Lệnh cấm hay lời quảng cáo ngầm? - Bùi Tín

Lượt xem: 428

“…Ngài Cục trưởng ra lệnh đình chỉ phát hành cuốn «Mối chúa» đã vô tình tôn cao giá trị của tác phẩm hay là ông cố tình có thiện chí quảng cáo ngầm cho tác phẩm này…”

 

Một số báo lề phải trong nước mới đây có đăng công văn của Cục trưởng Cục xuất bản in và phát hành thuộc Bộ Thông tin truyền thông gửi Hội nhà văn Hà Nội và nhà xuất bản Nhã Nam về đình chỉ phát hành tác phẩm «Mối chúa» của tác giả Đãng Khấu đã được in xong.

Đãng Khấu là tên mới của nhà văn Tạ Duy Anh khá nổi tiếng trước đây với các tác phẩm «Lão khổ», «Thiên thần sám hối», «Sinh ra để chết», «Bước qua lời nguyền», nói lên nỗi đau khổ nhọc nhằn bế tắc của nông dân Việt Nam thấp cổ bé họng bị tầng lớp cường hào mới cướp đất, hà hiếp, bi đát hơn cả thời phong kiến, thực dân cũ.

Đãng chữ hán nghĩa là trừ hại. Khấu nghĩa là bọn cướp, như thảo khấu. Một tên mang ý nghĩa là lên tiếng để tố cáo vạch mặt bọn cường hào mới, bênh vực bà con nông dân lương thiện.

Nội dung cuốn sách ra sao mà bị đình chỉ phát hành?

Mời các bạn đọc kỹ công văn nói trên của Cục trưởng Đặng Văn Hóa là có thể hiểu nội dung của cuốn sách. Công văn có đoạn:

… «Nội dung cuốn sách phản ánh những vấn đề nổi cộm trong xã hội hiện nay.

Tác giả vạch trần những tiêu cực và bất công trong xã hội.

Tuy nhiên, phần lớn các nhân vật trong tác phẩm từ thấp lên cao đều đen tối, vô vọng, đau đớn.

Qua lời kể của các nhân vật, hiện lên những thế lực hắc ám, một xã hội hầu như được chỉ huy bởi những kẻ ngu ngốc, tham lam, thủ đoạn.

Toàn bộ hệ thống bộ máy chính quyền bộc lộ sự tàn nhẫn vô đạo, đàn áp nông dân, giết hại lẫn nhau, giết người chống đối chỉ vì tiền.

Một số chi tiết được viết với giọng điệu giễu nhại sâu cay, miêu tả có phần tô đậm và có tính chất khái quát khiến cho hiện thực trở nên đen tối, u ám …».

… «Các trang viết về chính quyền cưỡng chế nông dân trong việc thực hiện các dự án được miêu tả một cách cường điệu, coi đó như 2 lực lượng thù địch, chính quyền đàn áp như một trận đánh địch với vũ khí, lực lượng bí mật …».

Vẫn chưa hết, sau mỗi đọan công văn còn chỉ ra những trang sách đáng chú ý nhất, đó là những trang 38, 43, 74, 129, 140, 141, 158, 161, 173, 198, 251 và các trang 113, 118, 124, 167, 168, 207, 209, 220 và 248.

Trong công văn không có một đọan nào phân tích, phê phán tác giả phạm những lầm lỗi sai phạm ra sao, ở những chỗ nào, có nguy hại gì cho độc giả để dẫn đến việc phải ra lệnh đình chỉ phát hành, không cho tác phẩm đã in đến tay bạn đọc. Đây là một điều lạ!

Thành ra xét cho cùng bản công văn chỉ có một tác dụng là kích thích tò mò của bạn đọc, làm cho nhiều bạn đọc thèm muốn thưởng thức tác phẩm hiếm có, thú vị này, khi mà tác phẩm có thể truyền bá nhanh nhậy, nhân lên nhanh chóng, phổ biến đầy đủ rộng rãi trên các mạng điện tử tự do, internet, Facebook, Youtube… và in thành sách ở nước ngoài.

Một số bạn đã được đọc tác phẩm này của Tạ Duy Anh cho biết đây là tác phẩm rất hay, độc đáo, kể về đỉển hình một tên tỉnh trưởng kiêm bí thư tỉnh ủy cùng bọn cường hào mới cướp đất của nông dân ra sao rồi đàn áp những người chống đối ra sao với một văn phong quen thuộc của Tạ Duy Anh, giản dị, sống động, chân thực, lôi cuốn.

Tít của cuốn sách «Mối chúa» muốn nhắn nhủ bạn đọc và xã hội rằng mối là loại sinh vật cực kỳ nguy hiểm, các ổ mối đều có những con mối chúa sinh sôi vô hạn độ, có thể đục khoét từng mảng tường, nền nhà, từng mảng đê kiên cố, gây nên những tổn thất ghê gớm. Muốn trừ khử bọn phá họai này cần phải tận diệt các ổ mối chúa, cũng như muốn diệt bọn tham nhũng ăn cướp tiền của đất đai của dân thì phải tận diệt bọn trùm tham nhũng lớn nhất, bọn cầm quyền độc đoán hèn với giặc, ác với dân, ăn không từ một thứ gì, đang ngồi trên pháp luật đục khóet và hành hạ nông dân và toàn thể nhân dân ta.

Ngài Cục trưởng ra lệnh đình chỉ phát hành cuốn «Mối chúa» đã vô tình tôn cao giá trị của tác phẩm hay là ông cố tình có thiện chí quảng cáo ngầm cho tác phẩm này, làm cho tác phẩm thêm giá trị, kích thích sự tò mò tìm đọc của hàng triệu bạn đọc ở khắp nơi?

Tôi còn nhớ một bài báo rất hay, rất độc, cũng rất độc đáo của nhà văn Trần Huy Quang mang đầu đề «Linh nghiệm» hồi 1980 được đăng lọt lưới trên tuần báo Văn nghệ của Hội nhà văn Việt Nam, bị cấm, thu hồi, nhưng càng được phổ biến rộng rãi, với chữ mở đầu bài là tên nhân vật: «H…inh», đọc xong mới vỡ lẽ đoán ra đó là tên ông Hồ Chí Minh rút gọn. Một bài báo kín đáo, sâu xa, thú vị cực hiếm trên văn đàn.

Bùi Tín

Nguồn : voatiengviet.com

Đọc thêm:

Linh Nghiệm (Trần Huy Quang)

H…INH là con trai thứ ba trong một gia đình nông dân không nghèo nhưng cũng không giàu có gì lắm. Cha anh ta có đỗ đạt, đã từng làm quan, nhưng tính khí thất thường, lòng đầy ham hố nên quan trên không mặn mà gì nên đã bỏ quan, khi đi dạy ở chốn kinh kỳ, khi ngồi bốc thuốc ở vùng sơn cước.

Hinh thừa hưởng ở dòng họ và khí chất của vùng chôn rau cắt rốn cái nết cơ bản cần cho kẻ có hoài bão tham chính là tính đa mưu túc kế, lòng dạ thật không bao giờ lộ ra mặt, bạn bè cùng lứa không ai dám kết thân làm bằng hữu. Hinh sáng dạ, lại có chí, học đâu biết đó, hai mươi tuổi làm thơ chữ Hán, đọc Rút-xô, Mông-tét-ski-ơ ... bằng nguyên bản nhưng Hinh chán học, chỉ nhăm nhăm một dạ xuất ngoại. Đạo học không có đường tắt, mà lập thân bằng con đường học vấn thì mù mịt, xa vời quá. Bằng văn chương thì chỉ khi thế cùng lực tận, bất đắc dĩ mà thôi.

Hàng ngày Hinh sống như người nuốt phải quả chùy gai vào bụng, buốt nhói, nhăn nhó, bồn chồn, vừa ngồi đã đứng lên, mới ngủ đã vùng dậy, trán nhăn tối, mắt xa xăm. Như đang phải lòng một tiểu thư khuê các ...

Nhưng Hinh đâu phải là người dại dột, không bao giờ để phí chí khí, sức lực vào chuyện đàn bà. Vớ vẩn. Chiếm mười trái tim đàn bà đâu có khó nhưng một trái tim nhân loại thì phải vượt trùng dương. Hinh ngước cái nhìn mong đợi lên bầu trời, hoài vọng bóng dáng một con tàu, tìm kiếm một phép thần thông, mong đợi một dấu vết của cõi Thiện hoặc hơi hướng của miền Cực lạc để đưa về cho chúng sinh. Tháng ngày như sợi chỉ căng mà lòng khao khát làm trai hải hồ, khắc khoải mong một phút được quỳ dưới chân bậc Chí Thánh và nói : "Ơn Người, Người là nguồn ánh sáng dẫn dắt chúng con ... Lũ chúng sinh con khao khát được gặp Người ..." Thế rồi như sự linh nghiệm của lời nguyện cầu, một đêm giông tố bão bùng, đất trời như trong cơn đau sinh nở, Hinh đã lên chín tầng Thánh địa để được gặp đấng Chí Linh.

Bắt đầu là một ngọn nến, ánh lửa dịu ấm tỏa một quầng sáng hình nón. Vầng sáng ấy tỏa hào quang, tia hào quang không thẳng mà có hình gấp khúc. Cuối cùng ở trung tâm vầng sáng ấy hiện ra khuôn mặt kiều diễm của một cô gái tóc vàng.

- Kính thưa ... Hinh bàng hoàng thốt lên.

- Không phải! Cô gái mỉm cười độ lượng. Tôi chỉ là sứ giả của đấng Lập Đạo. Anh có lời thỉnh cầu gì gấp lắm không ? Người đang bận, việc hành đạo mới chỉ ở bước khởi đầu ...

- Kính thưa, tôi là người của xứ sở Nhọc nhằn tăm tối ...

- Thôi anh không cần phải nói, chàng trai ạ, người xứ Nhọc nhằn có khát khao ánh sáng thì việc hành đạo mới càng được dễ dàng. Đây anh cầm lấy, theo đạo thư này, anh sẽ tìm được chân lý.

Vị sứ giả trao cho Hinh đạo thư quý giá ấy rồi nhỏ dần, nhỏ dần cho đến khi chỉ còn như một cái chấm chính giữa vầng hào quang rồi biến mất giữa bao la. Hai tay đỡ cuốn sách trước trán, Hinh vẫn quỳ và thành kính đặt lên đó một cái hôn, rồi anh run run dở ra đọc.

"Hãy đi về phía Nam theo con đường một bên là cây và một bên là nước, cuối con đường có quán bia hơi và thịt chó, đừng vào chốn đam mê ấy và đi thật chậm. Dọc đường sẽ có người hỏi : "Có đi không ?" thì đừng đi. Đó cũng là người cần lao chứ không phải ma quỷ cám dỗ, nhưng phải đành từ chối. Đi tiếp sẽ gặp một ki-ốt sách báo nên rẽ trái, trước mặt đã là vườn hoa nhỏ. Bây giờ anh phải khom người xuống, đi chậm từng bước một, mắt nhìn xuống mặt đất để "tìm cái này". Cứ thế ... chỉ cần một lúc sau, anh sẽ có được thiên hạ ..."

Hinh ấp cuốn đạo thư vào ngực tức tưởi. "Trời ơi, bảo bối, bảo bối ..." Hinh sung sướng hét toáng lên. Tiếng anh vang rất to trong đêm và lúc ấy Hinh mới biết mình vừa qua một giấc mơ. Nhưng trời ơi, tại sao những điều anh nung nấu trong tâm can bấy lâu nay lại được giải đáp trong mơ. Anh sung sướng và cảm động đến mức nước mắt giàn giụa. Ôi chúng sinh nhọc nhằn và tăm tối của ta, bảo bối này sẽ soi sáng đường chúng ta đi ...

Sáng hôm sau, Hinh thành kính chuẩn bị lên đường. Quần áo tươm tất, mũ miện đàng hoàng. Trước nhà anh có một đại lộ chính Nam, có lẽ đúng là con đường này nên anh dần bước ra đi. Một bên cây và một bên nước, hay một bên rừng và một bên biển ? Anh cứ đi, qua vài đoạn phố nữa thì anh thấy mình đi đúng, con đường men theo cái hồ. Và giữa phố có hàng bia hơi thịt chó mà vài lần anh cũng đã bị cuốn vào đó. Ôi, sự linh nghiệm không sai một dấu phẩy. Đường phố trong veo, lui cui dăm chiếc xe đạp chở kẹo bánh, than tổ ong đi bỏ mối cho các hàng nước vỉa hè, lọc cọc đôi chiếc xích lô cà tàng đi tìm khách. Vài cô điếm vật vờ.

- Có đi không ? Một cô gái điếm rủ rê. Hinh nhớ đến giấc mơ mà thấy lạnh xương sống, trong mơ cũng ba chữ ấy. Đến cuối phố, Hinh thấy một ki-ốt sách báo thật, chủ quán vừa mở cửa. Tại sao có sự kỳ diệu thế này, khi tỉnh anh nào có biết chỗ này có một quán sách? Đi tiếp, gặp một ki-ốt sách báo nên rẽ trái, trước mặt đã là vườn hoa nhỏ. Hinh liền rẽ trái, đi một đoạn qua các cửa hàng bách hóa đã thấy vườn hoa Mùa Xuân. Kẻ hành đạo không chần chừ đắn đo, đi tới giữa vườn hoa, lòng như ngây ngất hơi men, một nửa muốn bay lên, một nửa muốn trì xuống. Mắt Hinh hoa lên, đâu Thiên Thần, đâu Địa Thánh, không biết con đang đứng giữa Địa đàng hay mặt đất. Rồi anh chợt tỉnh lại ... "Tìm cái này" là tìm cái gì, anh không hiểu nhưng không dám nghi ngờ lời vàng ngọc của đấng Tiên tri. Vườn hoa nằm cạnh đại lộ, lúc này đang vắng hoe, chỉ có mấy ông già tập thể dục muộn, dăm chàng thanh niên đá bóng và một tốp học sinh cấp ba sắp đi qua. Bây giờ anh phải khom người xuống, đi chậm từng bước một, mắt nhìn xuống mặt đất ... Hinh vừa cúi lom khom chăm chú tìm kiếm vừa lẩm nhẩm đọc. Anh như bị thôi miên, không biết mình đang tìm cái gì, nhưng anh cứ trung thành với lời chỉ giáo, người cúi lom khom, mắt dán xuống đất và từng bước một chậm rãi.

Những người qua đường lấy làm lạ ...

Bắt đầu là một nhóm học sinh cấp ba, mấy đứa con trai vốn hiếu kỳ, đi đến và tự hỏi, không biết ông kia tìm cái gì nhỉ? Chúng không thể tự giải đáp được.

- Anh ơi, anh tìm cái gì đấy?

Hinh mải mê không hề nhìn lên, chỉ buột miệng trả lời :

- Tìm cái này.

Đối với chúng, câu trả lời ấy, làm ngứa ngáy chân tay. Nhất định cha này mất nhẫn, dây chuyền hay hạt xoàn gì đó thôi, chúng mình mà vớ được thì hay lắm.

Thế là cả bọn, cặp sách dồn lại một đống, nhảy vào cuộc tìm kiếm. Khi cả một đám người bò ra sục sạo tìm kiếm thì sự lạ tăng lên hàng chục lần. Người đi qua vườn hoa không bao giờ hết, dân lang thang thất nghiệp, dân nhà quê bỏ ra thành phố kiếm cơm, đang đói rách hy vọng vớ được một chút may mắn, những người này đi đến và không thể không hỏi :

- Tìm cái gì đấy ?

Lần này thì tụi trẻ con đã mau miệng trả lời :

- Tìm cái này.

Câu này đối với người lớn làm ngứa ngáy đầu óc. Thế là họ bỏ cả gồng gánh, xe cộ, nhảy vào quảng trường. Hỏi tiếp đến ...

Bây giờ là dân xích lô, ba gác, dân ăn xin, trẻ mồ côi bán báo, dăm cô điếm, đám bụi đời móc túi nghe tin cũng tìm đến.

- Tìm cái gì đấy?

- Tìm cái này.

- Mả mẹ chúng nó, giấu như mèo giấu cứt. Nhất định là hạt xoàn, ru bi, có lẽ tối qua, tụi đào đá đỏ qua đây đánh nhau đổ ra bì đá đỏ không chừng. Mẹ chúng nó, ông mà biết trước, ông rào lại, ông đuổi tất. Ê, ông kia được một viên rồi hả, bắt nộp phạt chúng mày ...

Cứ thế ...

Và số người hy vọng có một chút no ấm bò lê trên vườn hoa để tìm vật báu, đến lúc này đã đông như một đàn kiến.

Hinh chợt nhận ra tiếng ồn của đám đông và anh ngạc nhiên đứng lên nhìn họ, hóa ra thiên hạ đã bu lại xung quanh mình. Một lúc sau anh sẽ có được thiên hạ ... Hinh sung sướng đến rơm rớm nước mắt và mãn nguyện ra về. Cái đám đông ấy cứ như dòng nước trong lòng sông, trôi đi chứ không cạn. Người đến trước, thất vọng ra về trước, người đến sau, thất vọng ra về sau. "Tìm cái này" là cái gì thì không ai biết nhưng cứ hy vọng có chút no ấm mờ mờ phía trước cũng đã hấp dẫn để họ trở thành một dòng nước.

Trưa.

Rồi chiều.

Và ... vẫn còn đám đông xúm xít giữa vườn hoa Mùa Xuân.

Trần Huy Quang - Báo Văn Nghệ ngày 4-7-1992.