Cha vô danh – Chuyện kể cuộc đời một người Việt lai Pháp (Kỳ 15) (Phạm Ngọc Lân)

Chọn cỡ chữ

hermione“…Tôi không dám nói là mình đi tìm cha, phải nói trớ ra là bố mẹ tôi ngày xưa quen thân với ông Jean Martin hồi còn ở Đông Dương, sau này mất liên lạc, nay muốn tìm lại tung tích…”

 

 

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15,
16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27,
28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40

 

hermione

 

15. Đi tìm tung tích cha – Hồi 2

(Trích nhật ký của Long)

Tháng 10-2006

Cửa ra vào ngôi nhà này đồ sộ quá, chẳng khác gì một cái cổng to, phải khỏe lắm mới đẩy nổi cánh cửa nặng nề đã có từ mấy trăm năm trước. Không biết các bà các cô chân yếu tay mềm làm thế nào vào được tòa nhà này để nghiên cứu tài liệu của Hải quân Pháp cho được!

Vừa bước vào trong khách đụng ngay một tấm bảng có mũi tên chỉ khu văn khố nằm trên lầu. Cầu thang bằng đá cũng mòn vẹt như bên Lục quân, dẫn lên lầu 1 rất cao, có một hành lang rộng với lan can cũng bằng đá. Đoạn giữa của hành lang bày một ghế nệm loại ghế phòng khách nhưng dài phải đến ba  bốn thước là ít! Sao ngày xưa người ta làm cái gì cũng to thế nhỉ! Đã có bao nhiêu ông hoàng bà chúa ngồi trên cái ghế nàyrồi?

Cuối hành lang là phòng nghiên cứu tài liệu. Khác với bên Lục quân, đây chỉ là một căn phòng kích thước vừa phải, kê hai hàng bàn theo chiều dọc cho người đến tham khảo tài liệu, mỗi chỗ ngồi đều có đánh số. Ngay cửa vào là hai cái bàn kê trên bục cao. Hai bà ngồi sau bàn mặc thường phục, không biết  có phải nữ quân nhân không, tỏ vẻ rất hiếu khách. Bà lớn tuổi hơn hỏi tôi cần giúp chuyện gì, tôi đưa thẻ và giải thích công việc tìm cha củamình.

Bên Hải quân này khác Lục quân ở chỗ cái phòng ngồi đọc tải liệu tuy nhỏ, ít chỗ, nhưng vẫn còn nhiều chỗ trống, nên không cần phải hẹn trước để có chỗ ngồi như bên Lục quân. Hai bà làm việc ở đây rất nhã nhặn, đầu tiên giải thích cho tôi thủ tục là phải bỏ hết đồ đạc vào ngăn tủ ngay cửa vào, chỉ được giữ bút chì, giấy trắng và máy vi tính, một thủ tục chung cho mọi văn khố. Điều khác biệt thứ hai với Lục quân là bà trưởng phòng – tôi đoán thế - sốt sắng tìm ngay tài liệu về cha tôi trên máy vi tính, không phải mất công đi xa xôi đâucả.

Tôi gợi chuyện, cốt để gây cảm tình: “Bên Hải quân này tiến bộ hơn bên Lục quân, các dữ kiện đã có trong máy tính để tìm cho dễ, bên kia hãy còn phải lục tìm trong những cuốn sổ cũ kỹ ngày xưa!” “Tại vì chúng tôi ít tài liệu hơn bên đó nhiều, nên đã làm xong phần lớn công việc đưa các dữ kiện vào máy tính, bên Lục quân họ cũng đang làm nhưng chưa xong đó thôi.”

Tôi theo dõi nét mặt bà trưởng phòng đang chăm chú tìm tòi trên màn hình. Tim tôi đập nhanh hay chậm tùy theo ánh mắt bà sáng lên hay không. Được một lúc, bà nói với một giọng làm ra vẻ bình  thường: “Tôi thấy có một Jean Martin, có thể là người ông tìmđây.”

Tôi cố gắng giấu nỗi xúc động: “Ồ nếu quả đúng vậy thì hay quá! Nhưng bà có chắc không?” Hỏi xong mới thấy câu nói mình vô lý. Làm sao người ta chắc cho được! “Người này sinh năm 1921, là một  sĩ quan hải quân có phục vụ ở Đông Dương. Nhưng tôi phải xem hồ sơ cá nhân mới biết thêm chi tiết được.”

Bà điền mã số của hồ sơ vào tờ phiếu tìm tài liệu và đưa cho một thanh niên mặc quân phục với lon hải quân, tôi không rõ cấp bậc gì, chắc là hạ sĩ quan. Anh chàng đi ra khỏi phòng, bà trưởng phòng giải thích: “Bên Hải quân chỉ có ít độc giả tham khảo tài liệu, không như bên Lục quân, nên cứ nửa giờ đi lấy tài liệu một lần. Kho lưu trữ nằm trong một tòa nhà khác, cũng phải mất khoảng 15 phút.”

Sao chỉ có 15 phút mà tôi cảm thấy lâu thế!

Cuối cùng người quân nhân cũng trở về phòng với mấy cái hồ sơ dầy cộp trên xe đẩy. Anh đưa cho bà trưởng phòng một hồ sơ dày nhất. “Ông không có quyền xem hồ sơ này, vì luật 120 năm, chắc ông cũng biết rồi. Nhưng tôi có quyền xem, và tôi có thể giúp ông, cho ông biết những chi tiết cần thiết, những chi tiết không có hại gì cho đương sự.” Bà trưởng phòng nói thế. Tôi lí nhí cám ơn, tim đập mạnh thêm.

Bà trưởng phòng ngồi trên bục mở hồ sơ ra xem, tôi đứng dưới đất có muốn nhìn cũng không được. Bỗng lại nhớ thời học trung học, ông thầy cũng ngồi trên bục như thế này, và khi học trò được gọi lên khảo bài cũng đứng dưới đất như thế này… Thế mà đã hơn nửa thế kỷ trôi qua!

“Ông Jean Martin này sinh ngày 4 tháng giêng năm 1921, ông nhập học Trường Hải quân Toulon  năm 1941.” Toulon! Tên thành phố này làm tôi bừng tỉnh! Theo lời mẹ tôi kể, cha tôi có bà chị ở Toulon, chắc đúng người rồi; gia đình ở đấy nên cha tôi học ở trường Hải quân Toulon là hợp lý quá còn gì nữa! Bà trưởng phòng từ từ xem tài liệu, từ từ cho tôi biết thêm những chi tiết trong hồ sơ. Tôi nín thở hỏi tiếp: “Thế năm 1943 ông ấy có mặt ở Đông Dương không?” “Tôi đang xem những nơi ông đi qua và thời gian quân vụ của ông ấy đây. Sau khi tốt nghiệp Trường Hải quân, ông phục vụ trên các chiến hạm ở nhiều nơi, nhưng ông đến Đông Dương năm 1949, Hy vọng vừa lóe lên chợt tắt! Chắc chắn nỗi thất vọng hiện rõ trên mặt tôi, bà trưởng phòng cũng có chút ái ngại: “Nhưng ông có một ‘nghỉ dài hạn đình chiến’ cuối năm 1942, và chỉ trở lại quân ngũ năm 1944, khi quân Đồng Minh phản công quân Đức.” Bà chăm chú lật từng trang giấy trong tập hồ sơ, tiếp tục cho tôi biết: “Ông lấy vợ năm 1951, có con gái đầu lòng năm 1952, sau đó rời khỏi Đông Dương… Hồ sơ ông ngưng năm 1968 là năm ông giải ngũ, cấp bậc cuối cùng là Hải quân Trung tá.”

Tôi chưa hoàn toàn thất vọng, lại vớ được một cái phao cứu vớt: “Nghỉ dài hạn đình chiến cuối năm 1942 là cái gì vậy?” “Tôi cũng không rõ lắm, nhưng chắc là lúc đó trường Hải quân cho nghỉ học vì  nước Pháp bị quân Đức chiếm đóng.” (1) Hy vọng lại vươn lên: “Nếu vậy thì có thể nào ông ấy qua Đông Dương trong lúc nghỉ dài hạn đó không?” Bà trưởng phòng không trả lời ngay, tiếp tục lật các trang tài liệu cố gắng tìm ra một chỉ dấu nào đấy: “Tôi chưa trả lời câu hỏi đó được, tôi đang tìm thêm đây… À, có một chi tiết quan trọng tôi thấy đây. Cha của ông Jean Martin này là một bác sĩ quân y có mặt ở Đông Dương từ năm 1936, và năm 1943 ông đang làm giám đốc một quân y viện của Pháp ở ĐôngDương.”

Lần này thì hy vọng đã lộ ra mặt rồi: “Nếu vậy thì có thể là ông Jean Martin qua Đông Dương thăm cha trong khi nghỉ dài hạn chăng?” Tôi năn nỉ bà trưởng phòng tìm kỹ xem có vết tích gì thêm không, nhưng bà cho biết là nếu ông Jean Martin có đi Đông Dương năm 1943 chăng nữa, thì sự kiện đó cũng không ghi trong hồ sơ vì lúc đó ông nghỉ dài hạn, không còn tại ngũ nữa.

Như vậy thì làm cách nào để biết ông Jean Martin này có mặt tại Đông Dương năm 1943 hay không? Chỉ có cách tìm ra tung tích ông ấy ở ngoài đời. Nếu ông còn sống thì năm nay 85 tuổi. Tuy ngày xưa ở Hà Nội, lúc tôi 4 tuổi, ông Trung tá về hưu ở sở xã hội Pháp nói rằng cha tôi đã bị quân Nhật sát hại khi có cuộc đảo chính Nhật tháng 3 năm 1945, nhưng ông không đưa ra một giấy tờ gì rõ rệt làm bằng chứng cả. Lúc đó ở Lạng Sơn có gần 500 người vừa tử trận vừa bị giết sau khi bị bắt làm tù binh, nhiều khi ông chỉ võ đoán là cha tôi cũng là một nạn nhân trong số đó thì sao? Tại sao ông không đưa cho mẹ tôi một tờ giấy gì đó làm bằng, dù không phải là giấy khaitử?

Bà trưởng phòng có vẻ ái ngại giùm tôi, bà nói: “Ông Jean Martin có hai người con, con gái tên là Régine, con trai tên là Paul, ông có thể tìm trong sổ điện thoại để liên lạc xem sao. Và tôi tặng ông bản sao chụp tài liệu này vì có hình của ông Jean Martin. Tôi thấy cũng có nét giống ông đấy!”

*

Về nhà, nhìn kỹ tấm hình không rõ lắm, nhưng bà trưởng phòng nói cũng có lý. Trông cũng hơi giông giống! Nhưng chắc ăn là phải liên lạc được với chính ông nếu ông còn sống, hoặc với con trai hoặc con gái ông. Liên lạc nhanh nhất là tìm ra được số điện thoại của những người này, tìm trong sổ điện thoại.  Mà việc này thì không dễ tí nào, vì Martin là một trong những họ thông dụng nhất bên Pháp, Jean và Paul cũng là những tên rất thông dụng thời gian năm bảy chục năm trước. Bên Pháp có khoảng 100 tỉnh, mỗi tỉnh có sổ điện thoạiriêng.

Cũng may là thời buổi của mạng lưới Internet, các số điện thoại giờ đây có thể tìm thẳng qua mạng, không cần ra một ty bưu điện để tìm trong gần 100 cuốn sổ bằng giấy như ngày xưa. Tôi bắt đầu bằng vùng Paris, nơi tập trung 1 phần 6 dân số của nước Pháp. Vùng này gồm thành phố Paris khoảng 2 triệu dân, bao bọc bởi 6 tỉnh, tổng cộng hơn 10 triệu dân, toàn vùng có tên chính thức là “vùng Ile de France”. Người ngoại quốc ít ai biết cái tên này, nên thường người mình sống trong Paris hay trong các tỉnh khác của vùng Ile de France cũng nói với bạn bè trên thế giới là “Tôi sống ở Paris” cho tiện.

Tôi vào trang “Pages blanches” (2) trên Internet là trang của sổ điện thoại tư nhân và bắt đầu bằng thủ đô Paris (mã số 75). Khi tôi đánh Martin vào chỗ “họ” và Jean vào chỗ “tên”, tôi được 174 kết quả. Đó là chưa kể những người không muốn để tên mình trong sổ điện thoại công cộng, bên Pháp gọi là “danh sách đỏ”. May mà số người này không nhiều lắm, ngược lại với bên Mỹ, bên đó đa số không muốn cho người lạ biết số điện thoại của mình.

Tôi thử tỉnh Yvelines mã số 78, có 131 Jean Martin. Tỉnh Hauts-de-Seine mã số 92 có 102 Jean Martin… Tìm Paul Martin thì ít hơn so với Jean Martin, nhưng cũng rất nhiều. Nhắc lại nước Pháp có gần 100 tỉnh. Phải gọi điện thoại cho chừng đó người để hỏi « Năm 1943 ông có mặt ở Đông Dương không vậy, thưa ông ? »

Tôi đành quyết định ngưng công việc điên đầu này. Phải tìm con đường khác vậy. Tôi không dễ đầu hàng khi gặp khó khăn như thế này. Việc càng khó, càng kích thích tôi phải nặn óc để tìm giải pháp!

*****

Quả thật kỷ nguyên Internet đã làm một cuộc cách mạng xã hội sâu rộng mà có lẽ mình chưa đo lường hết được hiệu quả cũng như hậu quả của nó. Cũng nhờ Internet mà tôi có một phản xạ chợt đến khi đi tìm một con đường mới trong cuộc mò kim đáy biển của mình.

Nếu ông Jean Martin đã học Trường Hải quân là một trường danh tiếng của Pháp, tại sao không tìm đầu dây mối nhợ ở đây ? Tôi vào Google đánh « Ecole Navale » (Trường Hải quân) và được 177000 kết quả. Những trang đầu tiên không giúp gì trong việc tìm kiếm của tôi cả. Lại chợt một sáng kiến lóe lên trong đầu : một trường nổi tiếng như thế, chắc là phải có những hội ái hữu cựu khóa sinh của trường này chứ! Mà các hội ái hữu đó,chắc chắn họ đều có trang riêng của họ trên mạng Internet.Thế là tôi đánh: "Anciens élèves de l’Ecole Navale » (Cựu khóa sinh trường Hải quân) và có ngay kết quả : Hội A.E.N. (Assocaition amicale des anciens élèves de l’Ecole Navale = Hội ái hữu cựu khóa sinh Trường Hải quân) hiện ngay trên hàng đầu, với đầy đủ địa chỉ và điện thoại liên lạc!

Lần này thì tôi bắt đầu tin là vận hên đang đến với mình rồi! Tôi gọi ngay điện thoại cho A.E.N. để biết giờ giấc mở cửa của văn phòng thường trực, nằm ngay gần nhà ga Saint-Lazare. Ngày xưa trong 15 năm làm việc ở Paris, nơi tôi làm việc cũng thay đổi nhiều lần, nhưng lần cuối và lâu nhất là trên một con đưởng nhỏ trong khu trung tâm sầm uất gần nhà hát lớn Opéra, gần hai cửa hàng lớn Printemps và La Fayette, gần nhà thờ nổi tiếng Madeleine, và rất gần nhà ga Saint Lazare. Nhà ga này là một trong 6 nhà ga lớn của Paris với hàng triệu khách đi lại mỗi ngày, đa số là dân sống ở ngoại ô vào làm việc trong Paris. Nên địa chỉ của văn phòng A.E.N. nằm trên đường Amsterdam không xa lạ gì với tôicả.

Thế là một buổi sáng đẹp trời của mùa thu Paris (« Mùa thu Paris, trời buốt ra đi, hẹn em quán    nhỏ… ») (3) tôi lên lầu 1 của ngôi nhà cổ xưa của Pháp với cầu thang gỗ đánh xi nghe cót két dưới đế giầy, với các cửa phòng bằng gỗ có ô kính nhỏ, mỗi phòng đều có một lò sưởi con con rất đẹp mắt. Tôi vào phòng đầu tiên có hai người đang đấu láo, họ nói tôi chờ một lát nữa có ông đề đốc (4)đến làm việc có thể giúp tôi trong việc tìm kiếm củamình.

Tôi ngồi phòng đợi lật xem mấy tài liệu về Trường Hải quân Brest không bao lâu thì một người bước vào và mời tôi theo ông vào một văn phòng xinh xắn. Đây là một ông tướng hải quân 2 sao đã về hưu, hiện có chức vụ gì đó trong ban chấp hành hội Ái hữu, ông mặc thường phục nhưng tôi biết ông là đề đốc vì hai người kia đã giới thiệu trước với tôi như thế.

Tôi trình bày với ông mục đích tìm tung tích của cha – bây giờ tôi có thể tóm gọn trong vài phút, vì đã quá thành thạo trong việc này rồi. Ông lật cuốn sổ: « Ông nói là ông Jean Martin nhập học năm 1941 ? Vâng, ông ấy có tên trong danh sách của tôi, ông ấy vẫn còn sống ở miền nam nước Pháp. Nhưng tôi không cho ông địa chỉ được, để tôi viết thơ cho ông ấy, rồi ông ấy muốn liên lạc với ông hay không là tùy ông ấy. »

Tôi không ngờ gặp hên đến như vậy! Chỉ trong vài phút, tôi đã biết được người tôi đang tìm vẫn còn sống, có địa chỉ đàng hoàng. Tuy không được liên lạc trực tiếp, nhưng tôi cũng tin tưởng là không có lý  do gì ông ấy từ chối liên lạc vớitôi.

Tôi rời Paris trở về nhà ở vùng Provence, hồi hộp chờ đợi một cú điện thoại hay một lá thư. Ba ngày sau có lá thư đến, nhưng không phải của ông Jean Martin, mà của ông đề đốc đã tiếp tôi hôm trước. « Tôi rất tiếc đã làm mất thời giờ của ông, sau khi ông về rồi tôi tìm ra một phụ đính cuốn niên giám của Trường Hải quân, ông Jean Martin đã từ trần vào tháng 6 vừa rồi. Sổ niên giám xuất bản tháng 3, lúc đó ông còn sống nên tôi không biết. »

Thất vọng não nề! Cứ tưởng số mình hên, không ngờ cái số đó lại còn trêu ngươi cho mình hy vọng  tới phút chót! Thế là tôi sẽ không khi nào được nghe chính miệng ông Jean Martin này nói ra cho tôi biết ông có phải cha tôi hay không!

Nhưng chắc con của ông có thể cho tôi biết điều đó, ít ra họ cũng có thể cho biết là cha mình có mặt ở Đông Dương năm 1943 hay không chứ!

*****

Tháng 11 – 2006.

Không thể chịu thua dễ dàng như vậy được!

Tôi quay trở lại con đường bỏ dở hôm trước, con đường tìm trong sổ điện thoại trên Internet. Lần này tôi tìm tên con gái của ông Jean Martin là Régine, vì tôi nghĩ đây là một tên ít thông dụng, nên số người trùng tên sẽ giới hạn hơn nhiều so với Jean hoặc Paul. Cũng bắt đầu từ Paris, mã số 75, rồi các tỉnh quanh Paris. Đúng như dự đoán, tổng cộng chỉ có chưa đến hai chục tên như thế trong cả vùng Ile de France.

Tôi bắt đầu gọi điện thoại, trong lòng rất áy náy vì có cảm tưởng mình làm phiền người ta. Ngoài ra tôi còn có tính bẩm sinh là nhút nhát, hồi nhỏ mở mồm không ra, nói năng lí nhí. Bây giờ thì đã đỡ nhiểu rồi, vì suốt đời phải lên bục giảng dạy, phải nói năng trước công chúng, nhưng khi phải gọi điện thoại cho  một người xa lạ để hỏi « Tôi xin lỗi, bà hay cô có phải con của ông Jean Martin ngày xưa có sống ở Đông Dương không ? » thì cũng phải mạnh miệng lắm, nhất là mình đang hỏi một ngưởi đàn bà, một câu hỏi rất tọcmạch…

Nhưng tôi lại gặp hên. Tất cả những người trả lời tôi đều không lộ vẻ gì là khó chịu, chỉ trả lời là  không phải, rồi tôi xin lỗi đã làm phiền, thế thôi.Và lại càng hên hơn nữa khi đã có 10 người trả lời «không phải» người thứ 11 trả lời «phải»!

Khó mà diễn tả được nỗi vui mừng của tôi khi nghe một tiếng đơn giản «phải» như thế! Tôi quá hên trong việc này, nhất là sau khi nói chuyện mới biết bà Régine không lấy chồng nên vẫn còn giữ họ  Martin, nếu không thì đổi ra họ chồng làm sao tôi tìm ra trong sổ điện thoại được! Bà là giáo sư một trường lớn ởParis.

Tôi không dám nói là mình đi tìm cha, phải nói trớ ra là bố mẹ tôi ngày xưa quen thân với ông Jean Martin hồi còn ở Đông Dương, sau này mất liên lạc, nay muốn tìm lại tung tích. Bà xác nhận là ông cụ thân sinh ra bà mất đột ngột hồi tháng 6, đang khỏe khoắn không bệnh tật gì, và nay yên nghỉ trong một nghĩa trang trong vùng Provence là nơi ông sống từ khi về hưu. Bà cũng xác nhận là ông nội của bà là bác sĩ quân y, phục vụ tại Đông Dương rất lâu. Ba của bà qua làm việc bên Đông Dương trong ngành Hải quân từ 1949, làm đám cưới với mẹ của bà cũng ở Đông Dương năm 1951, và bà sinh ra tại đấy năm 1952.

Nhưng điều quan trọng nhất mà tôi muốn biết: ba của bà có qua Đông Dương thăm ông nội của bà năm 1943 hay không, thì bà không biết. Bà chưa khi nào nghe ông nói đến chuyện này cả. « Tôi ra đời năm 1952, chuyện ông hỏi xảy ra 9 năm trước, tôi không biết. Ngay cả mẹ tôi cũng chỉ quen biết cha tôi  từ năm 1950, mẹ tôi cũng không nghe nói chuyện này. Cũng có thể nhưng ông không kể lại thì làm sao biết được! »

Bà nói chuyện với tôi khá lâu qua điện thoại, tôi cũng không ngờ một người hoàn toàn xa lạ chịu khó tiếp chuyện tôi với một giọng điệu ân cần như thế.

Đúng là tôi quá hên. Nhưng vẫn chưa hên đến độ biết chắc ông Jean Martin này có phải cha mình hay không!

*****

Tháng 12-2006.

Một nghĩa trang nhỏ của một thị xã nhỏ trong vùng Provence miền nam nước Pháp. Nghĩa trang này cũng như bao nhiêu nghĩa trang khác trên đất Pháp này, với nhưng cây thánh giá to nhỏ đủ kiểu dựng trên những ngôi mộ cũng đủ kiểu không kém. Tất cả toát ra vẻ được chăm sóc kỹ lưỡng, ngay cả những ngôi mộ đã rêu phong.

Nếu là mùa hè thì tiếng ve sầu trên các cây tùng tháp bút dưới ánh nắng ấm cũng đã làm cho khung cảnh nghĩa trang này không đến nỗi buồn thảm như thế này. Nhưng hôm nay là một buổi sáng mùa đông, ánh nắng yếu ớt chưa đủ làm tan giá những hạt sương còn đọng đông cứng trên phiến đá có ghi hàng  chữ

« Jean Martin 1921-2006 ».

Tôi đứng lặng trước ngôi mộ còn mới. Thầm đọc một câu kinh.

Và tự hỏi, không biết người nằm yên nghỉ nơi này có phải cha mình hay không…

(còn tiếp)

Phạm Ngọc Lân

Ghi Chú :

(1) Trường Hải Quân Pháp chính thức được thành lập năm 1830 ở Brest, vùng Bretagne của Pháp. Đây là một trường nổi tiếng, đào tạo sĩ quan hải quân là chính, nhưng cũng đào tạo tất cả các cấp và các ngành của hải quân.

Tháng 6 năm 1940, nước Pháp bị Đức Quốc Xã xâm lăng, khống chống cự nổi, Thống chế Pétain cầm đầu chính phủ đành phải ký hiêp định đình chiến với Đức, phải cắt phân nửa phía bắc của nước Pháp và tất cả vùng đất dọc bờ biển Đại Tây  Dương cho Đức. Chính phủ đang ở thủ đô Paris phải dời vể thành phố Vichy, tất cả cơ quan quân sự nằm trong vùng Đức chiếm đóng phải dọn về phần đất còn lại của Pháp ở phía nam. Trường Hải Quân nằm trên bờ Đại Tây Dương phải « sơ tán » đi nhiều nơi, qua Anh (theo tướng De Gaulle lúc đó qua Anh dựa vào thủ tướng Churchill để tổ chức kháng chiến), qua Bắc  Phi (khi ấy còn là thuộc địa của Pháp) và về Toulon trên bờ Địa Trung Hải. Nên kỳ nhập học năm 1941, ông Jean Martin không học ở Brest mà ởToulon.

Đến cuối năm 1942, quân Đồng Minh bắt đầu phản công mạnh, quân Đức tràn xuống vùng đất còn lại của Pháp, Trường Hải quân ở Toulon phải tạm thời giải tán, các khóa sinh được « nghỉ đình chiến dài hạn » là vì vậy.

Cũng nên biết là một số sĩ quan hải quân của Việt Nam Cộng Hòa đã từng được đào tạo tại Trường Hải Quân của Pháp ở Brest như : Hải Quân Đại Tá Trịnh Quang Xuân (khóa 1953, gọi là khóa 2-Brest), Hải Quân Trung Tá Trần Văn Sơn (khóa 1955 tức khóa 4-Brest), giáo sư Nguyễn Tiến Ích (khóa 1955, cũng tốt nghiệp MIT của Mỹ), giáo sư Lê Triệu Đẩu (khoá 1954), giáo sư Nguyễn Đức Vân (khóa 1952 tức khóa 1-Brest), v.v… Các sĩ quan Hải quân Việt Nam Cộng Hòa chỉ có 4 khóa học tại trường Hải quân Brest mà thôi.

(2) Niên giám điện thoại của Pháp ngày xưa có một phần giấy trắng (pages blanches) in số điện thoại và địa chỉ của tư nhân và một phần giấy màu vàng (pages jaunes) dành cho cơ sở thương mại.

(3) Ba câu đầu của bài thơ « Mùa Thu Paris » của Cung Trầm Tưởng, Phạm Duy phổ nhạc.

(4) Trong Hải quân Pháp, cấp bậc của ông này là « Contre-amiral », Tướng hai sao, thời Việt Nam Cộng Hòa gọi là « Đề  đốc ». Đây là cấp bậc tướng thấp nhất (không có Tướng 1 sao trong quân đội Pháp) sau đó là Vice-amiral (3 sao),  Vice-amiral

d’escadre (4 sao) và Amiral (5 sao). Nhưng khi xưng hô thì tất cả đều được gọi là « Amiral » tiếng Việt là « Đô đốc ». Ngày xưa trong triều đình Việt Nam, hai từ « Đô đốc » và « Đề đốc » là những chức vụ trong quân đội, không phải là những chức vụ của Hải quân.

Thêm bình luận

Để gởi lời bình đi các bạn ghép hình vào đúng khuôn ở dưới, rồi bấm "GỞI" thì lời bình sẽ đến tay admin. Mời các bạn thoải mái viết còm.



Các bạn kết hợp hình cho ăn khớp vơi hình hiển thị

Bạn đọc hiện có

Đang có 227 khách và thành viên đang online

Thống kê bạn đọc

Hôm nayHôm nay3656
Hôm quaHôm qua7256
US
UNITED STATES
US

Luật rừng trong rừng luật

Tìm bài và tác giả

Đón Nhận Ủng Hộ

Cảm ơn các bạn đã tín nhiệm. Chúng tôi cần sự giúp đỡ của các bạn dù khiềm tốn để tiếp tục phục vụ các bạn hữu hiệu hơn.

Số tiền:

Hồi ký trùm gián điệp Đông Đức Markus Wolf