Cửu bình - Bài bình luận số 2 (Đại Kỷ Nguyên)

Bạn đánh giá:  / 1
DỡHay 
Chọn cỡ chữ

Bài bình luận số 2

Đảng Cộng Sản Trung Quốc lập nghiệp như thế nào?

Lời mở đầu


Một người đàn ông Trung Hoa
nhìn bức vẽ lãnh tụ Cộng Sản Trung Quốc
Mao trạch Đông đang tuyên cáo
sự thành lập Nước Cộng Hòa Nhân Dân
tại cửa Cấm Thành năm 1949. C
ho dù Đảng Cộng Sản Trung Quốc
tự nhận như vậy, thì trái lại lịch sử
của ĐCSTQ là đầy máu của kẻ vô tội
và bị lường gạt
(Ảnh: Goh Chai Hin/AFP/Getty Images)

Theo sách "Thuyết Văn Giải Tự" [1] từ văn bản của Xu Shen (147 AD đời nhà Đông Hán), thì chữ Hán “Đảng” có nghĩa là “bè” hay là “bọn”; theo mẫu tự truyền thống là ghép từ chữ “thượng” ở trên ( thuộc về bộ Tiểu và có nghĩa là 'ưa chuộng') với chữ "hắc" (thuộc về bộ Hắc là bộ gốc nằm ở dưới và có nghĩa là 'đen tối' ). Ghép hai chữ ấy lại thành chữ 'Đảng' có nghĩa là “ưa chuộng cái đen tối”. “Đảng” hay “đảng viên” (ý là “bè” hay “bè lũ”) mang một ý nghĩa mà ngài Khổng Tử đã từng giảng: "Ngô văn quân tử bất đảng" ( tạm dịch “người quân tử nổi tiếng, ta cũng không a dua theo ai mà kéo bè kết đảng”). Trong "Luận Ngữ" của ngài giảng rằng: "Tương trợ nặc phi viết đảng", ( tạm dịch “giúp đỡ lẫn nhau che đậy hành vi bất chánh thì chính là bè đảng)[2]. Trong lịch sử Trung Quốc, các tập đoàn chính trị nhỏ thường thường bị xem là ‘bè đảng’, mà theo văn hóa truyền thống Trung Hoa, thì là kéo bè kết bọn làm điều xấu; nếu đem so với câu 'hồ bè cẩu đảng' thì cũng là cùng một nghĩa.

Vậy thì tại sao Đảng Cộng Sản lại xuất hiện, trưởng thành và thậm chí còn chiếm đoạt chính quyền hiện tại ở Trung Quốc? Từ xưa đến nay Đảng Sộng Sản Trung Quốc liên tục dỉ tai người ta rằng lịch sử chọn Đảng Cộng Sản Trung Quốc, rằng nhân dân Trung Quốc đã lựa chọn Đảng Cộng Sản, rằng “không có Đảng Cộng Sản thì không có một Trung Quốc mới.”

Vậy có phải người dân Trung Quốc đã chủ động chọn Đảng Cộng Sản hay không?   Hay là chính Đảng Cộng Sản đã tụ tập bè đảng để cưỡng ép nhân dân Trung Quốc phải chấp nhận chúng? Chúng ta chỉ có thể tìm thấy câu trả lời này từ lịch sử.

Từ cuối đời Mãn Thanh (1644-1911) cho đến đầu thời kỳ Dân Quốc (1911–1949); Trung Quốc đã trải qua bao nhiêu chấn động từ bên ngoài và phải trải qua bao nhiêu cải cách ở bên trong. Xã hội Trung Hoa rối loạn thảm thương. Nhiều phần tử trí thức và sĩ phu ái quốc muốn cứu nước cứu dân. Tuy nhiên giữa lúc quốc gia suy yếu và hỗn loạn, ý thức ưu tư lo lắng của họ khởi lên càng nhiều, đưa đến trước hết là thất vọng và sau đó là hoàn toàn tuyệt vọng. Cũng giống như một người bệnh đi tìm bất cứ bác sĩ nào, họ tìm cách giải quyết từ bên ngoài Trung Quốc. Từ Anh Quốc cho đến Pháp Quốc, phương cách nào cũng thất bại, sau đó họ đổi sang cách của nước Nga. Họ không ngần ngại đưa ra một liều thuốc điều trị cực kỳ mãnh liệt với hy vọng rằng Trung Quốc sẽ nhanh chóng phục hồi.

Cuộc vận động ngày 4 tháng 5 vào năm 1919 là phản ảnh rõ rệt nỗi tuyệt vọng này. Một số người chủ trương chủ nghĩa Vô Chính Phủ. Một số người đề xuất lật đổ học thuyết Nho Giáo, lại có một số người đề nghị du nhập văn hoá nước ngoài. Tóm lại, thái độ của họ là phủ nhận văn hoá truyền thống Trung Quốc và phản đối đạo lý Trung Dung của Nho Giáo. Vì nóng lòng muốn dùng biện pháp tắt nhanh hơn, những gì thuộc về truyền thống thì họ chủ trương lật đổ tất cả. Các phần tử cấp tiến này (với quan điểm cực đoan), một mặt không tìm ra phương sách cứu quốc gia, nhưng mặt khác họ lại tin tưởng chắc chắn vào lý tưởng và ý chí của chính mình. Họ cho rằng thế giới này thực ra không còn thuốc gì để cứu chữa nữa, và tin rằng chỉ có chính mình mới tìm ra giải pháp thích hợp cho sự phát triển tương lai của Trung Quốc. Do đó họ theo cách mạng và bạo lực với đầy nhiệt tình to lớn.

Kinh nghiệm khác nhau giữa các nhóm trí sĩ yêu nước khác nhau đã dẫn đến lý luận, học thuyết và đường lối khác nhau. Cuối cùng một nhóm người đã gặp người liên lạc của Đảng Cộng Sản từ Liên Xô. Tư tưởng “chiếm đoạt chính quyền bằng cách mạng bạo lực.” của Marx và Lenin đã được nghênh đón với lòng nôn nóng của họ, và cũng phù hợp với nguyện vọng cứu nước cứu dân của họ. Lập tức họ thành lập một liên minh. Thế là, chủ nghĩa Cộng Sản, một tư tưởng nước ngoài hoàn toàn xa lạ, được đem vào nước Trung Hoa cổ xưa. Tổng cộng là có 13 đại biểu tham dự Đại Hội Đảng Cộng Sản Trung Quốc đầu tiên. Sau đó, một số thì chết, một số bỏ đi, một số phản bội Đảng Cộng Sản Trung Quốc, hoặc chạy theo cơ hội mà làm việc cho quân Nhật đang chiếm đóng và trở thành Hán gian, hoặc là ly khai khỏi Đảng Cộng Sản Trung Quốc và gia nhập Quốc Dân Đảng. Đến năm 1949, khi Đảng Cộng Sản Trung Quốc chiếm được quyền hành của Trung Quốc, chỉ có Mao Trạch Đông và Đổng Tất Vũ là còn lại trong số 13 đảng viên lúc khởi đầu. Không rõ là những người thành lập Đảng Cộng Sản Trung Quốc lúc đó có biết rằng “thần linh” mà họ rước về từ Liên Xô tức là một "tà linh” hay không, và không rõ là họ có biết “linh dược” mà họ mang về để làm quốc gia cường mạnh kỳ thực là một “thuốc độc” giết người hay không?

Đảng Cộng Sản Nga (Bolshevik, sau này được xem là Đảng Cộng Sản Liên Xô), ngay sau khi thành công trong cách mạng, đã có dã tâm dòm ngó Trung Quốc. Năm 1920, Liên Xô thành lập văn phòng Bí thư Viễn Đông tại Tây Bá Lợi Á, là một chi nhánh của Cộng Sản Quốc Tế Đệ Tam, với nhiệm vụ thành lập và quản lý Đảng Cộng Sản tại Trung Quốc và các quốc gia khác. Sumiltsky là trưởng phòng, và Grigori Voitinsky là phụ tá. Họ cùng với Trần Độc Tú và một số người khác bắt đầu chuẩn bị để thành lập Đảng Cộng Sản Trung Quốc. Đề nghị được đưa lên văn phòng Bí thư Viễn Đông vào tháng 6 năm 1921 ở Tây Bá Lợi Á với kế hoạch thành lập một chi nhánh Trung Quốc của Cộng Sản Quốc Tế Đệ Tam, đã chứng nhận rằng Đảng Cộng Sản Trung Quốc là một chi bộ của Cộng Sản Quốc Tế Đệ Tam. Vào ngày 23 tháng bảy năm 1921, dưới sự trợ giúp của Nikolsky và Maring của văn phòng Bí Thư Viễn Đông, Đảng Cộng Sản Trung Quốc đã chính thức được thành lập.

Từ đó cuộc vận động chủ nghĩa Cộng Sản đã bị đưa vào Trung Quốc như là một thí nghiệm, cũng từ đó sinh mạng của Đảng được đặt trên tất cả; nó chinh phục tất cả, và bắt đầu lừa bịp Trung Quốc vì thế mà liên tục mang đến vô vàn tai họa cho Trung Quốc.

I. Sự lập nghiệp của Đảng Cộng Sản là một quá trình liên tục tích tụ tà ác

Mang một thứ “tà linh” ngoại lai, như là Đảng Cộng Sản, vào Trung Quốc, một quốc gia với lịch sử 5 ngàn năm văn minh, không phải là một sự việc dễ dàng, vì nó hoàn toàn không hợp với truyền thống của người Trung Hoa. Với "tư tưởng đại đồng của chủ nghĩa Cộng Sản”, toàn dân và những nhà trí thức yêu nước, những người muốn phục vụ quốc gia, đã bị Đảng Cộng Sản Trung Quốc lừa bịp. Thêm vào đó, Đảng còn bóp méo những lý luận của chủ nghĩa Cộng Sản, một chủ nghĩa mà trước đây đã bị Lenin bóp méo một cách nghiêm trọng rồi, để dựng nên một lý luận căn bản cho việc tận diệt tất cả những tư tưởng, nguyên tắc đạo đức cổ truyền. Ngoài ra, sự bóp méo lý luận của chủ nghĩa Cộng Sản chính là dùng để tiêu diệt bất cứ những gì làm bất lợi cho sự thống trị của Đảng Cộng Sản, và để tiêu diệt tất cả giai cấp xã hội và bất cứ nhân sĩ nào mà có thể đe dọa đến sự thống trị của chúng. Đảng Cộng Sản Trung Quốc áp dụng sự tiêu diệt tín ngưỡng qua Cách Mạng Công Nghiệp , cũng như áp dụng triệt để hơn học thuyết Vô Thần của chủ nghĩa Cộng Sản . Đảng Cộng Sản Trung Quốc còn thừa kế sự phủ nhận quyền tư hữu trong chủ nghĩa Cộng Sản , và chúng áp dụng cách mạng bạo lực theo lý thuyết của Lenin. Đồng thời Đảng Cộng Sản Trung Quốc lại còn thừa kế và phát triển phần tệ hại nhất trong chế độ quân chủ của người Trung Hoa.

Lịch sử của Đảng Cộng Sản Trung Quốc là một quá trình dần dần thu nhập bất cứ đường lối tàn bạo, tà ác nào, từ trong và ngoài nước. Trong quá trình này, Đảng Cộng Sản Trung Quốc đã làm hoàn hảo chín cái nhân di truyền mà "đặc sắc Trung Quốc" là: Tà ác, lường gạt, xúi giục, lưu manh, gián điệp, cướp đoạt, đấu tranh, tiêu diệt, khống chế. Những cái nhân di truyền này được thừa truyền liên tục, và qua mỗi lần nguy cơ khủng hoảng, thì chúng lại càng tiến đến một bước mà thủ đoạn và trình độ tà ác của Đảng Cộng Sản càng mạnh mẽ và phát triển hơn.

1. Nhân di truyền thứ nhất: Tà ác - Khoác lên tấm áo choàng tà ác của chủ nghĩa Marx-Lenin

Điều đầu tiên Đảng Cộng Sản Trung Quốc (ĐCSTQ) thấy hấp dẫn ở chủ nghĩa Marx chính là: “Dùng cách mạng bạo lực để đập tan chế độ cũ, tạo dựng chính quyền chuyên chính của giai cấp vô sản”. Đó chính là cội rễ tà ác trong chủ nghĩa Marxít-Lêninít.

Lý luận trong chủ nghĩa duy vật của Karl Marx (Các-Mác) là khái niệm về kinh tế rất chật hẹp nông cạn dựa trên sức sản xuất, quan hệ sản xuất, và giá trị thặng dư. Vào thời kỳ đầu của giai đoạn chủ nghĩa tư bản chưa phát triển, Karl Marx đã dự đoán thiển cận rằng chủ nghĩa Tư bản sẽ sớm diệt vong, rằng giai cấp vô sản sẽ thắng lợi. Trên thực tế, lịch sử đã phủ nhận điều ấy. Cách mạng bạo lực và sự chuyên chính của giai cấp vô sản trong chủ nghĩa Marxít-Lêninít chủ trương áp đặt nền chính trị cường quyền, độc tài với giai cấp vô sản làm chủ. Bản Tuyên ngôn của Cộng sản đã lấy sự đối lập giai cấp và đấu tranh giai cấp để trình bày quan điểm lịch sử và quan điểm triết học của Đảng cộng sản. Mục đích đấu tranh của bọn vô sản là để đả phá mọi đạo đức truyền thống và quan hệ xã hội, và cướp đoạt chính quyền. Ngay từ khi xuất hiện, chủ nghĩa Cộng Sản đã đối chọi với tất cả những gì truyền thống.

Thiên tính tự nhiên của con người thông thường là tẩy chay bạo lực. Con người trong bạo lực biến đổi thành bạo ngược. Học thuyết bạo lực của Đảng cộng sản đều bị nhân loại, trên bản tánh, phủ nhận, từ chối ở khắp nơi. Tất cả các hệ tư tưởng, triết học, truyền thống trong quá khứ đều không có chủ trương nào như thế cả. Hệ thống khủng bố của cộng sản đúng là từ trên không rơi xuống trái đất.

Loại quan niệm tà ác này có tiền đề là “nhân định thắng thiên”, con người cải tạo lại thế giới. Những lý tưởng như “giải phóng toàn nhân loại”, “thế giới đại đồng”[3] mà Đảng cộng sản dùng để lường gạt, đã thu hút được không ít người, đặc biệt là những người quan tâm đến tình trạng của con người, hoặc khao khát lập sự nghiệp trong xã hội. Bọn họ quên rằng ở trên còn có Trời. Những lời dối trá rất đẹp đẽ như xây dựng “thiên đường tại nhân gian" đã khiến họ miệt thị truyền thống, coi thường sinh mạng người khác, mà thực ra là làm cho sinh mạng của chính mình còn nhẹ hơn lông hồng..

“Chủ nghĩa Cộng Sản thế giới” được con người chế tạo ra để phụng thờ như chân lý, kích động nhiệt tình của người ta để “sục sôi nhiệt huyết trong tim, quyết phen này sống chết, …” [4]. Đảng cộng sản sử dụng ý niệm hoang đường, tuyệt đối như thế để cắt đứt quan hệ giữa con người và Trời ở trên, cắt đứt chính họ với tổ tông, với huyết mạch truyền thống của dân tộc. Từ đó khiến người ta hiến thân cho chủ nghĩa Cộng Sản hoang đường, và gia trì năng lượng tàn sát, bạo ngược của Đảng Cộng Sản.

2. Nhân di truyền thứ hai: Lường gạt - ma quỷ muốn giả dạng thần linh thì phải lường gạt.

Kẻ tà chắc chắn phải lường gạt.  Để lợi dụng công nhân, Đảng Cộng Sản tán dương họ thành “giai cấp tiên tiến nhất”, “đại công vô tư”, “giai cấp lãnh đạo”, “đội quân tiên phong của giai cấp cách mạng vô sản”… Để lợi dụng nông dân, Mao Trạch Đông vuốt ve “không có bần nông thì không có cách mạng, đả kích nông dân chính là đả kích cách mạng”[5] rồi hứa hẹn “người cày có ruộng”… Đến lúc cần giai cấp tư sản ủng hộ, Đảng cộng sản thổi phồng họ lên thành “bạn đồng hành của cách mạng vô sản” rồi hứa hẹn một chế độ “dân chủ cộng hoà”. Khi Đảng cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) gặp nguy cơ suýt bị Quốc Dân Đảng tiêu diệt, bèn hô hào “người Trung Quốc không hại người Trung Quốc”, và hứa hẹn sẽ phục tùng sự lãnh đạo của Quốc Dân Đảng. Kết quả là gì? Kháng chiến Trung-Nhật vừa kết thúc(1937-1945), ĐCSTQ gom toàn lực lật đổ chính quyền Quốc Dân Đảng. Sau khi chiếm đoạt chính quyền không lâu,ĐCSTQ lập tức tiêu diệt giai cấp tư sản, và biến công nhân và nông dân thành giai cấp vô sản triệt để, chẳng còn một chút sở hữu gì.

‘Thống nhất chiến tuyến’ là thủ đoạn lường gạt điển hình của Đảng Cộng Sản. Để giành thắng lợi trong cuộc nội chiến giữa Đảng cộng sản và Quốc Dân Đảng, Đảng cộng sản Trung Quốc đã thay đổi kế sách trước đó vốn coi địa chủ phú nông là giai cấp thù địch phải giết bỏ, mà thay bằng “chính sách thống nhất chiến tuyến lâm thời”. Ngày 20 tháng 7 năm 1947, Mao Trạch Đông ra chỉ thị: “ngoài một số ít những phần tử phản cách mạng, thì phải có thái độ hoà hoãn, nới lỏng với giai cấp địa chủ… giảm bớt kẻ thù”. Nhưng sau khi ĐCSTQ chiếm được chính quyền, địa chủ phú nông vẫn không thoát khỏi vận mạng của ‘quần thể bị tiêu diệt triệt để'.

Nói một đằng làm một nẻo là điều bình thường đối với Đảng cộng sản. Khi Đảng Cộng Sản cần lợi dụng đảng phái dân chủ, liền kêu gọi “sống chung lâu bền, giúp nhau quản lý, thành thật với nhau, vinh nhục có nhau, v. v.”.. Bất cứ ai không đồng ý hay từ chối theo tư tưởng, hành xử, và tổ chức của Đảng đều bị tiêu diệt. Marx, Lenin, và các lãnh tụ Đảng cộng sản đều từng tuyên bố thẳng rằng, quyền lực chính trị của Đảng Cộng Sản không chia xẻ với bất cứ ai hay tổ chức nào khác. Ngay từ đầu, độc tài chuyên chế đã là nhân di truyền bất di bất dịch của chủ nghĩa cộng sản. Đảng cộng sản Trung Quốc là bạo ngược và độc tài. Nó chưa bao giờ cùng sinh sống thành thực với bất cứ đảng phái chính trị hay tập đoàn nào cả, bất kể là trong thời kỳ cướp được chính quyền hay nắm chính quyền, kể cả vào những thời kỳ “nới lỏng” nhất.

Bài học lịch sử dạy rằng không thể tin vào bất cứ hứa hẹn nào của Đảng Cộng Sản, đừng mong tưởng Đảng Cộng Sản thực hiện sự cam kết. Ai tin lời Đảng Cộng Sản vào bất cứ vấn đề gì, rồi sẽ có ngày phải trả giá bằng tính mạng của chính mình.

3. Nhân di truyền thứ ba: Xúi bẩy - gây hận thù trong nhân dân, phân nhóm đấu nhau

Lường gạt là để kích động thù hận. Đấu tranh thì phải dựa vào thù hận. Đâu không có thù hận, thì Đảng Cộng Sản xúi bẩy, tạo ra thù hận.

Loại hình thức chế độ dòng tộc và sở hữu đất đai đã ăn sâu vào nông thôn Trung Quốc. Đó là chướng ngại lớn trên con đường thiết lập chính quyền của Đảng Cộng Sản. Xã hội nông thôn vốn là hài hoà. Quan hệ giữa địa chủ có sở hữu đất đai và nông dân được thuê dùng không phải là quan hệ đối lập tuyệt đối. Địa chủ cho nông dân thuê đất canh tác, còn nông dân dựa vào đó để sinh sống và nộp tiền thuê hay thóc lúa cho địa chủ. Địa chủ và nông dân dựa vào nhau mà sống qua hàng bao nhiêu thế hệ như thế.

Quan hệ ‘dựa vào nhau để sinh tồn’ ở một mức độ nào đó đã bị Đảng Cộng Sản bóp méo thành quan hệ của giai cấp bóc lột, giai cấp đối nghịch. Nó biến đổi bè bạn thành cừu địch, biến hài hoà thành chống đối, làm thành thù hận, làm thành đấu tranh, biến hợp lý thành vô lý, biến trật tự thành hỗn loạn, biến đổi cộng hoà thành chuyên chế. Đảng Cộng Sản chủ trương cướp đoạt tài sản, vừa cướp của giết người, giết bản thân người địa chủ phú nông đó, giết người nhà của địa chủ phú nông, rồi giết đến cả gia tộc của địa chủ phú nông. Có nhiều người nông dân không đành lòng theo kẻ cường bạo nên ban ngày thì cướp nhưng đến đêm lại quay lại trả đồ cho gia chủ; rồi bị đội công tác biết được và bị chỉ trích là “giác ngộ về giai cấp” không cao.

Bạch mao nữ [6]vốn là một câu chuyện xưa về tiên nữ, không có liên quan gì đến đấu tranh giai cấp hay áp bức bóc lột. Nhưng đội văn công đã sửa đổi biên soạn thành kịch nói, ca kịch, rồi cả kịch múa ballet, và dùng để xúi bẩy, kích động thù hận giai cấp.

Vào Thế Chiến Thứ Hai, khi Nhật Bản xâm lược Trung Quốc, Đảng cộng sản đã không đánh Nhật, mà còn công kích chính phủ Quốc Dân Đảng là bán nước vì không đánh Nhật, thậm chí ngay lúc quốc gia lâm nguy, nó còn xúi bẩy người dân chống lại Quốc Dân Đảng.

Xúi bẩy thù hận giữa một nhóm người dân này với một nhóm người dân khác là một thủ đoạn rập khuôn cho các cuộc vận động của Đảng Cộng Sản. Công thức phân chia giai cấp dân chúng ‘95:5’ cũng từ đó mà ra. Đảng Cộng Sản sau này đều dùng nó trong các phong trào chính trị, cho đến nay đã không ngừng phát triển thành một thủ đoạn nhuần nhuyễn. Đảng cộng sản chia dân chúng thành hai phần, 95% và 5%, trong đó nếu rơi vào phần 95% thì an toàn vô sự, còn rơi vào phần 5% thì bị coi như kẻ thù phải bị thanh trừng đấu tố. Vì sợ hãi và muốn an toàn, bảo hộ cho chính mình mà người dân phải tranh đấu để chuyển sang phần 95%. Hậu quả là họ hãm hại lẫn nhau, tạo thù hận sâu sắc giữa mọi người.

4. Nhân di truyền thứ tư: Lưu manh, côn đồ ---Lấy lưu manh, cặn bã xã hội lập thành đội ngũ cơ bản.

Lưu manh, côn đồ là cơ sở của tà ác, muốn tà thì phải dùng bọn lưu manh, côn đồ, cặn bã của xã hội. Những cuộc cách mạng thường thường đều xuất phát từ những phần tử lưu manh, cặn bã trong xã hội nổi loạn lên mà thành. Ví dụ điển hình là cách mạng của ‘Công xã Pa-ri (the Paris commune)', mà thực sự bao gồm đốt phá, giết người, bạo ngược được dẫn đầu bởi bọn lưu manh, cặn bã xã hội. Ngay Karl Marx cũng khinh rẻ giai cấp vô sản lưu manh này [7], trong bản Tuyên ngôn của Cộng sản [8], Marx viết rằng “Cái ‘giai cấp nguy hiểm’, cặn bã xã hội, mà là thành phần thối nát tiêu cực bị vứt đi bởi tầng lớp hạ cấp nhất trong xã hội cũ, thì có thể ở chỗ này chỗ nọ được cách mạng vô sản lôi cuốn vào phong trào, nhưng điều kiện sinh hoạt của họ lại khiến họ sẵn sàng bán mình cho những mưu đồ của phe phản động.” Còn nông dân, trên phương diện khác, theo Karl Marx và Engels, được coi là có tính phân tán và tính ngu muội nên “không xứng đáng là một giai cấp”.

Đảng cộng sản Trung Quốc còn phát triển xa hơn những thứ trong tư tưởng Karl Marx về phương diện tà ác. Mao Trạch Đông nói: “lưu manh, côn đồ, cặn bã xã hội là tầng lớp vứt đi của xã hội, nhưng trong cách mạng nông thôn, thì họ là dũng cảm nhất, triệt để nhất, kiên quyết nhất” [9]. Bọn lưu manh vô sản là đội ngũ gia tăng bạo lực và duy trì chính quyền ở nông thôn cho Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) vào thời kỳ đầu. Danh từ ‘cách mạng’ trong tiếng Trung Hoa có nghĩa là ‘cắt đứt sinh mạng’ (= giết), trên thực tế nó diễn ra đúng như vậy. Đối với người dân lương thiện, nó thật kinh khủng và khiếp hãi. Ban đầu Đảng Cộng Sản tự nhận là ‘vô sản lưu manh’, nhưng đến thời Cách mạng Văn hoá, bọn chúng cảm thấy danh từ ‘lưu manh’ như thế không tốt, khó lọt tai, nên bỏ nó đi, và tự nhận là người ‘vô sản’.

Bọn lưu manh, côn đồ thường có biểu hiện vô lại một cách ngu xuẩn. Có lần bị chỉ trích là độc tài, viên chức Đảng cộng sản đã biểu lộ khuynh hướng côn đồ, vô liêm sỉ mà chẳng ngượng miệng trả lời trắng ra rằng: “anh nói đúng, chúng tôi chính là như vậy. Qua tất cả những kinh nghiệm mà người Trung Quốc trải qua mấy chục năm nay, đòi hỏi chúng tôi phải thực hành “nhân dân dân chủ chuyên chính”. Chúng tôi gọi đó là “nhân dân dân chủ độc tài”.

5. Nhân di truyền thứ năm: Gián điệp - thâm nhập, ly gián , mua chuộc, phá tan, thay thế

Lừa dối, kíck động bạo lực, sử dụng bọn lưu manh, cặn bã xã hội còn chưa đủ, những kỹ thuật gián điệp và gây chia rẽ cũng được Đảng Cộng Sản sử dụng thành thạo. Nằm vùng là sở trường của Đảng Cộng Sản. Mấy thập niên trước đây có ba gián điệp ‘xuất sắc đứng đầu’— Tiền Tráng Phi, Lý Khắc Nông và Hồ Bắc Phong — đều ở dưới sự chỉ huy của Trần Canh, trưởng khoa số 2 Trường Đặc vụ Trung ương của Đảng cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ). Tiền Tráng Phi là thư ký đặc vụ và là tuỳ tùng thân tín của Từ Ân Tăng, chủ nhiệm Ban Điều Tra Trung Ương của chính phủ Quốc Dân Đảng, Tiền Tráng Phi đã bí mật gởi tin tức tình báo về điều quân chiến lược lần một và hai của Quốc Dân Đảng trong việc bao vây Đảng cộng sản ở tỉnh Giang Tây, rồi dùng hệ thống nội bộ chuyển thư của Trung Ương Quốc Dân Đảng mà gởi hai lần tới Lý Khắc Nông để hắn mang tay đến cho Chu Ân Lai [10]. Tháng 4 năm 1930, một nhóm đặc vụ hai-mặt do Ban Điều tra Trung ương Quốc Dân Đảng tổ chức và chu cấp chi phí đã được thành lập ở đông bắc Trung Quốc. Trên bề mặt, đó là của Quốc Dân Đảng do Tiền Tráng Phi chỉ huy, nhưng thực chất là của Đảng cộng sản dưới sự chỉ huy của Trần Canh.

Lý Khắc Nông ban đầu gia nhập Bộ Tổng tư lệnh Hải Lục Không quân Quốc Dân Đảng với chức vụ dịch giải mật mã. Chính Lý Khắc Nông đã giải mật mã tin khẩn cấp về việc bắt giữ và tạo phản của Cố Thuận Chương [11], một chỉ huy trưởng phòng An Ninh của Đảng cộng sản. Tiền Tráng Phi đã lập tức chuyển bức điện đã giải mã cho Chu Ân Lai, vì vậy một số lớn gián điệp của Đảng cộng sản mới thoát khỏi lưới.

Dương Đăng Doanh, một đặc vụ thân Cộng làm ở Ban Điều tra Trung Ương Quốc Dân Đảng, biệt phái ở Thượng Hải. Khi Đảng cộng sản thấy đảng viên nào không đáng tin nữa, liền ra lệnh cho Dương đi bắt họ và đem đi hành quyết. Một cán bộ lão thành của Đảng cộng sản ở Hà Nam, do làm mích lòng một đảng viên khác, vì thế liền bị phe của họ Dương giựt dây bầy mưu để tống giam ông ta vào nhà ngục của Quốc Dân Đảng trong nhiều năm.

Vào thời chiến tranh Giải Phóng [12] tình báo của Đảng cộng sản Trung Quốc đã cài được một tên nằm vùng là người rất thân cận với Tưởng Giới Thạch [13], đó là Lưu Phỉ, trung tướng và là thứ trưởng Bộ quốc phòng, và cũng là người nắm quyền điều động quân đội của Quốc Dân Đảng. Khi quân lính Quốc Dân Đảng còn chưa nhận được lệnh điều binh, thì tin tình báo đã lọt sang Diên An, tổng hành dinh của Đảng cộng sản. Quân Quốc Dân Đảng chưa đến thì Đảng cộng sản đã có kế hoạch phòng bị rồi. Có một lần Hùng Hướng Huy, bí thư và là tuỳ tùng thân tín của Hồ Tôn Nam [14] đã tiết lộ kế hoạch hành quân đánh Diên An cho Chu Ân Lai. Kết quả, khi Hồ Tôn Nam mang quân đến, chỉ thấy Diên An là cái thành trống không. Chu Ân Lai đã từng nói: “Mệnh lệnh tác chiến của Tưởng Giới Thạch còn chưa đến các Tư Lệnh Bộ Binh của họ Tưởng, mà Mao chủ tịch đã thấy được rồi”.

6. Nhân di truyền thứ sáu: Trấn lột - Trấn lột bằng thủ đoạn hoặc bạo lực, rồi thiết lập ‘trật tự mới’

Tất cả những gì Đảng cộng sản đạt được là từ cướp bóc mà ra. Khi Đảng Cộng Sản Trung Quốc (ĐCSTQ) dựng lập Hồng Quân để cai trị bằng quân sự, thì chúng cần phải có tiền cho võ khí đạn dược, lương thực, và quần áo. Do đó, Đảng cộng sản phải ‘gây quỹ’ qua hình thức là dùng thủ đoạn trấn lột nhà giàu địa phương hoặc cướp ngân hàng, hành tung giống hệt băng đảng đi cướp bóc. Ví dụ Lý Tiên Niệm [15], một lãnh đạo cao cấp trong quân đội Hồng Quân, có nhiệm vụ là điều hành Hồng Quân đi bắt cóc những người nhà giàu trong vùng Ngạn Tây tỉnh Hồ Bắc. Chúng không những chỉ bắt một người, mà còn chọn ra mỗi dòng tộc giàu có, bắt cóc lấy một người. Người bị bắt vẫn được sống để chúng dùng họ mà tống tiền nhiều lần gia đình nạn nhân để lấy tiền phục vụ cho Hồng Quân. Chỉ đến chừng nào Hồng Quân thỏa mãn đòi hỏi hoặc gia đình nạn nhân đã cạn kiệt tiền tài, chúng mới thả người ra, phần nhiều là lúc họ sắp chết. Có những trường hợp do bị khủng bố và tra tấn quá nhiều, nên chưa về đến nhà thì họ đã chết.

Dưới chiêu bài “đả đảo địa chủ để lấy ruộng”, Đảng Cộng Sản triển khai rộng rãi thủ đoạn trấn lột ra toàn xã hội, thay thế truyền thống với ‘trật tự mới’ của Đảng. Đảng Cộng Sản làm đủ điều ác, to có nhỏ có, và không làm được điều gì tốt cả. Nó thường dùng những món lợi nhỏ dụ dỗ người ta để xúi bẩy một số người đi tố cáo một số người khác. Kết quả là thiện lương và đạo đức trong xã hội bị hoàn toàn biến mất, và được thay thế bởi đấu tranh và giết chóc. “Cộng sản đại đồng” thực tế chính là đồng nghĩa với công khai trấn lột, cướp đoạt bằng bạo lực.

7. Nhân di truyền thứ bẩy: Đấu tranh — Tiêu hủy trật tự truyền thống và chế độ quốc gia

Lường gạt, xúi bẩy, lưu manh, thâm nhập nằm vùng đều là để cướp đoạt và đấu tranh. Triết lý của Đảng cộng sản là triết lý đấu tranh. Cách mạng của Cộng sản quyết không phải chỉ có đấu tranh, và cướp bóc vô tổ chức. Mao nói rằng: “ Mục tiêu chủ yếu trong sự công kích của nông dân là nhắm vào cường hào địa chủ, nhưng qua đó cũng đả phá sạch luôn tất cả các chế độ và các loại tư tưởng về gia pháp tổ tông, thanh lý tham quan ô lại, cũng như tập quán cũ của xóm làng.” [16]. Mao rõ ràng đã ra lệnh tiêu huỷ tất cả chế độ truyền thống và tập quán của nông thôn.

Đấu tranh của Đảng cộng sản còn bao gồm cả đấu tranh võ trang. “Cách mạng không phải là mở tiệc đãi khách, không phải là ngâm thơ làm văn, không phải là vẽ tranh thêu thùa; nó không phải là một thứ trang nhã kiểu cách, êm đềm thư thả, nhẹ nhàng nho nhã, khiêm cung ôn hoà. Cách mạng là bạo lực, là giai cấp này dùng bạo lực lật đổ giai cấp kia”[17]. Khi cướp đoạt chính quyền, tất phải dùng tranh đấu bạo lực. Chỉ mấy chục năm sau, nhân di truyền về đấu tranh như vậy lại được Đảng cộng sản dùng để ‘giáo dục’ thế hệ kế tiếp trong Cách mạng Văn hoá.

8. Nhân di truyền thứ tám: Diệt - Chế tạo một hệ thống lý luận hoàn chỉnh về diệt tuyệt quần thể

Đảng Cộng Sản làm rất nhiều việc gian ác, tuyệt tình nghĩa: hứa hẹn ‘thiên đường ở nhân gian’ cho trí thức, sau đó xếp họ vào ‘cánh Hữu’, rồi vào hàng thứ chín [18] của giai cấp thù địch và phải bị tiêu diệt cùng với địa chủ và các phần tử phản cách mạng. Nó còn làm những việc như cướp đoạt gia tài của các nhà tư bản và địa chủ, tiêu diệt địa chủ và phú nông, phá bỏ trật tự ở thôn quê, đảo lộn và cướp đoạt chính quyền địa phương, bắt cóc tống tiền phú nông, tẩy não tù binh, cải tạo giai cấp công thương và tư bản, cài gián điệp và ly gián Quốc Dân Đảng, ly khai khỏi Cộng sản quốc tế rồi sau đó phản bội Cộng sản quốc tế, trừ sạch phần tử đối lập qua nhiều cuộc vận động chính trị liên tiếp kể từ khi cướp được chính quyền năm 1949, đe doạ những đảng viên của mình, v.v., tất cả các việc làm đều rất tuyệt tình nghĩa.

Tất cả những sự việc kể trên đều dựa trên nền tảng lý luận của Đảng Cộng Sản về diệt tuyệt quần thể. Mỗi một cuộc vận động chính trị trong lịch sử Đảng cộng sản đều là một chiến dịch khủng bố với ý định diệt sạch một quần thể dân chúng. Ngay từ đầu, Đảng cộng sản đã bắt đầu chế tạo liên tục một hệ thống lý luận hoàn chỉnh về diệt tuyệt quần thể, mà đến từ những lý luận của Đảng cộng sản như — giai cấp luận, cách mạng luận, đấu tranh luận, bạo lực luận, chính quyền chuyên chế luận, vận động luận, đảng phái chính trị luận,… — toàn là tổng hợp của các kinh nghiệm thực tiễn đủ loại đủ kiểu về diệt tuyệt quần thể.

Điểm đặc sắc nhất trong việc diệt tuyệt quần thể của Đảng Cộng Sản là nó diệt tuyệt lương tri và nhân tính từ trên tư tưởng. Điều này phù hợp với phương pháp thống trị bằng bạo lực, khủng bố để phục vụ các lợi ích căn bản của tập đoàn. Nó phải tiêu diệt bạn vì bạn phản đối nó; nhưng cũng có thể phải tiêu diệt bạn chính vì bạn ủng hộ nó. Khi nó nhận thấy rằng cần phải tiêu diệt ai, thì nó phải tìm cách tiêu diệt. Vì vậy ai cũng cảm thấy nguy cơ bên mình, và đều sợ hãi Đảng cộng sản.

9. Nhân di truyền thứ chín: Khống chế - Dùng Đảng tính để khống chế toàn đảng, rồi giáo dục lại toàn dân và toàn xã hội.

Tất cả những nhân di truyền kể trên đều dẫn đến cùng một mục đích: khống chế với áp lực của sợ hãi khủng bố. Sự tà ác của Đảng Cộng Sản đã khiến cho nó trở thành kẻ thù tự nhiên của mọi lực lượng xã hội. Ngay từ ngày thành lập, Đảng Cộng Sản đã giãy giụa trong từng cơn nguy cơ liên tiếp lần này rồi lần khác, mà nguy cơ lớn nhất luôn luôn là sự sống còn của nó. Nó tồn tại trong sợ hãi, vĩnh viễn có cảm giác nguy cơ. Thế nhưng, trong nguy cơ, sự sợ hãi đã trở thành lợi ích cao nhất cho Đảng cộng sản, đó là duy trì sự tồn tại và quyền lực của tập đoàn Đảng cộng sản qua những đợt khó khăn. Để bù đắp cho sự suy yếu lực lượng, Đảng Cộng Sản phải thường xuyên bổ xung những điều tệ hại hơn ở bề mặt. Lợi ích của Đảng không phải là lợi ích cá nhân của bất cứ đảng viên nào, cũng không phải là tổng hợp các lợi ích cá nhân của đảng viên; mà là lợi ích của tập đoàn Đảng Cộng Sản, nó được đặt cao hơn tất cả những gì của cá nhân.

‘Đảng tính’ là một bản chất lợi hại nhất của con quỷ tà linh này. Nó có thể mở rộng vô hạn, nuốt trửng ‘nhân tính’, và biến người ta thành một năng lực bắt buộc phải phi nhân tính. Ví dụ Chu Ân Lai và Tôn Bính Văn đã từng là đồng chí. Sau khi Tôn Bính Văn qua đời, Chu Ân Lai đã nhận con gái của Tôn Bính Văn là Tôn Duy Thế làm con nuôi. Trong thời Cách mạng Văn hoá, Tôn Duy Thế bị đấu tố, và sau đó chết trong tù do một cái đinh dài được đóng vào đầu. Lệnh bắt Tôn Duy Thế chính là do cha nuôi của cô là Chu Ân Lai ký.

Một trong những người lãnh đạo thời kỳ đầu của Đảng Cộng Sản Trung Quốc (ĐCSTQ) vào thời chiến tranh Trung–Nhật là Nhậm Bật Thời được Đảng giao nhiệm vụ buôn bán nha phiến (ma tuý). Mà nha phiến là dấu hiệu của ngoại bang xâm lược Trung Quốc vào thời đó, bởi vì Anh Quốc đã dùng nha phiến xuất cảng sang Trung Quốc để làm kiệt quệ kinh tế Trung Hoa và khiến cho dân Trung Quốc bị nghiện ma tuý. Bất chấp sự chống đối nha phiến trên toàn quốc, Nhậm Bật Thời đã dám trồng nha phiến trên một vùng rộng lớn, chẳng kể đến nguy cơ bị dân tộc kết tội, thật ra là cần phải có chút ‘đảng tính’. Bởi vì tính chất bất hợp pháp và nhạy cảm của ‘nha phiến’, nên bấy giờ ĐCSTQ nói trại thành ‘xà phòng’. Khi buôn bán nha phiến với các quốc qia lân cận, lợi nhuận thu vào được dùng cho sự tồn tại của Đảng Cộng Sản. Đến kỷ niệm 100 năm sinh nhật của Nhậm Bật Thời, một lãnh đạo thế hệ sau của ĐCSTQ đã phát biểu ca ngợi công lao của Nhậm Bật Thời: “Nhậm Bật Thời có phẩm giá cao, và là một đảng viên cộng sản gương mẫu. Ông ta tin tưởng kiên trì vào Đảng, và trung thành vô hạn với sự nghiệp của Đảng”.[19]

Trương Tư Đức cũng là một gương mẫu cho Đảng tính. ĐCSTQ nói rằng anh ta hy sinh do lò gạch sập đột ngột, còn người ta nói rằng anh ta chết khi đang chế biến nha phiến. Vì Trương Tư Đức là một người ít nói trong Đoàn cảnh vệ Trung Ương, không bao giờ đòi hỏi thăng chức, nên khi anh chết, mới nói rằng cái chết của anh “nặng tựa Thái Sơn” [20], có nghĩa là ám chỉ cuộc đời của anh ta rất quan trọng.

Sau này còn có một mẫu hình nữa là Lôi Phong, nổi tiếng với danh hiệu là “chiếc ốc vít không bao giờ han rỉ trong guồng máy cách mạng”. Trong một thời gian dài, cả Lôi Phong và Trương Tư Đức đều được dùng để giáo dục người dân Trung Quốc trung thành với Đảng Cộng Sản. Mao Trạch Đông có nói “ Sức mạnh của gương mẫu là vô biên”. Ngoài ra cũng có nhiều anh hùng khác của Đảng cộng sản được dùng để tuyên truyền “ý chí sắt thép và nguyên tắc của Đảng tính”.

Sau khi chiếm đoạt chính quyền, Đảng cộng sản càng phát triển rộng cái nhân di truyền về khống chế tư tưởng con người để chế tạo những “ốc vít” mới và ‘công cụ’ mới cho Đảng trong những thế hệ kế tiếp. Đảng tính được nhấn mạnh lên để trở thành một lối suy nghĩ nhất định, một mẫu hình cho các hành vi rập khuôn. Ban đầu, các khuôn mẫu cho hành vi Đảng tính chỉ dùng trong nội bộ Đảng, nhưng ngay sau đó đã mở rộng quy mô đến toàn dân toàn quốc. Dưới cái vỏ dân tộc, lối suy nghĩ và hành vi như thế được dùng để tẩy não người dân phải phục tùng theo cơ chế tà ác của Đảng cộng sản.

II. Lịch sử dựng nghiệp một cách bẩn thỉu của Đảng Cộng Sản Trung Quốc

Đảng cộng sản Trung Quốc(ĐCSTQ) mô tả lịch sử của mình là một lịch sử vẻ vang “liên tiếp đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác”. Khi cố gắng tự tô vẽ bộ mặt của mình trước công chúng chính là để hợp thức hoá sự cướp đoạt quyền lực của Đảng Cộng Sản. Thực ra, lịch sử của Đảng Cộng Sản không có gì vẻ vang cả. Chỉ bằng cách áp dụng 9 cái nhân di truyền là: tà ác, lường gạt, xúi bẩy, lưu manh, gián điệp, trấn lột, đấu tranh, diệt tuyệt, khống chế thì chúng mới có thể gây dựng và duy trì chính quyền .

1.Thành lập Đảng Cộng Sản Trung Quốc — Lớn lên nhờ uống sữa Liên Xô

Đảng Cộng Sản Trung Quốc (ĐCSTQ) bảo với người dân rằng: “Cách mạng tháng Mười nổ phát pháo đầu tiên, đưa chủ nghĩa Marxism-Leninism đến với chúng ta”[21]. Tuy nhiên Đảng cộng sản Trung Quốc khi mới thành lập, là một chi bộ Á châu của Đảng cộng sản Liên Xô, mà ngay từ đầu nó là một đảng phái chính trị bán nước.

Trong thời kỳ mới thành lập, ĐCSTQ không có tiền, không có lý luận, không có kinh nghiệm thực tiễn nào cả, lại càng không có cơ sở chủ yếu, gia nhập Đảng Cộng Sản Quốc Tế chỉ là muốn tham dự và nương tựa vào cách mạng bạo lực của Cộng sản quốc tế. Cách mạng bạo lực của Đảng Cộng Sản tại Trung Quốc chỉ là một cái mạch tiếp nối theo cách mạng bạo lực từ giai đoạn của Marx và Lenin. Đảng Cộng Sản Quốc Tế chính là bộ tổng chỉ huy cho sự đảo chánh chính quyền của các quốc gia trên toàn cầu, ĐCSTQ lúc đó chỉ là một chi bộ Đông Phương của Cộng sản Quốc Tế, và chấp hành theo đường lối chủ nghĩa Đế Quốc của Hồng Quân Liên Xô. ĐCSTQ phải dựa vào Đảng Cộng Sản Liên Xô để trưởng thành kinh nghiệm trong sự cướp đoạt chính quyền bằng bạo lực và áp dụng chế độ độc tài chuyên chính của giai cấp vô sản. Đường lối chính trị, đường lối tư tưởng, và đường lối tổ chức đều phải tuân theo chỉ thị của Đảng Cộng Sản Liên Xô. ĐCSTQ cũng bắt chước đường lối bí mật và ngoài vòng pháp luật của các tổ chức phi pháp để tạo nên một phương thức tồn tại, áp dụng sự theo dõi và khống chế thật chặt chẽ. Đảng Cộng Sản Liên Xô không những là xương sống chính của Đảng cộng sản Trung Quốc, mà còn hỗ trợ cho nó.

Tại Đại hội đại biểu lần thứ nhất của Trung Cộng, Đảng chương của Đảng cộng sản Trung Quốc được thông qua chính là do Cộng sản Quốc tế soạn ra, bản Tuyên ngôn cũng được soạn theo chủ nghĩa Mác-Lê, đấu tranh giai cấp, chính quyền chuyên chế của giai cấp vô sản, học thuyết lập Đảng, đều căn cứ theo cương lĩnh của Đảng cộng sản Liên Xô. Linh hồn của Đảng cộng sản Trung Quốc là phẩm vật ngoại lai theo thể thức Đảng Cộng Sản Liên Xô. Trần Độc Tú, một lãnh đạo của ĐCSTQ, đã từng có lần bất đồng ý kiến với đại biểu Ma-ring của Cộng sản quốc tế. Ma-ring gởi một phong thư cho Trần Độc Tú, nói rằng nếu ông Trần là đảng viên thật sự của Đảng Cộng Sản, thì ông phải tuân theo mệnh lệnh từ Đảng Cộng sản quốc tế. Dù Trần Độc Tú là một trong những người sáng lập ĐCSTQ, ông ta không làm được gì hơn là tuân theo mệnh lệnh của Cộng sản Quốc tế. Kỳ thực, ông ta và Đảng là chỉ lệ thuộc và hèn hạ khuất phục Đảng cộng sản Liên Xô.

Năm 1923, Trần Độc Tú đã công khai thừa nhận tại Đại hội đại biểu Đảng Cộng Sản Trung Quốc lần thứ ba, rằng hầu hết các chi phí của Đảng là hoàn toàn do Cộng sản Quốc tế chu cấp. Trong một năm, Cộng sản Quốc tế đã cung cấp khoảng 200 ngàn đồng yuan cho Đảng cộng sản Trung Quốc, nhưng kết quả thu được không hài lòng mấy, và Cộng sản Quốc tế trách các đồng chí Trung Quốc đã không nỗ lực đủ.

Theo một văn kiện đã giải mật của Đảng cộng sản Trung Quốc với thống kê chưa đầy đủ, từ tháng 10 năm 1921 đến tháng 6 năm 1922, Đảng cộng sản Trung Quốc đã nhận 16.655 đồng yuan. Năm 1924 nhận 1.500 đô-la Mỹ và 31.927,71 đồng yuan; năm 1927 nhận 187.674 đồng yuan; mỗi tháng Cộng sản Quốc tế chu cấp khoảng 20 ngàn đồng yuan. Những mánh khoé mà Đảng Cộng Sản Trung Quốc thường dùng ngày nay —móc nối, đi cổng sau, mua chuộc, đút lót, thậm chí uy hiếp,… — đều đã được dùng từ thời bấy giờ. Đảng Cộng sản Quốc tế từng phê bình nghiêm khắc các mánh khóe chạy chọt mà Đảng Cộng Sản Trung Quốc hay dùng để xin tiền.

“Họ thường lợi dụng các nguồn chi phí khác nhau (ban liên lạc Quốc tế, các đại biểu của Cộng sản quốc tế, các tổ chức quân sự,…) để xin cùng một ngân khoản, bởi vì nguồn chi phí này có thể không biết rõ nguồn chi phí kia đã chi khoản đó hay chưa… Điều tức cười là các đồng chí Trung Quốc không những đã biết được tâm lý của các đồng chí Liên Xô chúng ta, mà quan trọng hơn là họ còn biết cách đối xử khác biệt với từng đồng chí có trách nhiệm phê chuẩn cho từng ngân khoản. Một khi các đồng chí Trung Quốc hiểu rằng, ngân khoản sẽ không được chính thức thông qua, họ liền bắt đầu trì hoãn các buổi họp. Sau đó thậm chí có những thủ đoạn xảo trá như phao tin đồn kiểu như "nhân viên công tác địa phương có mâu thuẫn với Liên Xô, nên số tiền đó đã không cấp cho Đảng Cộng Sản Trung Quốc, mà cấp cho quân phiệt”.[22]

Bạn đọc hiện có

Đang có 241 khách và thành viên đang online

Thống kê bạn đọc

Hôm nayHôm nay2638
Hôm quaHôm qua5313
US
UNITED STATES
US

Luật rừng trong rừng luật

Tìm bài và tác giả

Đón Nhận Ủng Hộ

Cảm ơn các bạn đã tín nhiệm. Chúng tôi cần sự giúp đỡ của các bạn dù khiềm tốn để tiếp tục phục vụ các bạn hữu hiệu hơn.

Số tiền:

Hồi ký trùm gián điệp Đông Đức Markus Wolf