Hai khái niệm về Tự do của Isaiah Berlin (Phan Bá Việt)

Chọn cỡ chữ

isaiah_berlin“...Cái gì quan trọng hơn, tự do lăng nhục hay quyền không bị lăng nhục? Berlin đã có những lập luận thú vị, chẳng hạn như dựa vào ý tưởng một cá nhân là do xã hội quy định vì vậy khái niệm lăng nhục cũng phải do xã hội quy định...”

 

 

freedom_from02

Isaiah Berlin (1909-1997) là một triết gia được biết đến như là nhà tư tưởng tự do và đa nguyên. Trong bản tiểu luận Hai khái niệm về tự do (Twoo concepts of liberty) - mà ông đọc khi nhận chức tại Đại học Oxford ngày 31 tháng 10 năm 1958, đã được khán giả đứng lên vỗ tay - ông đã phân biệt giữa tự do động (positive) và tự do tĩnh (negative) và từ đó đã có ảnh hưởng lớn trong suy nghĩ về tự do và bình đẳng.

Berlin cho là tự do động và tự do tĩnh là hai khái niệm đối nghịch nhau.  Khái niệm động cho rằng tự do chỉ đạt được khi một tập thể (giáo hội hay quốc gia) giải phóng con người khỏi những mặt xấu nhất của nó. Khái niệm này theo Berlin có xu hướng đưa đến toàn trị. Khái niệm tĩnh lí luận rằng tự do chỉ đạt được nếu các cá nhân có được tự do tối đa từ các yếu tố bên ngoài. Ngoài ra trong sách Hai khái niệm về tự do, Berlin cũng lập luận chống lại chủ nghĩa duy lí của thời Khai sáng, bởi vì chủ nghĩa duy lí không dự liệu tính cách đa nguyên của các giá trị.

Trong bài viết này tôi chú trọng đến phần đầu của cuốn sách là phần Berlin giải thích về hai khái niệm. Lí do tôi không bàn về phần sau vì phần này không chú trọng về hai khái niệm và vì vậy bài sẽ quá dài.

Một ghi nhận khác liên quan đế tự do: Tự do của chúng ta giới hạn tới đâu? Trong nhiều trường hợp chúng ta không có tự do trong thiên nhiên, chẳng hạn như thuyết định mệnh hay ý muốn tự do, hoặc những giới hạn tự do, do chúng ta không có cánh để bay, hoặc những cản trở tự do do những bức tường và các cánh cửa. Những sự việc như tường và cửa chỉ là những dụng cụ của con người và tự do bàn ở đây là tự do chính trị có liên quan đến các hành động của con người và những ý định của con người.

Tự do tĩnh

Đầu tiên Berlin xem xét khái niệm tự do tĩnh. Theo Berlin tự do tĩnh là một khái niệm có liên hệ tới câu trả lời cho câu hỏi: ''Khu vực mà chủ thể (một người hay một nhóm người) được trao cho hay phải được trao cho để làm hoặc để hiện hữu đúng theo khả năng của mình, không có sự can thiệp của các người khác, là gì?'' Nói ngắn gọn đó là khu vực có tự do.  Khu vực không bị người khác can thiệp càng lớn thì tự do càng nhiều. Từ đó xuất hiện cái được gọi là ''khu vực riêng tư" mà trong đó một người được tự do. Như vậy câu hỏi mà triết học đặt ra trong thực tế chỉ nằm trong lãnh vực này.

Berlin nói đến hai trào lưu trong triết học. Các triết gia như John Locke va Jonh Stuart Mill có một cái nhìn lạc quan về con người và tin rằng sự hoà hợp xã hội và sự tiến bộ có thể cùng tồn tại với việc dành một khu vực lớn cho đời sống cá nhân, trong đó nhà nước không can thiệp vào.  Những nhà tư tưởng bảo thủ hay phản động, dẫn đầu là Thomas Hobbes, tập trung vào việc ngăn chặn con người tiêu diệt lẫn nhau. Vì vậy Hobbes cho rằng trong trạng thái tự nhiên, không có quy tắc và luật lệ, hằng ngày mọi người đều phải lo sợ cho cuộc sống của mình. Vì vậy những nhà tư tưởng này đòi hỏi phải có một chính quyền mạnh. Dù vậy giữa hai trào lưu này vẫn có một sự đồng thuận là một phần của đời sống phải được độc lập với việc kiểm soát của xã hội.

Nhà tự do Benjamin Constant đòi hỏi ít nhất là phải có tự do tôn giáo, tư tưởng, phát biểu và tài sản phải luôn được bảo đảm.

Berlin có ba ghi chú về khái niệm tự do của Mill:

1- Theo Berlin, trước hết Mill gộp hai khái niệm lại với nhau, cụ thể là: 1) mọi cưỡng bức đều có thể thực hiện cho tới khi những cưỡng bức ấy làm người ta thất vọng, nếu tiếp tục như vậy sẽ làm tình hình xấu đi và việc không can thiệp lại là việc tốt và 2) chỉ có tự do thì mới có thể tìm ra được sự thật, đồng thời xã hội cũng có thể phát triển trong một xã hội có tổ chức chặt chẽ.

2-  Ngoài ra học thuyết tự do cổ vũ quyền tự do dân sự và quyền cá nhân, xuất phát từ hình ảnh của con người cá nhân, tương đối mới mẻ: quyền cá nhân không thấy có trong các nền văn minh như La Mã, Hy lạp, Do Thái, Trung quốc và các nền văn minh khác và khái niệm về quyền riêng tư như vậy không xuất hiện trước thời Phục Hưng hay Cải cách.

3- Sau cùng khái niệm tự do tĩnh hoàn toàn không nói đến câu hỏi ai cầm quyền, hay đó là chế độ chuyên quyền, chế độ dân chủ, chế độ cai trị bởi tầng lớp quý tộc hoặc một cái gì tương tự: không có liên hệ phải có giữa tự do cá nhân và việc điều hành dân chủ.

Tự do động

Berlin cũng bàn về câu hỏi ''Ai cai trị tôi'' trong thảo luận về tự do động. Như Berlin nói: ước muốn làm chủ bản thân mình hay tham gia vào tiến trình của việc quản trị đời sống của mình chắc cũng sâu sắc như ước muốn có một không gian để mình được tự do hành động, và có lẽ ước muốn này đã có từ ngàn xưa. Đó là khái niệm động của tự do, không phải tự do của, mà là tự do đến, cụ thể là đến việc có một lối sống được quy định sẵn, mà những người ủng hộ khái niệm tự do tĩnh cho rằng cái đó chỉ là một chiêu bài quyến rũ của chế độ độc tài tàn ác.

Theo Berlin, khái niệm tự do động phát sinh từ câu trả lời của câu hỏi: ''Cái gì, hoặc ai, là nguồn gốc của việc thống trị hay can thiệp có quyền quyết định người này làm việc này mà không phải việc khác, hoặc như thế này mà không như thế khác?''. Nói ngắn gọn đó là nguồn gốc của sự can thiệp. Ý nghĩa của tự do này xuất phát từ ước muốn của cá nhân muốn làm chủ chính mình. Ước muốn này đã nhanh chóng trở thành kim chỉ nam cho cuộc sống riêng tư: Ai nói ''tôi làm chủ bản thân tôi'', như những đồ đệ của Platon và Hegel, thì có thể nói người ấy đúng là nô lệ cho bản chất của mình.

Theo thời gian, đã có sự phân biệt giữa một phía là tự làm chủ và phía khác là có cái gì đó xuất phát từ nội tâm thấy là mình bị trói buộc. Một tự nhiên trên cao, tinh thần, lí trí, ý muốn, sự sáng suốt đối nghịch với một tự nhiên dưới thấp, cảm xúc không kiểm soát được, xác thịt, ham muốn. Cũng có sự phân biệt giữa bản thể thực và bản thể cá nhân mà bản thể thực được hiểu là toàn bộ xã hội trong đó cá nhân chỉ là một phần của toàn bộ. Muốn thảo luận với Berlin thì thực thể này phải được hiểu là bản thể thực mà các ''thành viên ngoan cố'' của nó muốn áp đặt ''ý muốn tập thể'' của mình. Điểu này biện minh cho việc cưỡng chế được áp đặt lên các người khác để đưa họ lên một mức tự do cao hơn. Sau cùng chúng ta biết là việc này có thể và đôi khi biện minh cho việc nhân danh mục đích (như công bằng hay y tế công cộng) để ép buộc một cái gì đó mà nếu người ta đủ sáng suốt sẽ tự làm, nhưng vì mù, vì ngu dốt hoặc tính tình không bình thường nên không làm được. Tôi có thể lập luận rằng một người nào đó có đầu óc đần độn do đó họ không ở trong tình trạng sáng suốt nên đã chống đối không chịu làm và gọi thực thể này là bản thể thực của họ, một bản thể khiếm khuyết mà cụ thể là họ có lẽ chỉ biết đôi chút hoặc không biết gì.

Bây giờ tôi giả dụ là chỉ cần để ý tới ý muốn của bản thể thực này thì vì nhu cầu của bản thể thực ấy của họ tôi có thể từ chối những mong muốn thực sự của nhiều người và xã hội để nhờ vậy con người sẽ thực sự được tự do. Bản thể thực, hãy giải phóng!

Từ đó Berlin suy luận rằng các khái niệm về tự do có nguồn gốc từ các quan điểm quy định thế nào là một bản thể, một cá thể, một con người. Bao lâu còn vận dụng định nghĩa về con người thì tự do còn có bấy nhiêu ý nghĩa mà người vận dụng mong muốn.

Vấn đề phân chia thành hai bản thể đưa đến hai hình thái:

1- Hình thái thứ nhất, tự phủ nhận, đến từ ý tưởng là con người tự giải phóng khỏi những ước muốn mà họ biết là không thể thực hiện được. Đây là cách truyền thống mà các nhà khổ hạnh, các nhà ẩn dật, khắc kỉ, Phật tử và những người của nhiều tôn giáo khác tự giải phóng mình. Đó là một bước đến gần chủ thuyết của Immanuel Kant: tự do không phải là việc loại bỏ các ước muốn mà là việc chống lại và làm chủ được các ước muốn ấy. Hoặc như Jean-Jacques Rousseau nói: tự do là tuân thủ theo luật pháp mà chúng ta đã tự quy định; tự do thực sự là người có thể ước muốn cái mính có thể thực hiện và làm được cái mà mình ước muốn. Nhưng nếu tự do được định nghĩa như là khả năng để làm cái mình muốn làm và người ta nhận ra rằng họ không hoặc khó có thể làm được, họ cần điều chỉnh lại ước muốn để được tự do. Hậu quả là khi có sự hiện diện của một bạo chúa, những thần dân của ông có thể cảm thấy mình tự do nhưng tuyệt đối không phải là tự do về chính trị.

2- Hình thái thứ hai, tự thực hiện, đến từ chủ nghĩa duy lí. Từ cái người ta biết, người ta hiểu được sự cần thiết của lí trí, nhưng nếu người ta không muốn là sinh vật có lí trí, thì sự việc sẽ khác như nó là. Giả định là kiến thức được giải phóng để một người có được sự hiểu biết thấu đáo về vai trò của mình trong một thế giới duy lí: việc hiểu về thế giới đồng nghĩa với việc được tự do. Kiến thức được giải phóng không phải để nó tạo ra cơ hội mà để nó ngăn cản chúng ta theo đuổi những việc không có thể làm được và do đó không làm chúng ta bị thất vọng. Nhưng theo Berlin, ai không hiểu được sự tương tác biện chứng giữa các cá nhân, các nhóm và thiên nhiên, sẽ bị rơi vào một cạm bẫy nguy hiểm: ý nghĩ cho rằng bản chất con người là tĩnh và cuối cùng những người lí trí sẽ có mong muốn và nhu cầu giống nhau. Một nhà lập pháp khôn ngoan với sự trợ giúp của một nền giáo dục và luật pháp thích hợp, trên nguyên tắc, luôn luôn sẽ có thể kiến tạo được một xã hội hoàn toàn hài hoà. Đây là học thuyết giải phóng nhờ lí trí. 

Phê phán chống lại nhà nước thuần lí

Một nhà nước hợp lí là một nhà nước hài hoà dựa trên lí trí. Các phương pháp hợp li bảo đảm rằng mọi người đều sẵn sàng giao tiếp với nhau bằng lí trí, hiểu biết và sáng suốt. Nếu vũ trụ được thống trị bởi li trí thì không cần đến cưỡng bức; việc theo đuổi quyền lực tự nó là một dấu hiệu của sự phi lí; tự do là tự làm chủ mình: rằng tôi làm chủ chính bản thân tôi. Mỗi người có một cá tính riêng, những khả năng, nguyện vọng và mục tiêu của mình. Nếu tôi hiểu được những mục tiêu ấy và bản chất của con người và biết được họ quan hệ với nhau thế nào tôi có thể thấy được họ lí trí tới đâu. Khi nào mọi người đều biết vai trò của mình và diễn xuất theo như lí trí mách bảo thì không có xung đột. Tự do chính trị là khả năng được làm điều chúng ta nên làm. Tự do không phải là tự do làm những điều không hợp lí, ngu xuẩn hoặc sai. Kant nói rằng tự do thật chỉ có khi cá nhân từ bỏ hoàn toàn loại tự do rừng rú, vô luật pháp của mình để tìm lại cái còn nguyên vẹn trong tình trạng phụ thuộc luật pháp. Tuy nhiên lí tưởng về một nhà nước dựa trên lí trí còn có thiếu sót khi người ta nghĩ rằng giáo dục có tính cách bắt buộc vì người ta không thể trông đợi các trẻ em hiểu được tại sao lại bắt các em phải đi học. Nguyên tắc này là: giáo dục là một loại cưỡng bức. Nếu việc này được cho phép thì việc cưỡng bức cũng có thể được áp dụng trong nhiều trường hợp khác nếu nó cũng mang tính giáo dục. Cưỡng bức vì vậy vẫn chưa có thể biến mất. Nếu người ta được thực hiện điều này thì cuối cùng theo cách lí luận như đã mô tả trong bài này ở phần trên, quan điểm duy lí kết cục sẽ đưa đến một chế độ độc tài toàn trị: chúng tôi biết chân lí vì vậy người ta phải tuân theo những quy tắc mà chúng tôi đề ra để người ta cũng biết được chân lí.

Berlin mô tả rõ hơn trong một số chương nói về ước muốn không cần được tự do, nhưng phải được công nhận là người độc lập, với ý muốn riêng và toan tính hành xử theo ý muốn này. Ông cũng bàn về vấn đề nhà nước phải được tổ chức như thế nào để có tự do và theo truyền thống tự do thì những điều kiện gì phải có để một xã hội thực sự được gọi là tự do. Cuối cùng ông bàn về chủ nghĩa đa nguyên trong bối cảnh tự do.

Để suy nghĩ thêm

Từ những khái niệm của Berlin xuất hiện hàng loạt các vấn nạn cần suy nghĩ thêm. Như hiện nay lãnh vực tư đang là một đề tài tranh luận và lúc này thì tự do phát biểu ý kiến (đừng lẫn lộn với tự do có ý kiến) cũng đang được tranh cãi chung quanh những vấn đề như lăng nhục, như tự do tôn giáo. Cái gì quan trọng hơn, tự do lăng nhục hay quyền không bị lăng nhục? Berlin đã có những lập luận thú vị, chẳng hạn như dựa vào ý tưởng một cá nhân là do xã hội quy định vì vậy khái niệm lăng nhục cũng phải do xã hội quy định. Có phải lãnh vực tư là một lãnh vực cố định có một ranh giới rõ ràng, hay cũng có một đường ranh di động giống như tự do tôn giáo? Còn có điều gì để nói về việc tự do phát biểu trong một xã hội hậu hiện đại hoàn toàn, khi mà cái đó đang thực sự là một khái niệm trống rỗng: có lẽ cần có một điều kiện cho việc tự do phát biểu ý kiến làm cái khung để ý kiến của một người khác trở thành có ý nghĩa và được đánh giá cặn kẽ?

Berlin đã tự phê phán ý tưởng là sẽ có thể có một xã hội lí tưởng. Như chúng ta thấy những người Thiên chúa giáo mong muốn có một thiên đường trên trời. Điều đó là thế nào vậy? Thật quá dễ để lập luận là ''chúng ta đang sống trong một thế giới bị đổ vỡ''. Cuối cùng có lẽ đây là phiên bản trừu tượng của câu trả lời, nhưng một nhà tư tưởng có tinh thần phê phán sẽ không hài lòng với lập luận này, vì đó không phải là câu trả lời cho câu hỏi. Có lẽ vấn đề hoàn toàn không nằm ở việc thế giới bị đổ vỡ, mà Thiên chúa thì giấu mặt và loài người, nếu đã một lần nhận biết Thiên Chúa, không cưỡng bức sống chung hiệp nhất để sự đa đạng của các sáng tạo của Thiên Chúa luôn được duy trì.

Tự do Thiên chúa giáo thực sự là thế nào? Có phải nó không giống như việc tư do làm điều gì tốt? Khả năng không làm điều ác và chọn điều tốt, nhưng khi dưới ách thống trị của các thế lực ác người ta có thể chọn điều ác không? Hay là tư tưởng Thiên chúa giáo chịu ảnh hưởng của cái nhìn phóng khoáng chú trọng quá nhiều tới quyền tự do cá nhân? Đến mức độ nào thì tự do Thiên chúa giáo thực sự là tự do như cái nhìn của xã hội hiện nay?

Phần kết luận

Như thường lệ, trong triết học, những câu trả lời lại luôn đặt ra nhiều câu hỏi khác. Điều đó không có gì là xấu. Bạn luôn có thể tham vấn hoặc tìm đọc thêm để tìm cho mình câu trả lời.

29/09/2016
Phan Bá Việt

Nguồn tham khảo:

Tôi đã dùng tài liệu dịch tiếng Hà Lan ''Twee opvatting van vrijheid'' của Isaiah Berlin, ISBN 90-5352-247-6 và một số trang của Wikipedia tiếng Anh và tiếng Hà lan để soạn bản tóm lược này.

Nếu muốn đào sâu chủ đề này có thể đọc tiểu thuyết ''1984'' của văn hào Anh, George Orwell, để có trải nghiệm về tự do. Hai khái niệm tư do động và tĩnh được mô tả kĩ trong tập truyện này.

Thêm bình luận

Để gởi lời bình đi các bạn ghép hình vào đúng khuôn ở dưới, rồi bấm "GỞI" thì lời bình sẽ đến tay admin. Mời các bạn thoải mái viết còm.



Các bạn kết hợp hình cho ăn khớp vơi hình hiển thị

Tìm bài và tác giả

Thông báo chấm dứt cộng tác với ông Nguyễn Gia Kiểng

logo_taphop_2016"...Tiếp theo “Tuyên bố bất tín nhiệm Thường trực THDCĐN nhiệm kỳ 2014 -2016”ngày 01/12/2016, chúng tôi chấm dứt mọi sự cộng tác với ông Nguyễn Gia Kiểng (cựu Thường trực Ban lãnh đạo THDCĐN) kể từ ngày hôm nay..."

Đọc tiếp


 

Hồi ký trùm gián điệp Đông Đức Markus Wolf