quốc gia (Quân), các giá trị của gia đình cha mẹ (Thân), và sự kính trọng thầy giáo (Sư). Nội hàm vững chắc của văn hóa là “Tôn sư trọng đạo”. Văn hóa Trung Quốc truyền thống đã tìm kiếm sự hài hòa giữa con người và vũ trụ, và đã chú trọng vào đạo đức và luân lý của từng cá nhân. Nó đã có cơ sở trên tín ngưỡng tu luyện của Đạo Khổng, Đạo Phật, và Đạo Lão, và đã cung cấp cho người Trung Quốc lòng khoan dung, sự tiến bộ xã hội, sự bảo vệ đạo đức con người, và niềm tin chân chính.

Không giống như pháp luật, mô tả các quy định cứng nhắc, văn hóa hoạt động như một chế ước mềm mại. Pháp luật thi hành trừng phạt sau khi một tội ác bị phạm phải, trong khi văn hóa, bằng cách giáo dục cho có đạo đức, ngăn ngừa các tội ác không cho xảy ra từ trong trứng nước. Giá trị luân lý đạo đức của một xã hội thường phản ảnh cụ thể từ bên trong văn hóa của nó.

Trong lịch sử Trung Quốc, văn hóa truyền thống đã đạt tới đỉnh điểm của nó trong triều đại nhà Đường thịnh vượng, hội tụ tới đỉnh cao quyền lực của quốc gia Trung Quốc. Khoa học cũng tiến bộ và có được danh tiếng độc nhất vô nhị với tất cả các quốc gia khác. Các học giả từ Châu Âu, Trung Đông, và Nhật Bản đã đến để học tập tại Trường An, kinh đô của triều đại nhà Đường. Những đất nước quanh Trung Quốc đã xem Trung Quốc như là nước tông chủ. “Nhiều quốc gia đã đến để triều cống Trung Quốc, dù rằng phải qua nhiều tầng phiên dịch và phải thông qua nhiều thủ tục.” [7]

Sau triều đại nhà Tần (221-207 trước Công Nguyên(CN)), Trung Quốc thường bị chiếm bởi những dân tộc thiểu số. Điều này đã xảy ra trong các triều đại nhà Tùy (581-618 sau CN), Đường (618-907 sau CN), Nguyên (1271-1361 sau CN) và Thanh (1644-1911 sau CN) và trong một số lần khác khi những dân tộc thiểu số thành lập chế độ của riêng họ. Tuy nhiên, hầu như tất cả các dân tộc này đã bị đồng hóa theo các cách của người Trung Quốc. Điều này cho thấy sức mạnh đồng hóa to lớn của văn hóa Trung Quốc truyền thống. Như Khổng Tử đã nói, “(Vì vậy) nếu người phương xa không tuân theo, thì thu phục họ bằng cách tu Văn và Đức (của chúng ta)”[8].

Từ khi nắm quyền lực năm 1949, Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) đã dành các tài nguyên quốc gia vào việc phá hủy nền văn hóa truyền thống của Trung Quốc. Ý định xấu xa này tuyệt đối không đến từ nhiệt tâm công nghiệp hóa của ĐCSTQ, cũng không từ sự ngu dốt đơn giản trong việc tôn thờ văn minh phương Tây. Hơn thế, nó đã đến từ sự đối nghịch ý thức hệ cố hữu của ĐCSTQ đối với văn hóa truyền thống của dân tộc. Vì vậy sự phá hoại văn hóa Trung Quốc của ĐCSTQ đã được lập kế hoạch, tổ chức tốt, và hệ thống hóa, được hỗ trợ bởi sự sử dụng bạo lực của chính quyền. Từ khi được thành lập, ĐCSTQ chưa hề bao giờ ngưng “cách mạng hóa” nền văn hóa của Trung Quốc trong việc cố gắng phá hủy tinh thần của nó một cách triệt để.

Thậm chí còn đáng đê tiện hơn cả sự phá hoại văn hóa truyền thống của Trung Quốc là sự lạm dụng và thay đổi lừa lọc có chủ ý của ĐCSTQ đã phát huy những phần đồi bại từ lịch sử của Trung Quốc, những thứ đã xảy ra bất cứ khi nào con người xa rời các giá trị truyền thống, như là sự tranh giành quyền lực nội bộ bên trong hoàng tộc, sự sử dụng các thủ đoạn và âm mưu, và sự áp dụng chế độ độc tài và chuyên chế. Nó đã sử dụng các ví dụ lịch sử để giúp tạo thành một bộ chuẩn mực thiện ác, phương thức tư duy, và hệ thống đàm luận của nó. Bằng cách làm như vậy, khiến cho nhân dân hiểu lầm rằng đó là “văn hóa Đảng”, là một sự kế thừa của văn hóa truyền thống Trung Quốc. ĐCSTQ thậm chí đã lợi dụng sự ác cảm của một số người đối với “văn hóa Đảng” để khuyến khích hơn nữa sự từ bỏ văn hóa truyền thống Trung Quốc chân chính.

Sự phá hoại văn hóa truyền thống của ĐCSTQ đã mang tới các hậu quả thảm khốc cho Trung Quốc. Không chỉ con người mất các ước thúc về đạo đức của họ, họ cũng bị bắt buộc phải thấm nhuần các lý thuyết tà ác của ĐCSTQ.

I. Tại sao Đảng Cộng Sản muốn phá hoại văn hóa dân tộc?

1. Truyền Thống Lâu Dài của Văn Hóa Trung Hoa—Dựa Trên Tôn Trọng Tín Ngưỡng và Đạo Đức

Văn hóa chân chánh của người Trung Quốc đã bắt đầu khoảng 5000 năm trước được sáng tạo bởi Hoàng Đế, người được cho là ông tổ đầu tiên của nền văn minh Trung Quốc. Trên thực tế Hoàng Đế cũng là người sáng lập nên tư tưởng Đạo gia, cũng được gọi là trường phái tư tưởng Hoàng-Lão. Nho gia chịu sự ảnh hưởng sâu sắc của Đạo gia. Ngài Khổng Tử giảng: “Lập chí ở Đạo, căn cứ ở Đức, noi theo ở Nhân, học rộng ở Nghệ” và “Nếu một người nghe Đạo buổi sáng, người đó có thể chết mà không hối hận vào buổi chiều”[9]. Cuốn Kinh Dịch, một ghi chép về trời và đất, âm và dương, các thay đổi của vũ trụ, sự phát triển và suy tàn của xã hội, và các luật về cuộc sống con người, đã được Nho gia coi là “Số một trong số tất cả các tác phẩm kinh điển của Trung Quốc”. Sức mạnh tiên tri của cuốn sách đã vượt xa những gì khoa học hiện đại có thể nhận thức. Bên cạnh Đạo gia và Nho gia, tư tưởng Phật gia, đặc biệt tư tưởng phái Thiền tông, đã có một ảnh hưởng âm thầm lặng lẽ nhưng sâu xa đối với những nhà trí thức Trung Quốc.

Tư tưởng Nho gia là phần văn hóa Trung Quốc truyền thống đã đặt trọng tâm vào “nhập thế.” Nó chú trọng vào đạo đức luân lý gia đình, ở đó lòng hiếu thảo đóng một vai trò cực kỳ quan trọng, dạy rằng “tất cả lòng tốt bắt đầu từ lòng hiếu thảo” (Bách thiện hiếu vi tiên). Khổng Tử đề cao “nhân, nghĩa, lễ, trí và tín,” nhưng cũng nói, “Chẳng phải lòng hiếu thảo và kính trên nhường dưới là gốc rễ của nhân đức?”

Luân thường đạo lý dựa trên nền tảng gia đình có thể được mở rộng một cách tự nhiên để hướng dẫn đạo đức xã hội. Lòng "hiếu thảo" có thể được khuyếch trương đến sự "trung thành" của quần thần đối với vua. Người ta nói rằng, “Hiếm khi một người có lòng hiếu để, mà lại phạm thượng với bề trên”[10]. "Để" là kính nhường bực huynh trưởng, là mối quan hệ giữa anh em, và có thể được mở rộng hơn nữa đến sự "nghĩa khí" và sự công bằng giữa bè bạn. Nho gia dạy rằng trong gia tộc phải là phụ từ, tử hiếu, huynh hữu, đệ cung, một người cha phải từ ái, một người con phải hiếu thảo, anh lớn phải thân thiện, và em nhỏ phải cung kính lễ phép. Ở đây, "từ tâm" của người cha có thể được mở rộng đến sự "nhân từ" của vua với quần thần. Chừng nào mà các truyền thống trong gia tộc có thể được duy trì, luân lý đạo đức xã hội tất nhiên có thể được giữ gìn. “Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” [11]

Tư tưởng Phật gia và Đạo gia là bộ phận xuất thế trong văn hóa Trung Quốc truyền thống. Sự ảnh hưởng của Phật gia và Đạo gia có thể thấy trong tất cả các khía cạnh cuộc sống của dân chúng bình thường. Trung y, khí công, phong thủy, và bói toán. Những môn này có nguồn gốc liên qua đến tư tưởng của Đạo Gia rất sâu đậm, cũng như là những khái niệm trong tư tưởng Phật gia về thiên quốc và địa ngục, thiện ác báo ứng, cùng với đạo đức luân thường của tư tưởng Nho gia, đã tạo thành hạch tâm của văn hóa Trung Quốc truyền thống.

Tín ngưỡng Nho, Phật và Đạo đã đem lại cho người Trung Quốc một hệ thống tinh thần đạo đức rất ổn định, không thay đổi chừng nào trời đất còn tồn tại “Thiên bất biến, Đạo cũng bất biến”[12]. Sự bền vững, hòa bình và hài hòa trong xã hội, là dựa vào thế hệ đạo đức mà tồn tại.

Đạo đức thuộc về lãnh vực tinh thần; vì vậy, nó thường thuộc về trừu tượng, mà tác dụng trọng yếu của văn hóa chính là sự diễn đạt thể hệ đạo đức trong ngôn ngữ mà người thông thường có thể hiểu.

Hãy lấy “Bốn Tác Phẩm Cổ Điển Trung Quốc”, bốn tác phẩm nổi tiếng nhất trong văn hóa Trung Quốc, làm ví dụ. Tây Du Ký [13] là một chuyện thần thoại. Hồng Lâu Mộng [14] bắt đầu với hội thoại giữa một hòn đá có linh hồn và Mang Mang đạo sĩ, Diệu Diệu chân nhân cùng Không Không đạo nhân tại đỉnh Vô Kê, núi Đại Hoang, đoạn này đưa ra đầu mối về kịch tính được bộc lộ trong suốt tác phẩm. Thủy Hử [15] mở đầu với câu chuyện làm thế nào mà Hồng thái úy, người nắm binh quyền, đã bất cẩn giải phóng 108 yêu ma. Truyền thuyết này giải thích nguồn gốc của "108 vị anh hùng Lương Sơn Bạc". Tam Quốc Diễn Nghĩa [16] bắt đầu với một điềm báo của trời về một thảm họa, và kết thúc bằng sự phán xét không thể tránh được của thiên mệnh: “Hợp rồi tan, tan lại hợp, đó cũng là lẽ nhiệm mầu của Trời Đất vậy”. Những câu chuyện nổi tiếng khác, như là Đông Chu Liệt Quốc [17] và Thuyết Nhạc Toàn Truyện (Chuyện đầy đủ về Nhạc Phi) [18], tất cả đều bắt đầu với những truyền thuyết tương tự.

Việc sử dụng thần thoại của những nhà viết tiểu thuyết này không phải là một trùng hợp, mà là sự phản ảnh triết lý cơ bản của người trí thức Trung Quốc với sự tự nhiên và con người. Những tiểu thuyết này có một ảnh hưởng sâu sắc lên tâm trí người Trung Quốc. Khi nói về “nghĩa”, mọi người nghĩ đến Quan Vũ (160-219 sau CN) trong Tam Quốc Diễn Nghĩa hơn chỉ là về khái niệm khô cứng của từ ngữ, ‘nghĩa’ của ông ta đối với bạn của mình đã vượt lên mây tới trời xanh như thế nào; lòng trung thành không thể lay chuyển của ông ta với bề trên của ông mà cũng là anh em kết nghĩa (Lưu Bị) đã đem lại cho ông sự kính trọng thậm chí từ kẻ thù của ông ta như thế nào; sự dũng cảm của ông ta trong chiến trận đã chiến thắng trong các tình huống thảm khốc nhất, sự thất bại cuối cùng của ông trong trận chiến tại Mạch Thành, và, cuối cùng là, sự gặp gỡ của ông ta với tư cách một vị thần với con trai của ông như thế nào. Khi nói tới chữ “trung” người Trung Quốc tự nhiên nghĩ tới Nhạc Vũ Mục (1103-1141 sau CN), một vị tướng nhà Tống người đã phục vụ đất nước của mình với tính chính trực và lòng trung thành hoàn toàn, và Khổng Minh (181-234 sau CN), thừa tướng của nước Thục trong thời Tam Quốc, người “hiến dâng cả đời cho đến tận khi trái tim ngừng đập.”

Sự ca ngợi lòng trung và nghĩa trong văn hóa Trung Quốc truyền thống đã được miêu tả đầy đủ trong những câu truyện đầy mầu sắc của các tác giả này. Những nguyên tắc tinh thần trừu tượng họ tán thành đã được làm rõ ràng và biểu hiện trong những thành ngữ văn hóa.

Đạo gia giảng Chân, Phật gia giảng Thiện, và Nho gia giảng Trung, Thứ (vị tha), Nhân, Nghĩa. “Mặc dù hình thức của chúng khác nhau, mục đích của chúng là như nhau… tất cả chúng đều truyền cảm hứng cho con người trở về với Thiện”[19]. Đây là những khía cạnh giá trị nhất của văn hóa truyền thống Trung Quốc dựa trên niềm tin vào Nho, Phật và Đạo.

Văn hóa truyền thống Trung Quốc đầy những khái niệm và nguyên tắc như là thiên, đạo, thần, phật, mệnh, duyên, nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, liêm, sĩ, trung, hiếu, tiết và nhiều nữa như vậy. Nhiều người Trung Quốc có thể mù chữ, nhưng họ vẫn quen với hí kịch truyền thống. Những hình thức văn hóa này đã là những cách quan trọng đối với người thường để học các đức hạnh truyền thống. Do đó, sự phá hoại của ĐCSTQ đối với văn hóa Trung Quốc truyền thống là một sự tấn công trực tiếp vào đạo đức của người Trung Quốc và làm suy yếu nền tảng an định và hài hòa trong xã hội.

Sự đối lập giữa Tà Thuyết Cộng Sản và Văn Hóa Truyền Thống

“Triết học” của Đảng Cộng Sản hoàn toàn mâu thuẫn với văn hóa truyền thống chân chánh của Trung Quốc. Văn hóa truyền thống là kính úy thiên mệnh, như Khổng Tử đã từng nói, “Tử sanh hữu mệnh, phú quý tại thiên.”[20]. Cả Phật gia và Đạo gia đều là hữu Thần, và tin vào sự luân hồi, và thuyết nhân quả nghiệp lực về cái thiện và ác. Đảng Cộng Sản, thì trái lại, không những chỉ tin vào thuyết vô Thần, mà còn “vô pháp vô thiên”. Nho gia coi trọng gia đình, nhưng Bản Tuyên Ngôn Cộng Sản rõ ràng công bố sự thủ tiêu gia đình. Văn hóa Trung Quốc phân biệt người Trung Quốc với người nước ngoài, nhưng Bản Tuyên Ngôn Cộng Sản chủ trương không có quốc gia. Văn hóa Nho gia đề cao lòng tốt với người khác, nhưng Đảng Cộng Sản cổ võ đấu tranh giai cấp. Nho gia khuyến khích lòng trung thành với bề trên và tình yêu đất nước, còn Bản Tuyên Ngôn Cộng Sản đề xướng sự loại bỏ các quốc gia.

Để đạt được và duy trì quyền lực ở Trung Quốc, Đảng Cộng Sản đầu tiên đã gieo trồng những tư tưởng trái đạo đức trên mảnh đất Trung Quốc. Mao Trạch Đông đã tuyên bố, “Nếu chúng ta muốn lật đổ một quyền lực, trước tiên chúng ta phải tạo ra sự tuyên truyền, và làm việc trong lãnh vực hệ tư tưởng”[21]. ĐCSTQ đã nhận ra rằng lý thuyết cộng sản bạo lực, mà được tồn tại với võ trang, đã bị tư tưởng phương Tây từ chối và không thể đứng vững trước lịch sử văn hóa 5000 năm sâu sắc của Trung Quốc. “Đã chót thì phải chét”. Vì vậy ĐCSTQ đã hoàn toàn hủy hoại văn hóa truyền thống Trung Quốc, và chỉ như vậy chủ nghĩa Mác-xít Lênin-nít mới có thể chiếm lấy chính trường Trung Quốc.

Văn hóa truyền thống là một chướng ngại đối với nền độc tài của ĐCSTQ

Mao Trạch Đông đã từng nói là ông ta không theo Đạo cũng không theo Trời [22]. Văn hóa Trung Quốc truyền thống không nghi ngờ gì nữa đã là một chướng ngại to lớn nên ĐCSTQ thách thức Đạo và chiến đấu với trời.

Lòng trung thành trong văn hóa Trung Quốc truyền thống không có nghĩa là sự trung thành một cách ngu muội. Trong con mắt của mọi người, Hoàng đế là “con của Trời”: có Trời ở bên trên ông ta. Hoàng đế không thể lúc nào cũng đúng. Do đó có nhu cầu cần những giám quan để chỉ ra những lỗi của hoàng đế vào mọi lúc. Hệ thống biên niên sử của Trung Quốc có những sử gia ghi chép lại mọi lời nói và hành động của hoàng đế. Các viên quan về giáo dục có thể trở thành thầy giáo vì lợi ích của vua, và hành vi của hoàng đế được phán quyết bởi các học giả Nho gia. Nếu hoàng đế trái đạo đức, không ngộ theo Đạo, mọi người có thể vùng lên để lật đổ ông ta, như là trường hợp khi Thành Thang phạt Kiệt, hoặc Vũ Vương phạt Trụ [23]. Những cuộc vùng lên đó, được phán quyết từ văn hóa truyền thống, không được coi là sự vi phạm lòng trung thành hoặc Đạo. Thay vào đó, chúng được xem như là thay Trời hành Đạo. Khi Văn Thiên Tường (1236-1283 sau CN) [24], một tướng lãnh nổi tiếng thời nhà Tống, bị bắt làm tù nhân, ông ta đã từ chối đầu hàng kẻ xâm lược Mông Cổ, ngay cả khi Hoàng Đế cố gắng thuyết phục ông ta đầu hàng. Điều này là bởi vì, là một người theo Nho gia, ông ta tin rằng “Dân là quan trọng bậc nhất; tiếp theo là quốc gia; cuối cùng mới là người cai trị.” (dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh) [25].

ĐCSTQ độc tài không cách nào có thể chấp nhận những niềm tin truyền thống như thế. ĐCSTQ đã muốn phong thánh những lãnh tụ của chính nó và đề cao sự sùng bái cá nhân, và như thế sẽ không theo những khái niệm lâu đời như là Trời, Đạo, Thần cai quản phía trên. ĐCSTQ nhận thấy rằng, nếu theo những tiêu chuẩn của văn hóa truyền thống thì những gì nó đã làm bị coi là tội ác to lớn và ghê tởm nhất chống lại Trời và Đạo. Họ cũng nhận thấy rằng chừng nào văn hóa truyền thống còn tồn tại, nhân dân sẽ không ca ngợi ĐCSTQ là “Đảng ta vĩ đại, quang vinh, và chính xác.” Các học giả sẽ tiếp tục truyền thống “hy sinh cuộc sống của họ để thủ nghĩa,” “duy trì sự công bằng với sinh mạng của họ”[26], và đặt dân lên trên những người cai trị. Vì vậy, nhân dân sẽ không trở thành những con múa rối của ĐCSTQ, và ĐCSTQ sẽ không thể bắt buộc người dân suy nghĩ theo ý mình.

Sự phản ảnh của văn hóa truyền thống đối với trời, đất và tự nhiên đã trở thành một chướng ngại vật ngăn cản “cuộc chiến với thiên nhiên” của ĐCSTQ trong một nỗ lực “thay thế Trời và Đất.” Văn hóa truyền thống trân trọng sinh mệnh con người, dạy rằng “bất kỳ tình huống nào liên quan đến sinh mệnh con người phải được xem xét với sự quan tâm lớn nhất". Sự nhận thức như vậy là trở lực đối với tội diệt tuyệt quần thể và thống trị bằng khủng bố của ĐCSTQ. Trong văn hóa truyền thống, “Đạo Trời” mới là tiêu chuẩn tột cùng của Thiện Ác trong đạo đức. Điều này cũng bằng như tước đoạt quyền giải thích về đạo đức của ĐCSTQ. Do đó, ĐCSTQ đã xem văn hóa truyền thống là một kẻ thù lớn trong nỗ lực duy trì quyền lực của nó.

Văn Hóa Truyền Thống Thách Thức Tính Hợp Pháp của Sự Cầm Quyền của Đảng Cộng SảnTrung Quốc

Văn hóa truyền thống Trung Quốc bao gồm “ hữu Thần luận” và “thiên mệnh luận”. Thừa nhận thiên mệnh là phải chứng minh được chính mình là “minh quân có Đạo”, “phụng thiên thừa vận”. Việc chấp nhận niềm tin vào Thần nghĩa là chấp nhận rằng quyền lực đối với dân tùy thuộc vào trời.

Tuy nhiên lý luận để nắm quyền của ĐCSTQ đã được tóm tắt là, “Dây xích truyền thống sẽ không bao giờ trói buộc chúng ta nữa, vùng lên các bạn những người lao động cần cù không bao giờ là nô lệ nữa. Trái đất sẽ phát triển trên các nền tảng mới; chúng ta không phải là không; chúng ta sẽ là tất cả.” [27]

ĐCSTQ tuyên truyền chủ nghĩa duy vật lịch sử, tuyên bố rằng chủ nghĩa cộng sản là một thiên đường nhân gian, con đường tới đó được lãnh đạo bởi giai cấp vô sản tiên phong, hoặc là Đảng Cộng Sản. Niềm tin vào Thần do đó đã trực tiếp thách thức tính hợp pháp trong sự cầm quyền của ĐCSTQ.

II. Đảng Cộng Sản Phá Hoại Văn Hóa Truyền Thống Thế Nào?

Mọi việc Đảng Cộng Sản Trung Quốc (ĐCSTQ) làm, là để phục vụ một mục đích chính trị. Để nắm giữ, duy trì và củng cố sự chuyên chế bạo lực của nó, ĐCSTQ cần thay thế nhân tính bằng Đảng tính tà ác của nó, và thay thế văn hóa truyền thống Trung Quốc bằng văn hóa Đảng của nó là “giả dối, tà ác và đấu tranh”. Sự phá hoại và thay thế này không chỉ bao gồm các di tích văn hóa, di tích lịch sử và các cuốn sách cổ, chúng là hữu hình, và những thứ vô hình như là quan điểm truyền thống về đạo đức, cuộc sống và thế giới, mà tất cả các khía cạnh đời sống nhân dân đều dính líu tới, bao gồm các hành động, suy nghĩ và lối sống của dân. Cùng lúc, ĐCSTQ coi các biểu hiện văn hóa bề mặt, tầm thường như là “tinh hoa”, mà giữ lại chúng, và sau đó đặt thứ “tinh hoa” này lên như mặt chính. Đảng giữ vẻ bề ngoài của truyền thống trong khi thay thế truyền thống thực sự bằng văn hóa Đảng. Sau đó nó lừa dối dân chúng và xã hội quốc tế đằng sau bề ngoài “kế thừa và phát triển” văn hóa truyền thống Trung Quốc.

Cùng Một Lúc Tiêu Diệt ‘Tam Giáo’

Bởi vì trên thực tế, văn hóa truyền thống có gốc rễ dựa vào tư tưởng Khổng, Phật và Đạo, nên bước đầu tiên của ĐCSTQ trong việc phá hủy văn hóa truyền thống là tiêu diệt các thể hiện cụ thể của tôn giáo trong thế giới con người, tức là phải nhổ rễ tam giáo.

‘Tam giáo’ chính, Đạo Khổng, Đạo Phật và Đạo Lão, đã gặp phải sự phá hủy trong các thời kỳ khác nhau của lịch sử. Lấy Đạo Phật làm ví dụ. Họ đã chịu bốn lần đại nạn chính trong lịch sử, lịch sử gọi là “Tam Vũ Nhất Tông” diệt Đạo Phật bởi bốn vị hoàng đế Trung Quốc. Hoàng Đế Thái Vũ[28] của triều đại Bắc Ngụy (386-534 sau CN) và Hoàng Đế Vũ Tông [29] của triều đại Đường (618-907 sau CN) cả hai đều đã cố gắng làm tiêu tan Đạo Phật để thay bằng Đạo Lão. Hoàng Đế Vũ [30] của triều đại Bắc Chu (557-581 sau CN) đã cố gắng làm tiêu tan cả Đạo Phật và Đạo Lão, để sùng kính Đạo Nho. Hoàng Đế Chu Thế Tông [31] của triều đại Hậu Chu (951-960 sau CN) đã cố gắng làm tiêu tan Đạo Phật chỉ để sử dụng các tượng Phật để đúc tiền, và đã không đụng chạm đến Đạo Lão hay Đạo Khổng.

Duy có Đảng Cộng Sản Trung Quốc là tiêu diệt cả tam giáo cùng một lúc.

Ngay sau khi ĐCSTQ thành lập chính phủ, nó đã bắt đầu phá hủy các đền chùa, đốt kinh thư và bắt các tu sĩ và ni cô Phật giáo phải hoàn tục. Nó cũng không nhẹ tay hơn chút nào trong việc phá hủy các địa điểm của tôn giáo khác. Đến thập niên 1960, hầu như không còn lại bất cứ địa điểm tôn giáo nào ở Trung Quốc. Cuộc vận động Đại Cách Mạng Văn Hóa đã mang đến những tai ương cho văn hóa và tôn giáo thậm chí lớn hơn trong chiến dịch gọi là “Phá Tứ Cựu” [32] - nghĩa là: phá bỏ quan niệm cũ, văn hóa cũ, phong tục cũ, và thói quen cũ.

Ví dụ, ngôi chùa Phật giáo đầu tiên ở Trung Quốc là Chùa Bạch Mã [33] được xây dựng trong triều đại nhà Đông Hán (25-220 sau CN) ở ngoại thành Lạc Dương, tỉnh Hồ Nam. Nó có vinh dự là “Cái nôi của Phật giáo Trung Quốc” và “Nhà của Người Sáng Lập”. Trong “Phá Tứ Cựu”, Đền Bạch Mã tất nhiên không thể thoát khỏi sự cướp phá.

Có một đội sản xuất của Chùa Bạch Mã ở gần ngôi chùa. Bí thư chi bộ Đảng đã dẫn nông dân tới đập tan ngôi chùa dưới danh nghĩa “cách mạng”. Những bức tượng Mười Tám Vị La Hán bằng đất sét 1000 năm tuổi được xây dựng dưới triều đại Liêu (916-1126 sau CN) đã bị phá hủy. Kinh Bối Diệp [34] mà một cao tăng Ấn độ mang tới đền 2000 năm trước đã bị đốt. Một vật quý hiếm, Ngựa Ngọc Bích, đã bị đập tan ra từng mảnh. Nhiều năm sau đó, vua Cămpuchia Norodom Sihanouk lưu vong đã có một yêu cầu đặc biệt muốn bày tỏ lòng kính trọng với Chùa Bạch Mã. Chu Ân Lai, thủ tướng Trung Quốc lúc bấy giờ, đã vội vã ra lệnh chuyển tới Lạc Dương kinh văn Bối Diệp mà được lưu trữ trong Hoàng Thành ở Bắc Kinh, và các bức tượng Mười Tám Vị La Hán được làm từ triều nhà Thanh từ Chùa Bích Vân ở vườn Hương Sơn[35] thuộc ngoại ô Bắc Kinh. Với sự thay thế giả này, một khó khăn ngoại giao đã được “giải quyết.” [36]

Cuộc Cách Mạng Văn Hóa bắt đầu vào tháng 5, năm 1966. Nó thực sự là “cách mạng hóa” văn hóa Trung Quốc trong chiều hướng phá hủy. Bắt đầu từ tháng 8 năm 1966, ngọn lửa điên cuồng của “Phá Tứ Cựu” đã cháy trên toàn bộ vùng đất Trung Quốc. Những thứ bị xem là thuộc “chế độ phong kiến, chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa xét lại”, các đền chùa Phật giáo, Đạo giáo, các tượng Phật, danh thắng cổ tích, tranh thư pháp, hội họa và các tác phẩm mỹ thuật cổ đã trở thành những cái đích chính để phá hủy của Hồng quân [37]. Lấy các tượng Phật làm ví dụ. Có 1000 tượng Phật được chạm khắc ngọc lưu ly trên đỉnh của Núi Vạn Thọ trong Cung Điện Mùa Hè (Di Hòa Viên) [38] ở Bắc Kinh. Sau “Phá Tứ Cựu”, tất cả chúng đã bị phá hủy, không có tượng nào còn nguyên ngũ quan nữa.

Thủ đô của đất nước là như thế, và trên toàn bộ các vùng còn lại của quốc gia cũng như vậy. Thậm chí cả những địa hạt ở xa cũng không thoát.

Có ngôi chùa Thiên Thai ở huyện Đại tỉnh Sơn Tây. Nó được xây dựng trong thời Thái Duyên của triều đại Bắc Ngụy 1600 năm trước, và có những bức tượng và bích họa rất quý giá. Mặc dù nó nằm ở một sườn đồi khá xa dân cư của địa hạt, những người dân tham gia vào “Phá Tứ Cựu” cũng không ngại gian nan hiểm trở mà đến dọn sạch các bức tượng và bích họa ở đó đi… Chùa Lạng Thiên [39], nơi mà Lão Tử đã giảng bài và để lại tác phẩm nổi tiếng 'Đạo Đức Kinh' 2500 năm trước, nằm ở huyện Chu Chí tỉnh Thiểm Tây. Xung quanh nơi mà Lão Tử giảng bài, trong vòng bán kính 10 dặm [40], có hơn 50 di tích lịch sử, bao gồm chùa Tông Thánh Cung (Tôn Kính Hiền Nhân) mà Hoàng Đế Đường Cao Tổ Lý Uyên Vi [41] đã xây dựng để bày tỏ lòng kính trọng Lão Tử 1300 năm trước. Bây giờ chùa Lạng Thiên và các di tích lịch sử khác đã bị phá hủy, và tất cả các đạo sĩ Đạo Lão đã bị bắt phải rời đi. Theo tiêu chuẩn của các Đạo sĩ, một khi một người trở thành Đạo sĩ, anh ta không bao giờ cạo râu hay cắt tóc. Tuy nhiên, bây giờ các Đạo sĩ bị bắt phải cắt tóc, bỏ áo choàng, và trở thành xã viên của công xã nhân dân [42]. Một số trong họ đã lấy con gái của các nông dân địa phương và trở thành con rể… Tại các thánh địa của Đạo Lão trong núi Lao Sơn ở tỉnh Sơn Đông, Thái Bình Cung, Thượng Thanh Cung, Hạ Thanh Cung, Đấu Mỗ Cung, Hoa Nghiêm Am, Ngưng Chân Quan, Quan Đế Miếu, ‘tượng thánh, bình cúng tế, các cuộn kinh điển Phật Giáo, di vật văn hóa, và miếu bia tất cả đều bị đập tan và đốt’… Văn Miếu ở Cát Lâm là một trong bốn miếu lớn nhất của Đạo Khổng tại Trung Quốc. Trong chiến dịch “Phá Tứ Cựu”, nó đã phải chịu thiệt hại nặng nề. [43]

Một Lối Đặc Biệt Phá Hủy Tôn Giáo

Lenin đã từng nói, “Cách dễ nhất để chiếm một thành lũy là công phá từ nội bộ.” Là một nhóm con cháu của chủ nghĩa Mácxít-Lêninnít, ĐCSTQ hiểu điều này một cách tự nhiên và ngấm ngầm.

Trong “Kinh Đại Bát Niết Bàn,” của Đại Thừa [44], đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã tiên đoán rằng sau khi Ngài nhập Niết Bàn, ma quỷ sẽ chuyển sinh làm hòa thượng, ni cô, và nam nữ cư sĩ phá hoại làm loạn Phật Pháp. Tất nhiên, chúng ta không thể xác nhận đức Phật Thích Ca Mâu Ni có ngụ ý gì một cách chính xác. Tuy nhiên, sự phá hoại Đạo Phật của ĐCSTQ thực sự đã bắt đầu bằng cách thành lập một “mặt trận thống nhất” với một số tín đồ đạo Phật. Thậm chí họ đã gửi một số thành viên Đảng cộng sản bí mật tới xâm nhập tôn giáo trực tiếp và phá hoại nội bộ. Trong một cuộc họp phê bình trong Cách Mạng Văn Hóa, ai đó đã hỏi Triệu Phác Sơ, phó chủ tịch Hiệp Hội Phật Giáo Trung Quốc lúc đó, “Ông là một Đảng viên, tại sao ông lại tin vào Phật Giáo?”

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã đạt Ngộ trọn vẹn và cao nhất qua “giới, định, và tuệ.” Vì thế trước khi Ngài nhập Niết Bàn, ngài đã hướng dẫn đồ đệ của ngài “giữ gìn và duy trì giới cấm, chớ để giảm bớt hay vi phạm”. Ngài cũng đã cảnh cáo, “Những người vi phạm Giáo Huấn bị trời, rồng, ma quỷ và thần ghê tởm. Tiếng xấu của họ sẽ lan xa và rộng... Khi cuộc sống của họ kết thúc, họ sẽ phải chịu đau khổ trong địa ngục để trả nghiệp, và gặp phải sự phán quyết cuối cùng không lay chuyển được. Sau đó họ sẽ xuất hiện. Họ sẽ tiếp tục chịu đau khổ bằng cách mang thân của ma đói và thú vật. Họ sẽ chịu đau khổ vô tận trong luân hồi như thế này mà không được giải thoát.” [45]

Các thầy tu Phật giáo chính trị vểnh những cái tai điếc trước những lời cảnh cáo của đức Phật. Năm 1952, ĐCSTQ gửi đại diện tới tham dự lễ ra mắt Hội Phật Giáo Trung Quốc. Tại buổi lễ này, nhiều tín đồ đạo Phật trong hội đề nghị bãi bỏ những giới luật của Phật giáo. Họ tuyên bố rằng những nguyên tắc này đã làm cho nhiều nam nữ thanh niên chết. Một số người thậm chí lại còn ủng hộ rằng “con người nên tự do tin vào bất kỳ tôn giáo nào. Nên cũng có tự do cho các thầy tu và nữ tu sĩ lập gia đình, uống rượu, và ăn thịt. Không ai nên can nhiễu vào những việc này.” Vào lúc đó, Sư Phụ Hư Vân có mặt tại buổi lễ và đã thấy rằng Phật giáo đang đối diện với nguy hiểm bị biến mất ở Trung Quốc. Ông ta đã bước ra chống đối lại những đề xuất này và kêu gọi gìn giữ những giáo huấn và hình thức của đạo Phật. Sư phụ Hư Vân sau đó đã bị vu khống, và bị gán nhãn hiệu là “phản cách mạng.” Ông bị giam giữ trong phòng trụ trì, và đã từ chối thức ăn và nước uống. Thậm chí ông không được ra khỏi phòng để sử dụng nhà vệ sinh. Ông cũng bị ra lệnh phải trao vàng, bạc và súng ngắn của ông. Khi Hư Vân trả lời rằng ông không có gì, ông đã bị đánh quá trầm trọng đến nỗi sọ của ông bị rạn và chảy máu, xương sườn của ông cũng bị gẫy. Hư Vân lúc đó đã 112 tuổi. Quân cảnh đã đẩy ông từ trên giường xuống đất. Khi họ quay trở lại ngày hôm sau và thấy rằng Hư Vân vẫn sống, họ lại đánh ông tàn nhẫn một lần nữa.

Hội Phật Giáo Trung Quốc được thành lập năm 1952 và Hội Đạo Sĩ Trung Quốc được thành lập vào năm 1957, cả hai đều rõ ràng công bố trong bản tuyên bố thành lập của mình rằng họ sẽ ở “dưới sự lãnh đạo của chính phủ Nhân Dân.” Trong thực tế, họ ở dưới sự lãnh đạo của ĐCSTQ vô Thần. Cả hai hội đều cho thấy rằng họ sẽ chủ động tham gia vào các hoạt động xây dựng và sản xuất, và thực thi các chính sách của chính quyền. Họ đã bị chuyển hóa thành các tổ chức thế tục hoàn toàn. Tuy vậy những tín đồ Đạo Phật và Đạo Lão, những người mà đã dành hết cho, và tuân theo các giáo huấn đã bị gán nhãn hiệu là ‘phản cách mạng’, hoặc là thành viên của những môn phái mê tín và các bang hội bí mật. Dưới khẩu hiệu cách mạng “làm trong sạch các tín đồ Đạo Phật và Đạo Lão”, họ đã bị bỏ tù, bắt phải “cải tạo qua lao động,” hoặc ngay cả bị xử tử. Thậm chí những tôn giáo truyền bá từ phương Tây, như là Cơ Đốc Giáo và Thiên Chúa Giáo cũng không được tha.

Dựa trên thống kê được đưa ra trong cuốn sách Đảng Cộng Sản Trung Quốc Đã Khủng Bố Tín Đồ Thiên Chúa Giáo Thế Nào được xuất bản năm 1958, ngay cả chỉ trong con số giới hạn các tài liệu đã được xuất bản, đã vạch ra cho thấy rằng trong số những mục sư mà bị gán là “địa chủ” hoặc “ác bá”, thì một con số gây sửng sốt, có 8.840 người bị giết và 39.200 người bị bắt vào các trại lao động. Trong số những mục sư bị gán là “phản cách mạng” có 2.450 người bị giết, và 24.800 người bị bắt vào những trại lao động. [46]

Các tôn giáo đều là các pháp môn mà con người rời bỏ ràng buộc của thế giới trần tục để tu luyện chính mình. Họ nhấn mạnh vào “bờ bên kia” (bờ của giác ngộ hoàn toàn) và “thiên đàng”. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã từng là một vị hoàng tử Ấn Độ. Để tìm kiếm giải thoát [47], một trạng thái mà trong đó người tu luyện đạt được thanh tịnh trong tâm, trí tuệ cao hơn, giác ngộ hoàn toàn, và Niết Bàn, [48] Ngài đã từ bỏ ngai vàng và đi vào một ngọn núi có nhiều cây để tu luyện bằng cách trải qua kinh nghiệm những gian khổ và cực nhọc. Trước khi đức Chúa Giê su giác ngộ, ma quỷ mang ngài tới tột đỉnh của một ngọn núi, cho ngài thấy tất cả các vương quốc trên thế giới trong tất cả sự tráng lệ của nó. Ma quỷ nói, “Nếu ngài quỳ xuống và tôn thờ tôi, tôi sẽ cho ngài tất cả những thứ này.” Nhưng đức Chúa Giê su đã không bị dụ dỗ. Tuy vậy những thầy tu và mục sư chính trị, những người đã thành lập mặt trận thống nhất với ĐCSTQ, đã tạo ra hàng loạt những lừa đảo và dối trá như là “Nhân gian Phật giáo”, và “tôn giáo là chân thật, và chủ nghĩa xã hội cũng như vậy”. Họ tuyên bố rằng “không có sự mâu thuẫn giữa bờ bên này và bờ bên kia.” Họ khuyến khích các tín đồ Đạo Phật và Đạo Lão theo đuổi hạnh phúc, danh tiếng, sự tráng lệ, sự giàu có và địa vị trong cuộc đời này, và đã thay đổi các học thuyết tôn giáo và ý nghĩa của chúng.

Đạo Phật nghiêm cấm sát sinh. ĐCSTQ giết người như ruồi trong sự “ngăn chặn phản cách mạng.”[49]. Các thầy tu chính trị ngay sau đó đã giả mạo phán quyết rằng “giết những kẻ phản cách mạng là một việc thiện còn lớn hơn nữa”. Trong “Cuộc Chiến Chống Lại Sự Xâm Lược Của Mỹ và Giúp Đỡ Triều Tiên” (1950-1953)[50], ngay cả các thầy tu còn bị gửi trực tiếp tới chiến tuyến để chém giết.

Lấy Cơ Đốc giáo làm một ví dụ khác. Năm 1950, Ngô Diệu Tông[51] thành lập một giáo hội “Tam Tự”, nó theo nguyên tắc tự trị (quản), tự dưỡng và tự truyền. Ông ta tuyên bố rằng họ sẽ đập tan “chủ nghĩa đế quốc”, và chủ động tham ra “Cuộc Chiến Chống Lại Sự Xâm Lược Của Mỹ và Giúp Đỡ Triều Tiên”. Một người bạn tốt của ông ta đã bị tù hơn 20 năm vì từ chối tham gia Tam Tự và đã chịu đựng đủ loại tra tấn và làm nhục. Khi anh ta hỏi Ngô Diệu Tông, “Anh nghĩ thế nào về những sự mầu nhiệm mà đức Chúa Giêsu đã thực hiện?” Ngô đã trả lời, “Tôi vứt bỏ tất cả chúng”.

Không công nhận các sự mầu nhiệm của đức Chúa Giêsu là đồng nghĩa với không công nhận thiên đường của đức Chúa Giêsu. Làm thế nào mà một người có thể được coi là một tín đồ đạo Cơ Đốc khi người đó thậm chí không công nhận thiên đường mà đức Chúa Giêsu ngự trị? Tuy nhiên, là người sáng lập của giáo hội “Tam Tự”, Ngô Diệu Tông đã trở thành một thành viên của Ban Cố Vấn Chính Trị đương nhiệm. Khi ông ta đứng trước Đại Hội Trường Nhân Dân [52], ông ta chắc chắn đã hoàn toàn quên những lời của đức Chúa Giêsu: “Các con phải yêu kính Thượng Đế với tất cả trái tim của con, với tất cả linh hồn của con, và với tất cả ý chí của con. Đây là điều răn đầu tiên và vĩ đại nhất.” (Matthew, 22:37-38) “Trả lại Caesar những gì của Caesar; và trả lại Thượng Đế những gì là của Thượng Đế” (Matthew, 22:21)

ĐCSTQ đã sung công các tài sản của chùa, bắt các thầy tu và nữ tu nghiên cứu chủ nghĩa Mácxít-Lêninnít để tẩy não họ, và thậm chí bắt họ phải lao động. Ví dụ, có một “công trường Phật Giáo” ở thành phố Ninh Ba, tỉnh Chiết Giang. Hơn 25000 thầy tu và nữ tu đã từng bị bắt phải làm việc ở đó. Còn lố bịch hơn nữa là ĐCSTQ khuyến khích các thầy tu và nữ tu lập gia đình để làm tan rã Phật giáo. Ví dụ, ngay trước Ngày Phụ Nữ 8/3 năm 1951, Hội Phụ Nữ ở thành phố Tràng Sa, tỉnh Hồ Nam đã ra lệnh cho tất cả các nữ tu trong tỉnh phải quyết định lập gia đình trong một vài ngày. Thêm vào đó, các thầy tu trẻ và khỏe bị bắt tham gia quân ngũ và bị gửi tới chiến trường để phục vụ như là bia đỡ đạn!

Nhiều môn phái ở Trung Quốc đã bị tan rã dưới sự đàn áp bạo lực của ĐCSTQ. Những người ưu tú chân chính trong Đạo Phật và Đạo Lão cũng bị đàn áp. Trong số những người còn lại, nhiều người đã trở lại cuộc sống thế tục, và nhiều người khác đã là những Đảng viên bí mật chuyên mặc áo cà sa, [54] áo thụng của các Đạo sỹ, hoặc áo dòng của các linh mục để bóp méo kinh Phật, tiêu chuẩn Đạo Lão và Kinh Thánh, và để kiếm cách biện minh cho các chiến dịch của ĐCSTQ từ những lý luận căn cứ của nó.

Tìm bài và tác giả

Thông báo chấm dứt cộng tác với ông Nguyễn Gia Kiểng

logo_taphop_2016"...Tiếp theo “Tuyên bố bất tín nhiệm Thường trực THDCĐN nhiệm kỳ 2014 -2016”ngày 01/12/2016, chúng tôi chấm dứt mọi sự cộng tác với ông Nguyễn Gia Kiểng (cựu Thường trực Ban lãnh đạo THDCĐN) kể từ ngày hôm nay..."

Đọc tiếp


 

Hồi ký trùm gián điệp Đông Đức Markus Wolf