Từ chế độ toàn trị sang thể chế dân chủ (Chương 3)

Bạn đánh giá:  / 0
DỡHay 
Chọn cỡ chữ

Từ chế độ toàn trị sang thể chế dân chủ (Chương 3)

Chương Ba

Quyền Lực Từ Đâu Đến ?

Tiến đến một xã hội tự do và hòa bình lẽ cố nhiên không phải là một công việc đơn giản. Nó đòi hỏi kỹ năng chiến lược lớn, khả năng tổ chức và kế hoạch. Trên hết mọi sự, nó đòi hỏi quyền lực. Các chiến sĩ dân chủ không thể nào hy vọng đánh đổ một chế độ độc tài và thiết lập tự do chính trị mà không có khả năng áp dụng một cách hữu hiệu quyền lực của chính mình.

Nhưng làm sao có thể làm được điều này? Loại quyền lực nào các chiến sĩ dân chủ có thể huy động đủ để đánh tan chế độ toàn trị và hệ thống quân sự và công an to lớn của họ? Câu trả lời nằm trong việc hiểu biết quyền lực chính trị, một điều thường bị lãng quên. Hiểu biết sâu sắc về vấn đề này không khó khăn. Một vài chân lý căn bản xem ra rất đơn giản.

Ngụ ngôn “Hầu Công”

Một ngụ ngôn Trung Hoa vào thế kỷ thứ 14 do Lưu Cơ viết, phác họa khá rõ việc thiếu hiểu biết về quyền lực chính trị (7):

Thời chế độ phong kiến nhà Chu có một lão già sinh sống nhờ bắt đàn vượn làm việc cho lão. Thiên hạ gọi lão là “Hầu công”. Mỗi sáng, lão già tụ họp những con vượn trước sân nhà và ra lệnh cho con vượn đầu đàn dắt các con khác lên núi để hái hoa quả trong bụi và trên cây. Luật lệ quy định là mỗi con vượn phải nộp cho lão già một phần mười hoa quả thu lượm. Con nào không nộp đủ sẽ bị quất đánh tàn nhẫn. Tất cả các con vượn đều cay đắng chiu khổ, nhưng không dám than phiền. Một hôm, một con vượn nhỏ hỏi các con khác:-Có phải lão già trồng tất cả các cây ăn trái và bụi rậm? Các con khác trả lời:-Không, chúng mọc tự nhiên. Con vượn nhỏ hỏi thêm:-Chúng ta có thể nào lấy hoa quả không cần xin phép lão già ? Các con khác trả lời: -Phải, tất cả chúng ta có thể lấy được. Con khỉ nhỏ nói tiếp:-Như vậy tại sao chúng ta lại phải lệ thuộc lão già, tại sao chúng ta lại phải phục vụ cho y? Trước khi con vượn nhỏ chấm dứt câu nói, tất cả các con vượn khác chợt thoát cơn mê và tỉnh ngộ. Đêm hôm đó, đợi lão già ngủ say, các con vượn phá vỡ hết hàng rào chắn giam hãm chúng và phá tan trại giam. Chúng cũng lấy hết hoa quả lão già cất trong kho dự trữ, đem tất cả vào rừng và không bao giờ quay trở lại nữa. Cuối cùng lão gìa chết vì đói.

Úc Ly Tử bàn rằng: “ Có một số người trên thế gian cai trị người dân bằng xảo thuật, thay vì những nguyên lý chính trực. Họ có khác gì lão hầu công không ? Họ không nhận biết đầu óc đần độn của họ. Một khi người dân được sáng mắt, xảo thuật của họ không còn tác dụng nữa.”

Các nguồn chủ yếu của quyền lực chính trị


Nguyên lý thật đơn giản. Kẻ độc tài cần sự trợ giúp của nhân dân mà chúng cai trị, không có sự hỗ trợ này họ không thể nào bảo toàn và duy trì được các nguồn của quyền lực chính trị. Các nguồn của quyền lực chính trị gồm có:

Uy lực, lòng tin của quần chúng cho rằng chế độ có tính chính đáng và họ có bổn phận phải tùng phục.

Nhân lực, số lượng và tầm quan trọng của các người và các nhóm tuân phục, cộng tác hoặc hỗ trợ cho kẻ cai trị.

Kỹ năng và kiến thức, cần thiết cho chế độ để thực thi những hoạt động riêng và do sự hợp tác của các cá nhân và nhóm cung cấp.

Những yếu tố không hiển hiện, yếu tố tâm lý và tư tưởng khiến cho con người tuân phục và hỗ trợ cho kẻ cai trị.

Tài nguyên vật chất, mức độ kẻ cai trị kiểm soát hoặc chiếm ngự tài sản, tài nguyên thiên nhiên, nguồn tài chánh, hệ thống kinh tế và các phương tiện liên lạc và chuyên chở, và

Chế tài, trừng phạt, đe dọa trừng phạt hoặc thẳng tay trừng trị kẻ bất tuân và không chịu cộng tác để bảo đảm sự thần phục và hợp tác, cần thiết cho sự hiện hữu của một chế độ và việc thi hành các chính sách của họ.

Tuy nhiên tất cả những nguồn quyền lực này tùy thuộc vào tinh thần chấp nhận chế độ, vào sự khuất phục và tuân hành của quần chúng và vào sự cộng tác của vô số người và nhiều cơ chế của xã hội. Những yếu tố này không vững chắc.

Việc quần chúng hợp tác toàn diện, tuân phục và hỗ trợ sẽ gia tăng tiềm năng của các nguồn cần thiết cho quyền lực và do đó khuếch đại khả năng quyền lực của bất cứ một chính quyền nào.

Mặt khác, sự bất hợp tác của quần chúng và của các cơ chế với kẻ hành hung và kẻ độc tài làm giảm thiểu và có thể cắt đứt tiềm năng quyền lực mà tất cả các kẻ cai trị đều lệ thuộc. Không còn sử dụng được các nguồn cung cấp, quyền lực của kẻ cai trị yếu dần và cuối cùng tan rã.

Lẽ dĩ nhiên, kẻ độc tài dễ nhạy cảm với các hành động và ý nghĩ đe dọa khả năng hành động tùy tiện của họ. Vì vậy kẻ độc tài có khả năng đe dọa và trừng phạt những ai bất tuân, đình công bãi thị hoặc không chịu cộng tác. Tuy nhiên, câu chuyện không chấm dứt ở đây. Đàn áp và ngay cả bạo hành không phải lúc nào cũng đạt đến mức độ khiến người dân tuân phục và cộng tác giúp cho chế độ vận hành.

Nếu, mặc dù có đàn áp, nguồn cung cấp quyền lực có thể bị ngăn chặn hoặc bị cắt đứt trong một thời gian đủ để tạo áp lực, kết quả sơ khởi có thể là gây nên sự chao đao và rối loạn trong hàng ngũ của chế độ toàn trị. Điều này chắc chắn dẫn đến sự suy giảm quyền lực của chế độ toàn trị. Lâu ngày, việc ngăn chặn nguồn cung cấp quyền lực có thể gây nên sự tê liệt và bất lực của chế độ, và trong trường hợp nghiêm trọng, đánh đổ chế độ. Quyền lực của kẻ độc tài sẽ chết một cách chậm chạp hoặc nhanh chóng vì nguồn lực chính trị bị cạn.

Mức độ tự do hay chuyên chế của bất cứ một chính quyền nào, như thường thấy, phần nhiều là phản ánh quyết tâm tương đối của người dân muốn có tự do và ước vọng và khả năng chống cự lại nỗ lực ức hiếp họ.

Trái ngược với quan niệm của quần chúng, các chế độ độc tài chuyên chế lệ thuộc vào quần chúng và xã hội họ cai trị. Như khoa học gia chính trị Karl W. Deutsch ghi nhận năm 1953:

Quyền lực chính trị chỉ mạnh khi nào nó không được sử dụng nhiều. Nếu quyền lực chuyên chế phải đem áp dụng mọi lúc để chống lại nhân dân, chắc chắn nó không còn mãnh lực bao nhiêu về lâu về dài. Vì các chế độ độc đoán cần nhiều quyền lực để đối phó với người dân hơn là các loại chính quyền khác, những chế độ như vậy cần những tập quán phục tùng trung thành và phổ biến trong nhân dân, hơn là trông chờ vào sự hỗ trợ tích cực của ít ra những thành phần nhân dân có phẩm chất lúc cần thiết. (8)

Một lý thuyết gia Anh vào thế kỷ thứ 19, ông John Austin mô tả hoàn cảnh của chế độ toàn trị phải đương đầu với nhân dân bất mãn. Austin luận rằng nếu đại đa số nhân dân quyết tâm đánh đổ chế độ và sẵn sàng chấp nhận đàn áp để làm việc này, thì quyền lực của chính quyền và những người ủng hộ chính quyền, không thể nào bảo vệ được chính quyền đáng ghét này. Nhân dân chống đối không thể bị ép buộc quay trở lại tuân theo và thuần phục luôn mãi, Austin kết luận.(9)

Niccolo Machiavelli trước đó cũng đã biện luận rằng thái tử “… có tất cả quần chúng là kẻ thù không bao giờ bảo toàn được cá nhân của mình; ông càng bạo tàn bao nhiêu, chế độ của ông càng suy yếu bấy nhiêu.”(10)

Việc áp dụng những hiểu biết này vào thực tế chính trị đã được các kháng chiến quân Na-uy chống lại cuộc xâm lăng của Quốc Xã chứng minh, và như đã viện dẫn ở Chương Một, người Ba-lan, Đức, Tiệp, Slovak anh dũng và nhiều dân tộc khác đã chống lại sự đàn áp và chuyên chính Cộng Sản và cuối cùng giúp đánh đổ sự thống trị của Cộng Sản tại Âu Châu. Điều này cố nhiên không phải là những hiện tượng mới mẻ: trường hợp kháng chiến bất bạo động được thấy ít ra vào 494 năm trước Công nguyên khi nông nô bất hợp tác với chủ nhân quý tộc La-mã.(11) Đấu tranh bất bạo động đã được nhân dân áp dụng ở vào nhiều thời điểm tại Á Đông, Phi Châu, Mỹ Châu, Úc-Á và quần đảo Thái Bình Dương, cũng như tại Âu Châu.

Ba trong số những yếu tố quan trọng nhất để xác định mức độ kiểm soát hay thiếu kiểm soát của chính quyền là:

thứ nhất (1) ước vọng thực tế của quần chúng muốn giới hạn quyền lực của chính quyền;
thứ hai (2) độ bền thực tế của các tổ chức độc lập và các định chế của nhân dân trong việc thu hồi hàng loạt nguồn cung cấp quyền lực; và
thứ ba (3) khả năng thực tế của quần chúng không quy thuận và trợ giúp chế độ.

Trung tâm quyền lực dân chủ

Một trong những đặc điểm của xã hội dân chủ là sự hiện hữu độc lập với nhà nước của vô số các nhóm và cơ sở phi chính phủ. Trong đó bao gồm,ví dụ như gia đình, tổ chức tôn giáo, tổ chức văn hóa, câu-lạc-bộ thể thao, cơ chế kinh tế, hiệp hội thương mại, hội đoàn sinh viên, các đảng phái chính trị, làng xã, hội đoàn láng giềng, câu-lạc-bộ vườn tược, tổ chức nhân quyền, ban nhạc, hiệp đoàn văn chương và nhiều tổ chức khác. Các cơ cấu này quan trọng vì nhằm phục vụ mục tiêu của chính họ và đồng thời giúp thỏa mãn những nhu cầu của xã hội.

Thêm vào đó, các cơ cấu này có ý nghĩa chính trị lớn. Họ cung cấp nền tảng của các nhóm và cơ sở, nhờ đó quần chúng tác động lên hướng đi của xã hội họ và chống lại các nhóm khác hoặc chống lại chính quyền khi họ cảm nhận quyền lợi, sinh hoạt hoặc mục tiêu của họ bị xâm phạm một cách bất công. Các cá nhân riêng lẻ, không phải là thành viên của các nhóm này, thường không có đủ khả năng gây ảnh hưởng đáng kể lên các thành phần khác của xã hội, càng ít hơn đối với một chính quyền và chắc chắn không đủ để đối phó với một chế độ toàn trị.

Vì vậy, nếu sự tự trị và tự do của các cơ chế này bị kẻ độc tài cướp đi, quần chúng sẽ không còn nơi nương tựa. Cũng vì vậy, nếu các cơ chế này bị kiểm soát chặt chẽ bởi chính quyền trung ương hoặc bị thay thế bởi những cơ chế mới cũng bị kiểm soát, các cơ chế này có thể được dùng để chế ngự cả các cá nhân thành viên lẫn các lãnh vực khác của xã hội.

Tuy nhiên, nếu các cơ chế dân sự độc lập (nằm ngoài tầm kiểm soát của chính quyền) duy trì hoặc lấy lại được sự tự trị và tự do, các cơ chế này vô cùng quan trọng trong việc thì hành sách lược chống đối chính trị. Đặc điểm chung của các ví dụ mà chế độ độc tài đã bị phá hủy hoặc bị suy yếu như đã nêu trên là việc quần chúng và các cơ chế xã hội toàn khốidũng cảm áp dụng chống đối chính trị.

Như đã trình bày, những trung tâm quyền lực này cung cấp những cơ sở thuộc về định chế mà từ đó quần chúng có thể tạo áp lực hoặc chống lại việc độc đoán kiểm soát. Trong tương lai, họ sẽ là thành phần nền móng của cấu trúc không thể thiếu trong một xã hội tự do. Tính cách độc lập và sự trưởng thành liên tục của họ vì vậy thường là một điều kiện tiên quyết để cuộc đấu tranh giải phóng đi đến thành công.

Nếu chế độ toàn trị đã thành công phần lớn là nhờ phá hủy hoặc kiểm soát các cơ chế độc lập của xã hội, đối với chiến sĩ kháng chiến, việc thành lập những nhóm xã hội và cơ chế độc lập hoặc chiếm lại quyền kiểm soát dân chủ trên các cơ chế còn tồn tại hoặc chỉ bị kiểm soát một phần, là một điều quan trọng. Vào thời kỳ Cách Mạng Hungaria những năm 1956-1957, vô số các hội động dân chủ xuất hiện, rồi kết hợp lại với nhau để thành lập trong vòng vài tuần lễ một hệ thống liên đoàn các cơ chế và cơ cấu quản lý. Tại Ba-lan vào cuối thập niên 1980, các công nhân duy trì công đoàn Đoàn Kết bất hợp pháp và trong một vài trường hợp, chiếm quyền kiểm soát các công đoàn thương mại do nhà nước Cộng Sản thống trị. Những tiến triển như vậy có những hậu quả chính trị rất quan trọng.

Lẽ dĩ nhiên, tất cả những điều trên không có nghĩa làm suy yếu và đánh đổ chế độ độc tài là một việc dễ dàng hoặc mọi cuộc đọ sức sẽ thành công. Chắc chắn điều ấy không có nghĩa là cuộc đấu tranh không có tổn thất sinh mạng, vì những kẻ vẫn tiếp tục phục vụ cho bọn độc tài chắc chắn sẽ trả đũa nhằm ép quần chúng hợp tác và tuân phục trở lại.

Dù thế nào đi nữa thì nhận định trên về quyền lực cũng cho thấy việc chủ ý phá hủy chế độ toàn trị là một việc khả thi. Đặc biệt các chế độ toàn trị có những đặc điểm khiến cho chúng trở thành rất yếu đuối khi chống đối chính trị được khéo léo thực thi. Chúng ta hãy cùng nhau xem xét chi tiết những đặc điểm đó.

Thêm bình luận

Để gởi lời bình đi các bạn ghép hình vào đúng khuôn ở dưới, rồi bấm "GỞI" thì lời bình sẽ đến tay admin. Mời các bạn thoải mái viết còm.



Các bạn kết hợp hình cho ăn khớp vơi hình hiển thị

Tìm bài và tác giả

Thông báo chấm dứt cộng tác với ông Nguyễn Gia Kiểng

logo_taphop_2016"...Tiếp theo “Tuyên bố bất tín nhiệm Thường trực THDCĐN nhiệm kỳ 2014 -2016”ngày 01/12/2016, chúng tôi chấm dứt mọi sự cộng tác với ông Nguyễn Gia Kiểng (cựu Thường trực Ban lãnh đạo THDCĐN) kể từ ngày hôm nay..."

Đọc tiếp


 

Hồi ký trùm gián điệp Đông Đức Markus Wolf